Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Nhà văn Thái Bình 1945 – 2005



Nhà văn Trần Độ
Trần Độ, tên thật là Tạ Ngọc Phách, có các bút danh Trần Quốc Vinh, Chín Vinh, Cửu Long. Ông sinh năm 1923, mất năm 2002, quê làng Thư Điền, tổng An Bồi, huyện Trực Định (nay thuộc xã Tây Giang, huyện Tiền Hải). 


Ông tham gia cách mạng từ năm 1939, năm 1940 vào Đảng Cộng sản Việt Nam và hoạt động cách mạng tại Thái Bình. Ông bị địch bắt kết án 15 năm tù giam. Năm 1944, ông vượt ngục trở lại hoạt động cách mạng. Tháng 8 – 1945, tham gia giành chính quyền ở huyện Đông Anh (Hà Nội), sau gia nhập Vệ Quốc đoàn … Nhà văn Trần Độ đã từng giữ những trọng trách trong Quân đội, trong Quốc hội và Nhà nước. Trong Quân đội, ông trưởng thành từ Chính ủy Trung đoàn đến Sư đoàn, Quân khu rồi Phó Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam, Trung tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III-IV-V-VI, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Trưởng Ban Văn hóa Văn nghệ của Trung ương, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Quốc hội khóa VI-VII. Phó Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Hội đồng Nhà nước.
Ông rất say mê công việc của báo chí, văn học. Trước cách mạng tháng Tám đã tham gia làm báo “Cờ Giải phóng”, “Suối Reo”. Sau cách mạng, được Bác Hồ giao cho làm tờ Quân Giải phóng, rồi làm Chủ nhiệm báo Vệ quốc quân. Ngoài làm báo, ông còn ham mê chụp ảnh, viết văn đã từng xuất bản tập ảnh nghệ thuật và nhiều tác phẩm văn học.
Ông tham gia Hội Nhà văn năm 1957. 

* Tác phẩm đã xuất bản :
1. Lòng tin. Chuyện vừa. Nxb Quân đội Nhân dân, 1953
2. Kể chuyện Điện Biên. Nxb Văn Nghệ, 1955
3. Sống, học tập và làm việc như những người cộng sản. Nxb Quân đội Nhân dân, 1961
4. Lý tưởng, ước mơ và nghĩa vụ - Bút ký. Nxb Thanh niên, 1964
5. Bên sông đón súng - Hồi ký cách mạng. Nxb Thanh niên, 1964, tái bản 1976 – 1980
6. Anh bộ đội - Tuỳ bút. Nxb Quân đội Nhân dân, 1975
7. Đồng đội - Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1987
8. Phấn đấu xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa. Nxb Sự thật, 1982
9. Bàn về lối sống và nếp sống. Nxb Văn hoá, 1985
* Khen thưởng :
Nhà văn Trần Độ đã được khen thưởng:
- Hai huân chương Kháng chiến hạng Nhất (chống Pháp, chống Mỹ)
- Hai huân chương Quân công hạng Nhất (1955, 1976), một Quân công hạng II và một Quân công hạng III.
- Một huân chương Chiến thắng
- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang 1 – 2 – 3.
- Huân chương Chiến sĩ Giải phóng 1 – 2 – 3.
- Huân chương Hồ Chí Minh (1992) và nhiều Huy chương khác …
* Về cuộc đời gắn bó và yêu mến văn chương của mình, ông viết:
Tôi xuất thân là học sinh tiểu học ở nông thôn, nghèo. Sau đó, tôi được theo học vài năm trung học ở Hà Nội, do học bổng của một ông bạn của Bố tôi cấp cho. Thời kỳ học sinh của tôi (thập kỷ 1930 – 1940), là thời kỳ sôi nổi các phong trào Âu hoá, là thời kỳ của “Tự lực Văn đoàn”, “Tiểu thuyết Thứ Bảy”. Tôi quen thuộc ngay những tên tuổi Nhất Linh, Khải Hưng, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trong Lư và sau đó là Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nam Cao.
Tôi thoát ly đi làm Cách mạng chuyên nghiệp từ 1941 (17 tuổi), bị tù từ 1942 đến 1944 và sau đó là 30 năm ở quân đội, cho đến 1975. Ngay từ nhỏ, tôi hay mơ mộng. Tôi rất thích câu thơ của Thế Lữ :
Tôi chỉ là người mơ ước thôi,
Là người mơ ước hão, than ôi ! …
Không phải chỉ mơ ước về tình yêu, mà cả những mơ ước về cuộc đời. Khi còn là học sinh Trung học, tôi đã thích văn chương và được coi là một học sinh khá về văn. … Tôi hay tỏ ra mình không thích công thức, không thích khuôn phép sáo mòn … Những người Thầy viết đầu tiên của tôi là anh Như Phong, anh Trần Mai Ninh và sau đó nữa là anh Trường Chinh … Hồi Bí mật và ở tù, tôi thường làm công việc “giúp việc” cho các tờ báo “Cờ Giải phóng”, “Suối reo” và cả tờ “Người mới” năm 1939. Bất cứ ở đâu, làm công việc gì, tôi cũng có viết. Năm 1945, tôi được giao làm tờ báo của Quân đội là tờ “Quân giải phóng”. Rồi năm 1947 – 1950, tôi làm Chủ nhiệm báo “Vệ quốc quân” cùng với Thâm Tâm, Tân Sắc, Vũ Cao, Trần Đăng, … Thời gian đó, tôi cũng viết hơn một trăm bài cho báo, từ xã luận, bình luận, truyện ngắn, bút ký, chuyện vui. Tôi cũng có nhiều sách in, nhưng ba tập có tính văn học là “Bên sông đón súng”, “Anh bộ đội” và “Đồng đội” …
Tôi luôn luôn tự nhận thấy tôi là Hội viên Hội nhà văn vì tôi cũng có làm việc viết lách, không nhiều nhưng không ít lắm. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy tôi là “Nhà Văn”. Vì tôi nghĩ một “Nhà Văn” thì yêu cầu tài năng, nhân cách và bản lĩnh phải lớn và tôi thì chưa có, tôi thấy Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, … mới thật là những Nhà Văn”.
(Đức Hậu – Phạm Minh Đức (biên soạn). Nhà văn Thái Bình 1945 – 2005. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2006, trang 245).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét