Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Mấy vấn đề về xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa


I
Mục đích của chủ nghĩa xã hội và nhu cầu văn hóa của nhân dân
Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội lần thứ IV của Đảng do đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng, trình bày, có đoạn nêu rõ : 

“Mục đích cao quý của chủ nghĩa xã hội là thỏa mãn ngày càng đầy đủ không những nhu cầu vật chất mà cả nhu cầu văn hóa của toàn xã hội”. Như vậy, việc thỏa mãn những nhu cầu về văn hóa của nhân dân là một mục đích cao quý của chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đang ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước cũng tức có nghĩa là chúng ta phải từng bước thỏa mãn những nhu cầu về văn hóa của nhân dân. Vậy nhu cầu về tinh thần, văn hóa của nhân dân là như thế nào ? Trước khi nói đến vấn đề này, nên hiểu văn hóa là gì.
Văn hóa một mặt là vũ khí chính trị, tư tưởng rất sắc bén, là một công cụ đấu tranh giai cấp quan trọng không thể thiếu được, nó gắn chặt với nền chuyên chính vô sản. Mặt khác nó lại thể hiện đời sống tinh thần của nhân dân. Hai mặt đó của văn hóa thống nhất với nhau và tác động qua lại với nhau. Càng thỏa mãn nhu cầu đời sống văn hóa của nhân dân bao nhiêu thì càng tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng bấy nhiêu và càng tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng thì càng nâng cao, mở rộng nhu cầu về đời sống tinh thần, văn hóa của nhân dân.
Trong cuộc sống hiện nay, chúng ta thấy vấn đề văn hóa có mặt ở khắp nơi và có thể nói ngành văn hóa phải có trách nhiệm với mọi hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày. Bây giờ ở ngoài đường người ta thiếu trật tự, đó cũng là hiện tượng kém văn hóa ; người ta đánh nhau, nói tục ở ngoài phố cũng là hiện tượng kém văn hóa ; thấy ma chay, cưới xin theo lối cũ, lạc hậu, người ta cũng chất vấn cán bộ văn hóa. Thấy thanh niên mặc quần loe, để tóc dài người ta cũng hỏi cán bộ văn hóa. Thậm chí, các nhà khảo cổ đào được mảnh chĩnh, mảnh sành hay khai quật được ngôi mộ cổ còn nguyên xác ướp cũng nói là đào được văn hóa. Như vậy là tất cả mọi thứ chung quanh cuộc sống chúng ta, cái gì cũng đụng đến văn hóa. Đi đến một nước nào, những cái thấy được bằng mắt, tức những cái bằng vật chất cụ thể, cũng nói lên trình độ văn hóa của nhân dân nước đó. Rõ ràng, văn hóa không những thể hiện ra trong những sản phẩm tinh thần mà còn cả ở những sản phẩm vật chất nữa. Văn hóa luôn luôn gắn liền với vật chất, luôn luôn gắn liền với kinh tế.
Ta cũng thường gặp trong cuộc sống những quan niệm chưa rõ về văn hóa. Ví dụ : hiểu văn hóa chỉ là những hoạt động văn nghệ hoặc văn hóa chỉ là hoạt động tinh thần hoặc hiểu văn hóa là cái gì phù phiếm, xa xỉ, thứ yếu, chơi vơi trên không, chẳng dính dáng gì với xã hội, với kinh tế. Song cũng có người lại quá đề cao vai trò của văn hóa và tư tưởng, khẳng định rằng những tiến bộ và đổi mới ở địa phương của mình là chỉ nhờ có cách mạng tư tưởng và văn hóa … Cả hai quan niệm đó đều không đúng. Vậy văn hóa là gì ? Từ trước đến nay có nhiều định nghĩa về văn hóa. Theo tôi, định nghĩa sau đây là hợp lý hơn cả : văn hóa là toàn bộ hình thức sinh hoạt tinh thần của một xã hội. Nhưng những hình thức sinh hoạt tinh thần này lại được thể hiện ra và chứa đựng trong toàn bộ cơ sở vật chất, của cải vật chất của xã hội được tạo ra vào lúc ấy. Cho nên, khi nói đến văn hóa, người ta có thể đề cập đến toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần của một xã hội. Có quan niệm như vậy thì khi bàn về xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới hình dung ra được chúng ta phải làm những việc gì.
Thường thường trong đời sống hàng ngày, nhu cầu về tinh thần và văn hóa luôn luôn nảy sinh và đòi hỏi phải giải quyết, nhưng cũng lại thường ít người chú ý đến. Người ta cho rằng nhu cầu vật chất là cụ thể, cấp bách. “Có thực mới vực được đạo”, thiếu gạo, thiếu vải, thiếu nhà ở … mới là vấn đề cụ thể và cấp bách ! Còn những nhu cầu về tinh thần và văn hóa, khi đề cập đến, người ta vẫn cảm thấy chưa giải quyết cũng không sao, chẳng chết ai ! Thực ra, nhu cầu về tinh thần và văn hóa luôn luôn gắn chặt với nhu cầu về vật chất và không thể tách chúng ra được. Mỗi nhu cầu vật chất đi liền với một nhu cầu về tinh thần và văn hóa. Ngay như việc ăn cơm là một nhu cầu về vật chất, nhưng ai cũng thích ăn bằng bát đĩa lành, sạch và đẹp. Rõ ràng chỉ một việc ăn cơm thôi, lập tức nảy sinh một nhu cầu về văn hóa, về cái đẹp gắn chặt theo nó. Quần áo mặc để ấm, để che thân nhưng không phải mặc thế nào cũng được. Khi đã có quần áo đủ mặc, người ta cũng cố dành dụm tiền để mua mấy thước vải mới hơn, đẹp hơn để may bộ quần áo đẹp hơn. Nhu cầu vật chất thiết yếu hàng ngày bao giờ cũng gắn liền với nhu cầu về tinh thần và văn hóa. Tách rời nhu cầu vật chất ra khỏi nhu cầu về tinh thần và văn hóa là không đúng với cuộc sống. Mặc dù, hiện nay cuộc sống vật chất của chúng ta còn nhiều khó khăn, song những nhu cầu về tinh thần và văn hóa của nhân dân luôn luôn là một đòi hỏi rất lớn. Đó là những nhu cầu tất yếu, ta không thể làm ngơ được, chúng ta cần phải đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đó.
Nhu cầu vật chất thì có giới hạn và có những tiêu chuẩn để có thể tính toán được. Còn nhu cầu về tinh thần và văn hóa của nhân dân có nhiều mặt và quả thực nó không có giới hạn, nó vô cùng, rất khó tính toán. Người ta uống nước, nhiều lắm chỉ uống được hai cốc. Thế nhưng, cái dùng để uống nước thì không phải chỉ dùng vài cái cốc, tách nhất định, mà nếu có điều kiện người ta có thể dùng hàng chục cái cốc, tách khác nhau, mang các hình dáng và vẻ đẹp khác nhau. Ta ăn cơm nhiều lắm mỗi ngày năm bữa, mỗi bữa 300 gam gạo, mất mỗi ngày một cân rưỡi. Đến bữa thứ năm chắc không còn ăn được nữa và có thể nói chắc chắn là không thể ăn được nữa vì quá no. Rõ ràng, nhu cầu vật chất có giới hạn cụ  thể nhất định. Nhưng nghe một bài thơ, một bài hát … thì không thể nói là bài hát này hay nhất, đến mức “đầy” đến tận cổ rồi, không muốn nghe bài nào hay hơn thế nữa và không thể còn có bài nào hay hơn thế nữa. Do đó, người ta vừa mới nghe xong một bài hát hay, nhưng nếu có người nào đó hát bài hát hay hơn thì vẫn thích nghe và nghe được. Xem tiểu thuyết, xem phim, xem kịch cũng vậy, không thể nào có giới hạn cụ thể được. Nhu cầu về tinh thần và văn hóa, về cả số lượng và chất lượng, đều không có giới hạn. Nó là vô hạn. Những nhu cầu này có ở khắp nơi : ở trong nhà, ngoài xã hội, lúc đi lao động, khi nghỉ ngơi, nó gắn chặt với các nhu cầu vật chất và nó đòi hỏi phải càng ngày càng nâng cao không ngừng.
Về nhu cầu văn hóa của nhân dân, thông thường chúng ta chỉ nghĩ đến nhu cầu thưởng thức và nhu cầu hưởng thụ như xem phim, xem văn nghệ, đọc báo … tức là được hưởng cái hay, cái đẹp trong đời sống. Thực ra, ngoài các nhu cầu đó, còn có nhu cầu hoạt động và sáng tạo văn hóa của nhân dân. Có nhiều người trong sinh hoạt gia đình cần làm cái gì thêm cho đẹp, tuyệt nhiên không muốn nhờ người khác làm, mà tự tay làm lấy. Mỗi khi tự làm lấy thì cảm thấy mình được đáp ứng một nhu cầu về tình cảm rất lớn và nhất là khi làm thành công một “công trình” gì thì rất sung sướng, thoải mái. Cũng là thích đẹp, nhưng nhờ người khác làm thì người ta không thích vì không có cái thích thú của người sáng tạo. Đó là nhu cầu sáng tạo. Cứ lấy bản thân chúng ta mà nghiệm ra thì rõ. Có khi đang lao động, đột nhiên ta hát lên một câu, mà câu hát đó nhiều khi chẳng nhập vào với bài hát nào cả. Tự nhiên trạng thái tinh thần sảng khoái làm bật ra câu hát. Hoặc có khi chúng ta ngâm một câu thơ, một đoạn thơ mà câu đầu là của Tố Hữu, câu cuối là của Nguyễn Du, không ăn nhập vào nhau. Nhưng khoái lên chúng ta cũng cứ ngâm. Không làm ra được thơ thì mượn thơ của người khác ngâm vậy. Nhiều khi ta đang hát, nhưng nếu lúc bấy giờ có ai yêu cầu ta hát tiếp cho hết bài thì cũng không biết bắt đầu phải hát thế nào và khi nào thì kết thúc bài hát. Chỉ vì khoái lên mà hát. Nhân dân lao động trong sản xuất luôn luôn có những niềm vui, ước mơ, những lo âu và nhiều khi người ta muốn nói lên, muốn phát biểu ra bằng hình tượng nghệ thuật chứ không phải chỉ nói lên một cách đơn giản rằng tôi vui quá, rồi phá lên cười. Người ta muốn gửi gắm tâm tư, niềm vui và ước vọng vào trong văn học, nghệ thuật. Vì vậy có hiện tượng là không nói được thì nhờ người khác nói hộ cho mình, cho địa phương, cho ngành mình những chiến công, niềm tự hào và niềm khát vọng sâu xa của mình. Người ta tìm đến các nghệ sĩ. Bài “Quảng Bình quê ta ơi” và nhiều ca khúc, thơ, văn xuôi, kịch … đã ra đời trong trường hợp như vậy. Đó là nhu cầu về tinh thần, về tình cảm, khi không tự thể hiện ra được phải nhờ người khác làm hộ. Ai đã có dịp về thăm một số hợp tác xã ở miền Bắc, sẽ thấy hiện tượng là trong các đội văn nghệ xã phần lớn các đồng chí chỉ đạo chủ chốt về sản xuất đã kiêm làm đội trưởng văn nghệ, bởi vì chính các đồng chí ấy là người có nhiệt tình, có yêu cầu thúc bách phải sáng tác. Những đồng chí này chẳng học ở đâu cả, thế là vừa là tác giả, vừa là đạo diễn, nhiều khi kiêm luôn các vai chính tiết mục của mình sáng tác ra. Cũng dễ hiểu bởi vì trong sản xuất, quần chúng lao động có niềm vui cần phải nói lên, không ai nói hộ, thuê không được, mượn không được thì dù không học ở trường nghệ thuật nào cũng cứ nói, cứ viết ra, không ai đạo diễn cho thì tự đạo diễn lấy, không ai diễn cho thì chính mình diễn lấy. Tương tự như thế, ta thấy nhiều nơi có những sáng tác hội họa và thơ văn của quần chúng. Vào những dịp liên hoan cuối vụ thu hoạch hoặc khi có khách đến tham quan trao đổi kinh nghiệm sản xuất, nhiều hợp tác xã ở Hà Nam Ninh và một số nơi khác có những triển lãm nhỏ trưng bày nhiều bức tranh nói lên lịch sử, truyền thống của xã mình, thành tích sản xuất, kinh nghiệm đã tích lũy được của hợp tác xã. Đi liền theo là một loạt thơ ca minh họa cho các tranh vẽ này và thơ ca được diễn lên bằng ngâm thơ hoặc bằng các làn điệu dân ca, hát chèo. Lại có thêm nhạc đệm. Giới thiệu lịch sử, truyền thống, thành tích mới trong sản xuất người ta không giản đơn chỉ nói bằng lời khô khan mà bằng tranh, bằng thơ ca, thơ không phải chỉ để đọc lên mà phải hát bằng các làn điệu, không phải chỉ có hát chay mà còn có nhạc đệm. Do nhu cầu sáng tác và để đáp ứng nhu cầu đó, ở mỗi xã thường xuất hiện những họa sĩ không qua trường lớp nào, nhưng biết vẽ được các bức tranh triển lãm và cũng xuất hiện các nhà thơ không có bài đăng ở một báo nào, nhưng đã cố gắng nói lên tình cảm của nhân dân ở xã mình, địa phương mình.
Những tài liệu văn hóa cổ mà ta có đã chứng minh cho nhu cầu sáng tác văn hóa trong nhân dân. Ta cũng thấy đồng bào dân tộc ít người của chúng ta chẳng cần học tập ở đâu cả, nhưng do yêu cầu của đời sống phải nói ra, phải thể hiện ra mà hình thành những áng văn, điệu hát dân ca, những điệu múa và thậm chí có cả những tác phẩm điêu khắc rất đẹp.
Nhu cầu sáng tạo và nhu cầu hoạt động văn hóa trong nhân dân rất lớn, đặc biệt có nhiều thanh thiếu niên thích hát, thích vẽ, thích diễn kịch. Ngay trong lớp người già cũng có nhiều người thích hoạt động văn hóa, văn nghệ.  Nhưng hiện nay ở nước ta những điều kiện để phát triển những hoạt động này chưa nhiều. Vì vậy, nói thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân, không phải chỉ có một việc tạo nên giá trị văn hóa để cho nhân dân hưởng thụ và thưởng thức, mà còn phải tạo điều kiện cho nhân dân trực tiếp hoạt động và sáng tạo văn hóa. Nhu cầu văn hóa phải là như vậy. Nói tóm lại, có thể rút ra mấy kết luận : Một là, nhu cầu về tinh thần và văn hóa nảy sinh hàng ngày, hàng giờ trong mọi phạm vi cuộc sống của con người, nó gắn chặt với nhu cầu vật chất và không thể nào tách khỏi nhu cầu vật chất được, điều này chúng ta thường ít chú ý đến ; Hai là, nhu cầu về tinh thần và văn hóa thông thường là những nhu cầu không có giới hạn, không tính toán được ; Ba là, nhu cầu về tinh thần và văn hóa bao gồm nhu cầu hưởng thụ và thưởng thức, đồng thời còn bao gồm cả nhu cầu sáng tạo và hoạt động văn hóa của nhân dân. Chúng ta nói thỏa mãn nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động về văn hóa là thỏa mãn cả nhu cầu hưởng thụ, thưởng thức và nhu cầu sáng tạo, hoạt động văn hóa của nhân dân, biến mọi giá trị văn hóa thành tài sản của nhân dân và tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếp sáng tạo ra những giá trị văn hóa.
Hiện nay một vài nơi phát động phong trào văn nghệ quần chúng thấy quần chúng tham gia chưa nhiều, phong trào chưa sôi nổi, đã cho rằng quần chúng không thích hoạt động văn hóa, văn nghệ. Không phải như vậy. Có lẽ phương pháp vận động, nội dung của cuộc vận động chưa đúng hướng, chưa giải đáp đúng nhu cầu của nhân dân cho nên họ chưa hưởng ứng. Sự thực, không cần phải vận động, nhu cầu về hoạt động văn hóa của nhân dân vẫn có. Chính quyền của giai cấp vô sản phải tổ chức cho nhân dân hoạt động văn hóa và muốn cho phong trào phát triển sâu rộng, phải hiểu sâu sắc nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân, khêu gợi đúng ý thích của nhân dân, như vậy nhiều khi, không cần phát động phong trào vẫn cứ lên.
Việc đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần và văn hóa của nhân dân, cũng có người chưa hiểu đầy đủ. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội lần thứ IV nêu rõ : “Thỏa mãn ngày càng đầy đủ không những nhu cầu vật chất mà cả nhu cầu văn hóa cho nhân dân”. Vậy thế nào là thỏa mãn ngày càng đầy đủ ? Rõ ràng khái niệm đầy đủ ở đây có ý nghĩa tương đối và mang tính lịch sử. Một là, sau ba mươi năm chiến tranh, nền kinh tế nước ta bị thiệt hại và bị tàn phá nghiêm trọng, chúng ta đang vừa phải khôi phục vừa cố gắng sản xuất để hàn gắn vết thương chiến tranh và từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vì vậy không thể ngay một lúc thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hóa của nhân dân được mà phải thực hiện dần dần sự thỏa mãn ấy. Hai là, khái niệm đầy đủ ở đây có ý nghĩa tương đối chứ không phải tuyệt đối. Trong từng giai đoạn lịch sử, nhu cầu của nhân dân có những sự khác nhau. Chẳng hạn, nói thỏa mãn nhu cầu vật chất trong giai đoạn cách mạng hiện nay, giai đoạn mà chúng ta còn nhiều khó khăn, Đảng ta chủ trương “trong 5 năm tới phải bảo đảm cho mọi người có đủ lương thực, rau đậu, có thêm cá, thịt, nước chấm, đường, trứng, trái cây (…). Bảo đảm mặc lành, đủ ấm, giảm bớt khó khăn về nhà ở tại các thành phố và khu công nghiệp, làm thêm nhiều nhà ở, giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh ở nông thôn (…). Bảo đảm nhu cầu của nhân dân đi lại thông suốt trong cả nước, giữa miền xuôi, miền núi và các vùng kinh tế mới, giữa thành thị và nông thôn” … Ta lấy vấn đề mặc trong đoạn trích dẫn trên đây để phân tích và thấy rằng khái niệm đầy đủ mang tính tương đối và có tính lịch sử. Trong 5 năm tới “bảo đảm mặc lành, đủ ấm”, cho nhân dân là thỏa mãn đầy đủ về mặc cho nhân dân. Nhưng mười lăm, hai mươi năm sau, thỏa mãn đầy đủ về mặc cho nhân dân là thỏa mãn đầy đủ cho nhân dân không phải là mặc lành mà phải là mặc đẹp, không phải là đủ ấm mà phải là thật ấm. Những nhu cầu về tinh thần và văn hóa cũng như vậy. Cụ thể hóa phương hướng thỏa mãn nhu cầu về văn hóa của nhân dân được nêu lên trong Báo cáo chính trị, Bộ Văn hóa và thông tin đã vạch ra một số chỉ tiêu về thưởng thức và hưởng thụ của nhân dân trong vòng 15 năm tới. Lấy chỉ tiêu về sách để phân tích ta thấy rằng trong 15 năm tới, mỗi đầu người có từ 5 – 7 bản là thỏa mãn đầy đủ. Nhưng sau năm 1990, khi trình độ văn hóa của nhân dân đã được nâng cao thì chỉ tiêu trên đây về sách không phải là thỏa mãn đầy đủ nữa mà là thỏa mãn không đầy đủ. Lúc đó nhân dân đòi hỏi phải nâng chỉ tiêu về sách lên. Rõ ràng khái niệm đầy đủ ở đây cũng có ý nghĩa tương đối và mang tính lịch sử.
Như vậy, thành quả xây dựng kinh tế không ngừng được phản ảnh trong đời sống vật chất ngày một cao và không ngừng thể hiện rất rõ nét trong đời sống văn hóa ngày càng phong phú.
Để bảo đảm từng bước việc đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần và văn hóa của nhân dân, chúng ta không thể chấp nhận ý kiến nói rằng, trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết hãy thỏa mãn các nhu cầu vật chất, sau đó hãy tính đến nhu cầu văn hóa. Chúng ta hết sức coi trọng việc nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Chúng ta sẽ phấn đấu tạo ra một đời sống vật chất sung túc đến một mức độ nào đó (và sau đó sẽ không ngừng nâng lên) : ăn no, mặc ấm, ở tốt, đi lại thuận tiện. Đồng thời chúng ta sẽ tạo ra một đời sống văn hóa và tinh thần rất đẹp, một xã hội lý tưởng của con người. Chúng ta nhận rõ rằng giá trị đáng quý nhất của xã hội, của con người không chỉ là vật chất mà chính là một đời sống văn hóa, tinh thần cao đẹp. Cuộc sống có văn hóa là cuộc sống đầy đủ ý nghĩa. Sống có lý tưởng thanh cao, nhân ái, đầy tình thương, đầy trí tuệ là một cuộc sống hạnh phúc. Hạnh phúc của con người, sự phát triển tự do và toàn diện của con người, xét cho cùng là mục đích cao nhất của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, chúng ta cho rằng, ngay khi mức sống vật chất còn thấp, việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa cũng phải đặt ra song song với việc thỏa mãn nhu cầu vật chất. Không phải đời sống vật chất thấp thì không cần văn hóa, hoặc văn hóa thế nào cũng được. Và không phải cứ chờ đến lúc có đời sống vật chất cao rồi mới tính đến nhu cầu văn hóa và tinh thần. Trong lịch sử loài người, bất cứ khi con người có một đời sống vật chất thế nào thì cũng có một nền văn hóa tương ứng. Nền văn hóa xuất hiện từ những cơ sở vật chất và thể hiện trình độ cơ sở vật chất đó. Trình độ kinh tế phải được thể hiện ra nền văn hóa. Sự thực, nếu nói rằng chúng ta chưa có đủ điều kiện vật chất để thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần và văn hóa ở mức cao thì đúng hơn. Tất nhiên, đến lúc nhu cầu vật chất được thỏa mãn ở mức cao, “phú quý sinh lễ nghĩa”, người ta càng đòi hỏi phải đáp ứng những nhu cầu về tinh thần và văn hóa cao hơn.
Quan hệ giữa nhu cầu về vật chất và những nhu cầu về tinh thần và văn hóa đang đặt ra một loạt vấn đề như vậy. Đó cũng là những vấn đề có tính phổ biến ở các địa phương. Vì hiểu về nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân chưa được đầy đủ, cho nên cách giải quyết những nhu cầu văn hóa cũng chưa đầy đủ.
Trên đây là một số vấn đề về mục đích của chủ nghĩa xã hội và nhu cầu văn hóa của nhân dân. Trước khi bàn đến nội dung và tính chất của nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta cụ thể là làm những việc gì, điều quan trọng trước tiên là phải thấy cho hết vai trò của cách mạng tư tưởng và văn hóa trong giai đoạn cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.

II
Ba cuộc cách mạng, vị trí của cách mạng tư tưởng và văn hóa
Trong Chỉ thị số 08/CT-TƯ của Ban Bí thư trung ương Đảng “Về công tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội” có nêu lên một điểm cơ bản, rất quan trọng là : “Tư tưởng và văn hóa không chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là động lực thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới …”.
Đúng, văn hóa phải là kết quả của kinh tế, nền kinh tế có cao thì văn hóa mới có thể cao được. Nhưng văn hóa không phải chỉ là kết quả của kinh tế mà nó còn là động lực thúc đẩy kinh tế. Cho nên muốn phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, phải đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hóa.
Cách mạng tư tưởng và văn hóa là một bộ phận hợp thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa, nó gắn liền một cách hữu cơ với cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực quan hệ sản xuất và lĩnh vực khoa học – kỹ thuật. Ba cuộc cách mạng này luôn luôn tác động lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau. Ba cuộc cách mạng này, nó là ba nhưng nó lại là một. Mỗi cuộc cách mạng trong đó vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân và tiền đề của hai cuộc cách mạng khác và kết quả của một cuộc cách mạng đồng thời cũng là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng, không có một kết quả nào chỉ là của riêng của một cuộc cách mạng. Các kết quả về văn hóa mà sau này chúng ta xây dựng được thì đó là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng. Một thành tựu về khoa học – kỹ thuật có được cũng là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng. Quan hệ sản xuất được củng cố và phát triển, đó cũng là kết quả của ba cuộc cách mạng. Không phải những thành tựu về văn hóa là kết quả của riêng cách mạng tư tưởng và văn hóa hoặc kết quả về khoa học – kỹ thuật là do cách mạng khoa học – kỹ thuật mang lại … Do đó, toàn bộ chủ nghĩa xã hội chỉ có thể ra đời bằng kết quả tổng hợp của toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đời sống hàng ngày hiện nay, sự tác động qua lại và tiến trình của ba cuộc cách mạng đang diễn ra như vậy. Đến thăm một số hợp tác xã có năng suất cây trồng cao và hiệu quả chăn nuôi lớn, chúng ta thấy rằng ở những nơi đó nhân dân áp dụng nhiều biện pháp khoa học – kỹ thuật : giống tốt, phân nhiều, có kỹ thuật canh tác và chăn nuôi giỏi, do đó đã đem lại năng suất cao. Có năng suất cao thì đời sống của nhân dân được nâng cao. Đời sống nhân dân cao thì quan hệ sản xuất ở trong hợp tác xã được củng cố. Ở những hợp tác xã này, các đồng chí phụ trách nói đùa rằng bây giờ có đuổi, người ta cũng không ra hợp tác xã, bởi vì cơ sở vật chất chung quá lớn, có hợp tác xã có đến mấy chục triệu đồng, mỗi năm có mấy chục vạn đồng phúc lợi. Quỹ phúc lợi chung lớn như vậy nên hợp tác xã có điều kiện để thực hiện các chính sách để bảo đảm đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân : các cháu bé được đến nhà trẻ, hợp tác xã đài thọ một phần về vật chất và do các cô nuôi dạy trẻ được huấn luyện một cách chu đáo, chính quy chăm sóc ; người già được bố trí công việc thích hợp và được nuôi dưỡng, có những hợp tác xã có khu an dưỡng dành riêng cho các cụ già, các cụ được cấp phát quần áo ; những người ốm đau bệnh tật đều được chăm sóc ở trạm xá, thuốc chữa bệnh phát không, hợp tác xã chịu tiền … Tất cả những cái đó gắn bó với xã viên. Không ai muốn xóa bỏ hợp tác xã, ai cũng ra sức vun trồng cho hợp tác xã tiến lên. Như vậy quan hệ sản xuất được củng cố. Quan hệ sản xuất được củng cố một mặt nhờ ý thức giác ngộ của quần chúng, mặt khác, nhờ áp dụng khoa học – kỹ thuật, tạo ra năng suất cao và đời sống được cải thiện. Thế nhưng muốn áp dụng được khoa học – kỹ thuật thì phải nhờ đến sách, nhờ có phim khoa học, kỹ thuật, phim kinh nghiệm nông nghiệp … nhờ có tuyên truyền, cổ động, nhờ có văn nghệ. Thế là văn hóa đem khoa học – kỹ thuật vào đời sống, khoa học – kỹ thuật đi vào đời sống tạo ra những kết quả vật chất và tất cả những kết quả đó cùng nhau củng cố quan hệ sản xuất. Nhưng muốn có đài truyền thanh, phim ảnh, sách báo … thì hợp tác xã phải sản xuất giỏi để có vốn tích lũy. Càng có nhiều vốn thì sản xuất của hợp tác xã lại được mở rộng, thực hiện được tái sản xuất mở rộng. Khi sản xuất được mở mang thì sự nghiệp văn hóa, giáo dục được phát triển và các cháu có nhiều trường học, khoa học – kỹ thuật được tiếp thu tốt hơn, do đó sản xuất lại lên, đời sống nhân dân được nâng cao hơn và quan hệ sản xuất càng được củng cố. Quan hệ sản xuất càng được củng cố thì nó là động lực thúc đẩy mọi người hăng hái lao động, áp dụng khoa học – kỹ thuật, phát triển văn hóa … Cứ thế, của cải ngày càng được tạo nên nhiều hơn. Ba cuộc cách mạng được tiến hành đồng thời và luôn luôn gắn chặt với nhau như vậy. Và rõ ràng, cách mạng tư tưởng và văn hóa đã đóng vai trò động lực thúc đẩy hai cuộc cách mạng kia, thúc đẩy việc xây dựng nền kinh tế mới và đồng thời nó cũng lại là kết quả của hai cuộc cách mạng kia.
Chúng ta thấy rằng, giữa kinh tế và văn hóa có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ăn, ở, sản xuất ra của cải vật chất là thuộc lĩnh vực kinh tế. Nhưng ăn như thế nào, ở như thế nào, đó là văn hóa. Trong kế hoạch 5 năm, 10 năm, Nhà nước định cho nhân dân ăn như thế nào, ở như thế nào. Vấn đề không phải chỉ ở chỗ ăn và ở. Nếu ta nói đến ăn và ở một cách giản đơn thì chúng ta sẽ chỉ thấy những con số như bao nhiêu triệu tấn thóc, bao nhiêu mét vuông nhà ở … Nhưng mấy mét vuông nhà ở ấy sẽ như thế nào, có phải trong mấy mét vuông nhà ở ấy chỉ có chỗ cho người ta đặt gường và chỗ làm bếp hay còn phải có chỗ cho trẻ em học tập, có thư viện, câu lạc bộ, môi trường cây xanh … Nếu đặt vấn đề “ở” như vậy thì khi xây dựng một khu nhà ở không phải chỉ tính mấy mét vuông mỗi phòng mà còn phải tính toán toàn diện cho cả một khu vực bao gồm chỗ học, chỗ chơi cho trẻ em, chỗ giải trí cho người lớn, v.v…
Trong vấn đề “ở” còn có vấn đề xây dựng, mà xây dựng tức là nói đến kiến trúc, đến mỹ thuật. Nó đòi hỏi các loại hình của văn hóa tham gia vào. Hiện nay, trong điều kiện thiếu thốn, chúng ta chỉ mới có thể xây dựng từng mảng. Nhưng nếu ta có điều kiện vật chất đầy đủ hơn, giàu có hơn thì chúng ta không làm như vậy và rồi đây chúng ta không nên làm như vậy. Xây dựng một ngôi nhà cho con người ở, dáng dấp của nó ra sao, tiện nghi thế nào … Những điều đó thuộc về văn hóa. Hiểu được như vậy thì khi làm nhà, cần phải có ý kiến về văn hóa, bởi vì trong công tác xây dựng có tư tưởng và văn hóa.
Trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và tư tưởng biểu hiện r                                                                                                                                                                                             a như vậy, còn trong khoa học và kỹ thuật thì thế nào ? Khoa học – kỹ thuật thuộc văn hóa. Song điểm đáng chú ý là ngày nay khoa học – kỹ thuật đã trở thành một dòng thác, mà ai nắm được nó, giai cấp nào nắm được nó thì sẽ đưa xã hội của mình tiến lên nhanh hơn. Đó là một mặt của vấn đề, mặt khác, nếu sử dụng nó đến một mức nào đó mà không chú ý đến tư tưởng và văn hóa, không chú ý đến vấn đề xã hội thì khoa học, kỹ thuật từ chỗ là do con người tạo ra sẽ trở lại chi phối con người và buộc con người phụ thuộc vào nó. Các nước tư bản đang đi con đường đó. Chúng ta phải nắm lấy khoa học – kỹ thuật và bắt nó phục vụ cho đời sống con người. Do vậy, cách mạng tư tưởng và văn hóa ở đây có một tầm quan trọng. Nó giữ vai trò chỉ đạo và hướng dẫn. Ta nói cách mạng tư tưởng và văn hóa là động lực với ý nghĩa như vậy. Trong hoàn cảnh nước ta, do trình độ khoa học và kỹ thuật còn thấp, Đảng ta đặt cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật ở vị trí then chốt là rất đúng, vì không có nó thì sẽ không có chủ nghĩa xã hội, không có nó ta sẽ không có cuộc sống mới. Chúng ta phải vươn lên nắm cho được khoa học, kỹ thuật và chúng ta còn nói nhiều đến nó. Sở dĩ như vậy vì chúng ta so với thế giới đã đi quá chậm, chậm hàng thế kỷ. Mặc dù cách mạng khoa học – kỹ thuật quan trọng như vậy, có vị trí then chốt trong cách mạng xã hội chủ nghĩa như vậy, nhưng nó phải được đặt dưới sự chỉ đạo của một đường lối, nó phải thấm nhuần tư tưởng và văn hóa xã hội chủ nghĩa chứ nó không thể tự phát triển được. Chúng ta không được quên bài học xương máu của nước anh em dù ở đó công nghiệp phát triển, có đời sống vật chất rất cao, nhưng không chú trọng đúng mức công tác tư tưởng và văn hóa, xem nhẹ việc giáo dục lý tưởng, lối sống xã hội chủ nghĩa cho thanh niên và nhân dân trong khi bọn tư bản đã không ngớt dùng tư tưởng và văn hóa tư sản tấn công chủ nghĩa xã hội, vì vậy đã phải trả một giá rất đắt.
Hiện nay khoa học và kỹ thuật đang phát triển như một dòng thác cuồn cuộn, công tác tư tưởng và văn hóa phải hiểu xem nó đang đi đến đâu, nó sẽ đi đến đâu, ưu việt của nó là ở chỗ nào và chúng ta phải biết cả mặt tiêu cực của nó nữa để tuyên truyền cho người ta say sưa đi vào khoa học, kỹ thuật. Công tác tư tưởng và văn hóa đối với kinh tế là phải phát hiện vấn đề, phải phê phán và phải góp ý kiến xây dựng. Công tác tư tưởng và văn hóa là ở chỗ này. Bản thân tư tưởng và văn hóa không được đứng tách riêng ra. Những người làm công tác tư tưởng và văn hóa phải làm cho các nhà hoạt động kinh tế, hoạt động kỹ thuật phải xốn xang, day dứt, khó chịu nếu một ngày mà họ không tìm ra một vấn đề gì mới do cuộc sống đặt ra, phải làm cho các giám đốc xí nghiệp, các đồng chí chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã … không bằng lòng với tình trạng trì trệ hiện nay, không bằng lòng với mức sản xuất hiện nay, không bằng lòng với những tồn tại trong quan hệ sản xuất hiện nay. Chúng ta không đòi hỏi những người làm công tác tư tưởng và văn hóa phải được học sâu về những vấn đề chuyên môn kinh tế, khoa học như những nhà kinh tế, những nhà khoa học mà chỉ đòi hỏi họ phải hiểu cho được các nhà kinh tế, các nhà khoa học đang làm gì. Những người làm công tác tư tưởng và văn hóa không thể bằng lòng với những cái chung chung được. Những khẩu hiệu chung chung không thỏa mãn được quần chúng vì mọi người đều biết cả rồi. Vấn đề bây giờ là phải đi vào giải quyết cho người ta những vấn đề cụ thể, phải hiểu xem quần chúng đang muốn gì để phổ biến, mở rộng tầm mắt cho quần chúng, làm sao cho người ta yêu khoa học, yêu kỹ thuật, say sưa đi vào những vấn đề kinh tế. Nếu tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hóa mà ta không hiểu được yêu cầu kinh tế như thế nào, không hiểu được yêu cầu sắp tới của cuộc sống ra sao, kế hoạch Nhà nước dự định thế nào … thì công tác tư tưởng và văn hóa sẽ bị chệch hướng. Hiện nay Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về tập trung cao độ lực lượng cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, những người làm công tác tư tưởng và văn hóa phải hiểu nhiệm vụ và yêu cầu của nông nghiệp trong đó có vấn đề quan trọng đặc biệt là phải nắm cho được việc kiện toàn cấp huyện, việc tổ chức lại sản xuất trên địa bàn cấp huyện, việc cơ khí hóa của một huyện tiến lên như thế nào, việc cơ khí hóa ở huyện đẻ ra vấn đề gì … Có như vậy công tác tư tưởng và văn hóa mới có nội dung.
Cách mạng tư tưởng và văn hóa phải phục vụ cho cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, đồng thời nó phải là động lực thúc đẩy cho hai cuộc cách mạng này tiến lên là như vậy.
Vị trí của cách mạng tư tưởng và văn hóa còn thể hiện ở chỗ nó đóng vai trò quyết định trực tiếp trong việc làm biến đổi thế giới tinh thần của con người, làm biến đổi đời sống tư tưởng và văn hóa của toàn xã hội, giúp cho con người mới nảy nở một cách toàn diện. Đề cập đến vấn đề xây dựng con người mới, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội lần thứ IV khẳng định : con người mới vừa là sản phẩm của xã hội mới vừa là chủ thể có ý thức xây dựng nên xã hội mới. Song con người mới không thể hình thành một cách tự phát mà phải trải qua quá trình xây dựng một cách tích cực và chủ động. Chúng ta phải và có thể xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới … Tất cả những điều đó nêu rõ vị trí của cách mạng tư tưởng và văn hóa mà nhiệm vụ trung tâm là xây dựng con người mới.
Muốn có con người mới phát triển toàn diện với những đức tính, tập quán mới, phải có một chế độ mới, tức là chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa và một nền kinh tế mới, nền kinh tế sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đó là những điều kiện vật chất và xã hội để hình thành con người mới. Điều đó thích ứng với nhận định : con người là sản phẩm của xã hội. Thừa nhận con người là sản phẩm của xã hội, chúng ta không thể vượt qua quy luật khách quan của xã hội, nhưng chúng ta cũng không chờ xây dựng xong chủ nghĩa xã hội mới xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Phải chủ động tiến hành xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa để thúc đẩy việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dĩ nhiên, không phải chỉ có hô hào suông mà có thể tạo ra con người mới, ngược lại phải tạo ra cơ sở vật chất, tạo ra tiền đề cho việc nảy nở con người mới. Phải xóa bỏ chế độ người bóc lột người, phải xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thì mới xây dựng được con người mới xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người mới có kiến thức thì phải có trường sở, có sách vở, có giáo sư … Con người được học mới có kiến thức. Muốn có con người mới có thể lực dồi dào thì phải nuôi dưỡng đầy đủ chất dinh dưỡng và rèn luyện để phát triển thể chất toàn diện. Muốn có con người có tác phong khẩn trương, tôn trọng giờ giấc, có tính kỷ luật cao thì phải có môi trường công nghiệp phát triển. Có người cho rằng, nếu nói như vậy thì hiện nay chúng ta chưa có con người mới. Có người còn chất vấn : Các lãnh tụ của chúng ta như Bác Hồ, các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ … đã phải là những con người mới chưa ? Nếu nói các lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo ưu tú của Đảng và Nhà nước và cả những cán bộ, đảng viên suốt đời tận tụy hy sinh cho độc lập của Tổ quốc, cho lý tưởng cộng sản và hạnh phúc của nhân dân đều là những con người cũ thì cũng vô lý. Thế nhưng nếu nói chúng ta đã là những con người mới đầy đủ rồi thì cũng chưa được. Thông thường trong một xã hội và ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đều có những con người của nó, đồng thời cũng xuất hiện những tư tưởng xã hội tiên tiến và những con người mang tư tưởng tiên tiến với trình độ khác nhau đóng vai trò thúc đẩy xã hội tiến lên. Nói con người là chủ thể có ý thức xây dựng nên xã hội mới là hàm ý muốn nói đến những con người tiên tiến, những con người mang những tư tưởng tiên tiến. Thế là một mặt, phải xây dựng chủ nghĩa xã hội để tạo ra điều kiện xây dựng con người mới, nhưng mặt khác “muốn có chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” như Hồ Chủ tịch đã nói. Hai luận đề này có mâu thuẫn với nhau không ? Rõ ràng cả hai đều là một thể thống nhất và là chân lý. Bởi vì, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang thực hiện là một cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử. Phải xóa bỏ nền kinh tế dựa trên cơ sở người bóc lột người ; phải cải biến nền kinh tế cá thể, phân tán thành kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng nền kinh tế nước ta thành nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa nhằm cải thiện không ngừng đời sống của nhân dân, tạo cho dân tộc ta có một cuộc sống văn minh, hạnh phúc.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo phi thường của nhân dân ta. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thành công trên cơ sở Đảng và nhân dân ta tự giác làm cách mạng, làm chủ được các quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của đất nước ta, do đó phải làm cách mạng tư tưởng và văn hóa, làm cho mọi người hiểu biết và tự giác mà thúc đẩy việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi sự giác ngộ về tư tưởng, tình cảm cách mạng được nâng cao, kiến thức, trình độ, các mặt văn hóa, nghiệp vụ … được phát triển thì con người trở thành động lực quan trọng để thực hiện quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh sản xuất phát triển. Vì vậy, không thể để cho con người mới hình thành một cách tự phát mà phải chủ động xây dựng con người mới. Quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là quá trình định hình, hoàn chỉnh con người mới, là quá trình con người mới không ngừng phát triển hoàn thiện một cách toàn diện nhằm phát huy vai trò xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa.
Như đã nêu ở phần trên, trong mỗi xã hội đều có những con người tiên tiến mang những tư tưởng tiên tiến đi trước giai đoạn lịch sử đó. Chính những con người tiên tiến này đóng vai trò thúc đẩy xã hội tiến lên. Các lãnh tụ của chúng ta đều là những con người mới, bởi vì đó là những con người tiên tiến đi trước giai đoạn lịch sử của mình và đã mang những đặc điểm về đạo đức, tác phong, về tình cảm của con người mới và đóng vai trò chủ thể thúc đẩy xã hội tiến lên. Còn chúng ta bây giờ đã phải là con người mới chưa ? Có thể nói chúng ta có nhiều yếu tố của con người mới, nhưng chúng ta chưa thể trở thành con người mới toàn diện được. Trong chúng ta còn lẫn lộn những yếu tố của con người mới và những yếu tố của con người cũ. Vì vậy, Đảng ta mới nhấn mạnh phải xây dựng con người mới ở tất cả các lứa tuổi. Đối với các cháu mới lọt lòng, chúng ta phải tạo điều kiện cho các cháu sống ở trong xã hội mới để các cháu hình thành những tình cảm, tư tưởng trong sáng. Đối với những người lớn tuổi thì phải trau dồi những yếu tố của con người mới cho bản thân, phải gột rửa những cái cũ để tiến lên. Như vậy là mọi người đều có thể trở thành tiên tiến và đóng vai trò chủ thể có ý thức để thúc đẩy xã hội tiến lên. Điều kiện nào cho phép chúng ta xây dựng con người mới ngay từ bây giờ ? Nhiều đồng chí cũng đã hỏi như vậy. Như trên đã phân tích, mỗi giai đoạn lịch sử có một lớp người tiên tiến, lớp người này mang những tư tưởng tiên tiến, nắm được quy luật phát triển của xã hội, dựa vào quy luật đó để thúc đẩy xã hội tiến lên. Chúng ta có một điều kiện quan trọng nhất để xây dựng con người mới, đó là chúng ta có một Đảng lãnh đạo nắm vững quy luật phát triển của xã hội nước ta, đã vạch ra được con đường đi lên của một nước nông nghiệp lạc hậu, từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Điều kiện thứ hai là lớp người tiên tiến của chúng ta rất đông và ngày càng đông. Trước Cách mạng tháng Tám, cả nước ta chỉ mới có mấy nghìn đảng viên, những con người tiên tiến này nhận thức được tình hình, đã thấy rõ quy luật phát triển của xã hội nước ta, động viên nhân dân tiến lên làm Cách mạng tháng Tám, thúc đẩy xã hội tiến lên. Bây giờ chúng ta có một Đảng mạnh với hơn một triệu rưỡi đảng viên là những chiến sĩ tiên tiến của xã hội. Bên cạnh đó chúng ta lại có hai, ba triệu đoàn viên thanh niên cộng sản, họ cũng là những con người tiên tiến và còn những người chưa phải đảng viên và đoàn viên nhưng tự nguyện chiến đấu theo đường lối của giai cấp công nhân, đường lối mang những tư tưởng tiên tiến của thời đại chúng ta. Như vậy, chúng ta có đến hàng chục triệu người trong xã hội đi trước xã hội. Với một lực lượng như vậy và với sự lãnh đạo của một Đảng vững mạnh như Đảng ta thì ngày càng có thể mở rộng đội ngũ những người tiên tiến. Vì vậy chúng ta có thể đặt vấn đề xây dựng con người mới ngay từ bây giờ mà không cần chờ đến khi có kinh tế phát triển. Hơn nữa, giờ đây chúng ta có chính quyền, có Đảng lãnh đạo, lại có cả một bộ máy Nhà nước quản lý một nền kinh tế có kế hoạch đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho nên chúng ta có điều kiện để tổ chức một xã hội nhằm đào tạo ra những con người mới ở tất cả mọi lứa tuổi và ngay từ khi mới lọt lòng mẹ.
Nhưng nói như vậy không phải là ngay từ bây giờ hoặc trong một thời gian ngắn chúng ta đã có những con người mới phát triển toàn diện. Chúng ta phải thúc đẩy việc xây dựng nền kinh tế mới, xây dựng chế độ mới, tạo nên một xã hội có nền kinh tế phát triển cao và có một chế độ tiên tiến vững chắc. Lúc ấy chúng ta mới có điều kiện phát triển con người mới toàn diện. Những điều kiện để xây dựng con người mới là như vậy. Vì thế Đại hội lần thứ IV của Đảng vạch ra rằng : hoàn cảnh nước ta đòi hỏi chúng ta và cho phép chúng ta xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi đã có sự phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Con đường xây dựng con người mới như thế thể hiện đúng những luận điểm cơ bản của Đảng ta và nó đang được thực hiện sinh động trong thực tiễn nước ta.
Việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Có hàng loạt vấn đề phải giải quyết, trong đó có những vấn đề có liên quan giữa ngành văn hóa và các ngành khác, đòi hỏi tất cả các ngành, các đoàn thể phải có sự hợp tác xã hội chủ nghĩa, sự phân công, phối hợp khoa học nhằm bảo đảm thúc đẩy ba cuộc cách mạng cũng như việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa đạt được mục tiêu mà Đại hội lần thứ IV của Đảng ta đã đề ra.

III
Xây dựng nền văn hóa mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc
Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, phần đề cập đến nhiệm vụ cụ thể của các ngành trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, có đoạn viết :
“Mấy chục năm qua, về cơ bản chúng ta đã xây dựng được một nền văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa bao gồm các ngành : văn học, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, múa, xiếc, kiến trúc, v.v… mang bản sắc dân tộc khá phong phú, tác động khá sâu sắc vào đời sống tinh thần và tình cảm của nhân dân. Với những thành tựu đã đạt được chủ yếu trong việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn học, nghệ thuật nước ta xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”.
Đó là sự nhận định và đánh giá cao của Đảng đối với nền văn học, nghệ thuật của ta trong thời gian vừa qua.
Văn kiện viết tiếp :
“Cách mạng cả nước đang đặt ra những vấn đề mới, cuộc sống đang có những đòi hỏi mới đối với văn học, nghệ thuật. Nền văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa của ta cần ra sức phấn đấu nhằm sáng tạo những hình tượng nghệ thuật cao đẹp và phong phú về xã hội mới và con người mới, về giai cấp công nhân và giai cấp nông dân tập thể, về tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, về cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân, phản ánh chủ nghĩa anh hùng cách mạng và những phẩm chất cao quý của nhân dân ta. Phải khẳng định mạnh mẽ chế độ mới, lối sống mới và đạo đức mới, phát huy những truyền thống dân tộc tốt đẹp và những truyền thống cách mạng của nhân dân ta. Phấn đấu để có được những công trình và tác phẩm nghệ thuật có tầm vóc lớn, có trình độ khái quát cao về chiến công và kỳ tích của những con người Việt Nam đánh thắng bọn đế quốc Pháp, Mỹ, làm nổi bật sức mạnh phi thường của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội nhằm cổ vũ, thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mãi mãi nêu gương cho những thế hệ mai sau. Cần đặc biệt chú trọng miêu tả những tập thể và cá nhân lao động ưu tú trên con đường tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, những chiến sĩ thi đua đang chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu. Cần dành vị trí xứng đáng cho những bà mẹ, những chị em phụ nữ trung hậu, đảm đang và vô cùng dũng cảm, những đồng bào dân tộc ít người chung sức, chung lòng cùng cả nước đánh giặc và xây dựng cuộc sống mới. Hết sức coi trọng thiếu nhi, tương lai của dân tộc và thanh niên, lực lượng xung kích hiện nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.
Trên đây, văn kiện của Đảng đã nêu lên nhiệm vụ, đối tượng miêu tả, đối tượng phục vụ của văn học, văn nghệ của ta.
Về phương pháp sáng tác, văn kiện nhấn mạnh : “Văn nghệ của ta không chỉ ca ngợi những con người mới, những việc làm tốt đẹp trong xã hội, mà còn phê phán nghiêm khắc và có hệ thống những hiện tượng tiêu cực trong đời sống, những tàn dư của xã hội cũ, những di hại của “văn hóa” thực dân cũ và mới. Cần đứng trên lập trường cách mạng và dùng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để vạch đúng nguồn gốc của cái xấu, đề ra cách giải quyết, cuối cùng đạt mục đích khẳng định cái tốt, bồi đắp thêm lòng tin vào chủ nghĩa xã hội”.
Văn kiện đặc biệt nhấn mạnh đến văn học, văn nghệ quần chúng : “Phát triển mạnh mẽ phong trào văn học, văn nghệ quần chúng làm cơ sở cho nền văn học, văn nghệ mới. Những người làm công tác văn học, văn nghệ chuyên nghiệp có trách nhiệm lớn đối với phong trào này, cần góp phần tích cực nâng cao năng lực sáng tạo và trình độ thưởng thức nghệ thuật của nhân dân lao động, nâng cao chất lượng và các hình thức hoạt động văn học, văn nghệ của quần chúng. Các cấp ủy Đảng, các cơ quan chính quyền cũng như các đoàn thể công nhân, thanh niên, phụ nữ phải chăm sóc những hoạt động văn học, văn nghệ của quần chúng, coi đó là một công tác quan trọng của mình. Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia hoạt động văn học, văn nghệ và bảo đảm cho nhu cầu về thưởng thức và hoạt động văn học, văn nghệ của nhân dân ta từ thành thị đến nông thôn, từ nơi đông người đến những vùng xa xôi hẻo lánh, được đáp ứng ngày càng đầy đủ”.
Về nhiệm vụ của những người làm công tác văn học, văn nghệ, văn kiện Đại hội Đảng xác định :
“Để văn học, nghệ thuật đáp ứng được những yêu cầu mới của cách mạng, đội ngũ văn nghệ sĩ phải được bồi dưỡng về thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lê nin, về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phải gắn bó với nhân dân lao động, với thực tiễn cách mạng. Đội ngũ đó cần được mở rộng, không ngừng thu hút những lực lượng trẻ. Giúp đỡ văn nghệ sĩ ở những vùng mới giải phóng để anh chị em ngày càng tiến bộ về chính trị và tư tưởng, gắn bó với cách mạng, đem tài năng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Đảng ta khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi và khám phá cái mới, đồng thời cũng đòi hỏi anh chị em có ý thức đầy đủ về sứ mệnh cao cả của mình, kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật, trong cuộc đấu tranh bảo vệ đường lối văn nghệ cách mạng, chống mọi khuynh hướng tư sản và cơ hội chủ nghĩa trong văn nghệ, chống ảnh hưởng tai hại của văn nghệ hiện đại chủ nghĩa, chống các bệnh công thức chủ nghĩa, sơ lược, tự nhiên chủ nghĩa, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để cho sự nghiệp văn học, nghệ thuật phát triển tốt đẹp và vững vàng, cần tăng cường công tác phê bình và nghiên cứu văn học, nghệ thuật”.
Trên đây là những đoạn nói về công tác văn hóa, văn học nghệ thuật trong văn kiện của Đại hội lần thứ IV của Đảng. Những đoạn trích này bao gồm rất nhiều vấn đề có giá trị lớn về lý luận cũng như về thực tiễn. Từ những đoạn trích này có thể nêu lên những vấn đề cơ bản về nội dung và tính chất của nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa như sau :
- Nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc,
- Đó là nền văn hóa có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc,
- Nền văn hóa ấy được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa,
- Nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa vừa kết tinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của văn minh loài người,
- Nền văn hóa mới của chúng ta là sự kết hợp hài hòa những tinh hoa và phong cách riêng của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam,
- Xây dựng nền văn hóa mới là quá trình bồi đắp tư tưởng của giai cấp công nhân, những tình cảm lành mạnh, những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc,
- Xây dựng nền văn hóa mới đồng thời với việc đấu tranh quét sạch ảnh hưởng của nền văn hóa thực dân, tư sản, phong kiến và những tàn dư lạc hậu trong xã hội cũ,
- Nhiệm vụ trung tâm của nền văn hóa này là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tóm lại, những ý chính về nội dung và tính chất của nền văn hóa mới là như vậy. Những điều nêu ra ở trên có tính chất vạch phương hướng để xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta. Căn cứ vào đó, chúng ta sẽ xem xét, đối chiếu những nhận thức chưa đầy đủ hoặc không đúng với đường lối của Đảng, làm sao cho đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng được quán triệt đầy đủ trong nhận thức và trong thực tiễn.
Xây dựng nền văn hóa mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc là sự giải quyết mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính dân tộc trong lĩnh vực văn hóa. Chỉ đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, nắm vững học thuyết Mác – Lê nin và tư tưởng làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, quán triệt đường lối cách mạng và đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng mới có thể xây dựng được nền văn hóa mới của dân tộc. Nền văn hóa đó thực sự độc lập, không lai căng, xóa bỏ được những ảnh hưởng xấu của nền văn hóa thực dân, phong kiến và những tàn dư lạc hậu trong xã hội cũ, phát huy đầy đủ những tinh hoa và bản sắc quý báu trong truyền thống bốn nghìn năm lao động, đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Chung quanh vấn đề nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có ý kiến hỏi tại sao trước đây có lúc người ta nói nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc nay lại khẳng định nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Hai cách nói thì có gì khác nhau không ? Đúng là có sự khác nhau. Nói nền văn hóa mới của chúng ta có nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc là chưa thật đúng và không đầy đủ, là có phần tách rời nội dung với hình thức. Tính chất dân tộc không phải chỉ thể hiện ở trên hình thức mà còn thể hiện cả trong nội dung nữa. Khẳng định nền văn hóa mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc thì đã có hàm ý nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải mang tính chất dân tộc. Không có nền văn hóa nào tách khỏi dân tộc, kể cả văn hóa xã hội chủ nghĩa. Đó là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứ không phải nền văn hóa xã hội chủ nghĩa nói chung nữa.
Nội dung và hình thức quan hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời nhau. Trước đây khi bàn về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, có khi ta áp dụng phương châm “bình cũ rượu mới”. Một vài trường hợp nói như thế có thể đúng. Nhưng nhìn chung, nói như thế là đã tách rời nội dung với hình thức. Hình thức là một phạm trù lịch sử, nó luôn luôn thay đổi cho phù hợp với nội dung. Nội dung phát triển đến một mức nào đó đòi hỏi phải có một hình thức tương ứng với nó. Rượu mới mà rót vào bình cũ thì có thứ bình cũ chứa được, có thứ bình cũ không chứa nổi và vỡ tung ra. Thực tiễn hoạt động văn hóa, văn nghệ đã chứng minh điều đó. Chẳng hạn trong sân khấu tuồng cổ của ta, khi diễn tả một ông tướng thì ông tướng đó thường đeo cờ và đội mũ lông công, mặc áo giáp, đi hia, tay cầm roi ngựa … Đấy là hình thức một ông tướng cũ. Nếu đưa nội dung xã hội chủ nghĩa vào, chúng ta cũng để cho các vị tướng hiện nay thể hiện ra dưới hình thức ông tướng tuồng ngày xưa, có được không ? Chắc chắn không được. Nội dung nền văn hóa mới rất phong phú, nó lấy chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác và Lê – nin và tư tưởng làm chủ tập thể là cơ sở tư tưởng. Nó phản ánh hiện thực của đất nước ta đang tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền văn hóa mới đó “phản ánh cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi. Không những nó chỉ thể hiện cuộc sống mới và con người mới, mà còn tích cực góp phần thúc đẩy cuộc sống mới phát triển, góp phần sáng tạo và giáo dục con người mới” (Những bức thư của Ban chấp hành trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 26). Với những nội dung đó đòi hỏi phải có hình thức tương ứng. Hình thức ấy có khi xuất hiện ngay, có khi phải cần một quá trình mới xuất hiện.
Về nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc của văn hóa mới còn nhiều điều phải quan niệm cho rõ hơn, đúng hơn.
Trước hết, phải hiểu mối quan hệ giữa dân tộc và thế giới để hiểu tính chất dân tộc trong bối cảnh ngày nay khi có sự giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới. Ngày nay vốn văn hóa của mỗi dân tộc không tách rời vốn văn hóa thế giới. Có những vốn văn hóa thế giới, không phải của riêng một dân tộc nào, nó là của chung tất cả các dân tộc. Mỗi dân tộc, kế thừa và tiếp thu vốn văn hóa đó, biến nó thành tài sản của dân tộc mình. Thí dụ cụ thể nhất là điện ảnh. Điện ảnh không phải của dân tộc ta, nó là của thế giới. Thế nhưng bây giờ chúng ta phát triển một nền điện ảnh dân tộc Việt Nam ngày càng lớn, càng hoàn chỉnh. Nếu có ý kiến cho rằng điện ảnh không phải là nghệ thuật dân tộc, phải phế bỏ loại hình nghệ thuật này đi thì chắc chắn ý kiến đó sẽ bị phản đối mạnh mẽ. Khi chúng ta đã tiếp thu vốn văn hóa thế giới để biến thành tài sản của dân tộc thì phải tiến kịp các trào lưu, trình độ và kỹ thuật của thế giới. Đặc biệt, khi vốn văn hóa chúng ta đã là một bộ phận của vốn văn hóa thế giới thì chúng ta không thể làm ngơ trước sự phát triển của nghệ thuật thế giới, mà phải theo dõi chặt chẽ sự phát triển này để có phương hướng phát triển nền nghệ thuật của chúng ta. Ta không thể nói rằng điện ảnh Việt Nam chỉ cần phim đen trắng và không sản xuất phim màu. Không được. Thế giới đang trên đà không sản xuất phim đen trắng nữa, chuyển sang sản xuất phim màu, ta cũng phải làm sao có phim màu. Người ta làm màn ảnh hẹp rồi chuyển sang làm màn ảnh rộng, ta cũng phải có màn ảnh rộng, bởi vì chúng ta phải dự thi, trao đổi văn hóa và cả kinh doanh với thế giới nữa. Tính chất dân tộc của nền văn hóa trong điều kiện như vậy thật không đơn giản. Chúng ta phải xây dựng một nền điện ảnh dân tộc Việt Nam không giống với bất cứ một nền điện ảnh nào trên thế giới. Còn thế nào là nền điện ảnh dân tộc Việt Nam ? Đây lại là vấn đề mà những người hoạt động trong ngành điện ảnh phải nghiên cứu.
Bóng đá có phải là môn thể dục thể thao của dân tộc ta đâu mà ta cũng chẳng cần biết nguồn gốc nó ở đâu. Nhưng Việt Nam phải có nền bóng đá của mình và ta sẽ đi thi đá bóng thế giới. Y phục của dân tộc ta cũng vậy. Bây giờ chúng ta mặc quần áo không giống ông cha ta ngày xưa. Và trong đời sống hàng ngày còn rất nhiều ví dụ tương tự như vậy. Thế giới đang có sự giao lưu mạnh mẽ, giữa thế giới và dân tộc không tách ra được. Âm nhạc các nước không ngớt được chuyển qua làn sóng điện, dù có cấm đoán vẫn có người nghe. Quan hệ giữa dân tộc và thế giới là quan hệ hai chiều. Một mặt, ta phải tiếp thu vốn văn hóa của thế giới ; mặt khác, ta phải đóng góp vào vốn văn hóa thế giới. Văn hóa Việt Nam đã có những thành tựu đáng tự hào. Hơn nữa, sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược, Việt Nam có vai trò chính trị rất lớn trên thế giới. Thế giới đòi hỏi Việt Nam phải đóng góp vốn văn hóa của mình vào kho tàng văn hóa thế giới. Trong liên hoan âm nhạc, điện ảnh, liên hoan ca khúc, triển lãm sách, triển lãm nghệ thuật tạo hình … thế giới, người ta đòi hỏi Việt Nam phải góp phần mình vào vốn văn hóa thế giới.
Ta tiếp thu văn hóa thế giới, đồng thời phải góp vào kho tàng văn hóa thế giới. Ta phải thấy mối quan hệ hai chiều để suy nghĩ về tính dân tộc trong điều kiện như vậy.
Vấn đề thứ hai trong nội dung của tính chất dân tộc là phải phân biệt dân tộc cổ truyền và dân tộc hiện đại. Hiện nay có quan niệm sai lệch cho rằng cái gì cổ mới là của dân tộc, còn những gì mới, hiện đại thì không dân tộc. Ví dụ âm nhạc thì phải nhị, hồ, đàn nguyệt … mới là dân tộc, còn vi-ô-lông và pi-a-nô là không dân tộc, dù rằng vi-ô-lông cũng kéo “Người ơi, người ở đừng về” chẳng hạn.
Trong đời sống văn hóa hiện nay chúng ta cần chú ý bốn hiện tượng cùng tồn tại từ những vốn cổ nguyên thủy đến những sáng tác mới, hiện đại.
Một là, vốn cổ truyền nguyên dạng. Loại này chúng ta sẽ tiếp tục khẩn trương sưu tầm, tổ chức bảo tồn tốt để nghiên cứu, hệ thống hóa, phát triển nhằm bảo đảm tính liên tục trong phát triển văn học nghệ thuật ;
Hai là, vốn cổ truyền đã được cải biên một cách tự phát. Loại này ta chú ý nghiên cứu rút kinh nghiệm để tiếp thu những yếu tố hợp lý cho phương hướng phát triển ;
Ba là, dựa vào cơ sở vốn cổ sáng tạo ra những tác phẩm mới, thể hiện cuộc sống mới mang âm hưởng dân tộc cổ truyền. Đây là sự cải biến có ý thức, hình thức này cần được khuyến khích mạnh mẽ ;
Bốn là, sáng tác với hình thức mới, thể loại mới. Loại này cũng cần được khuyến khích phát triển.
Bốn hiện tượng nói trên cùng xuất hiện từ trong cuộc sống và cùng tồn tại. Thế nhưng cũng có những vấn đề cần giải quyết vì có những thái độ phủ nhận hiện tượng này hay hiện tượng khác. Đối với hiện tượng thứ nhất tức là vốn cổ truyền nguyên dạng, có người cho là không cần thiết, có nhiều người cho nó quá cổ, không còn phù hợp với cuộc sống hiện nay nữa. Đó là thái độ phủ nhận hoàn toàn. Cũng lại có thái độ khác cho là chỉ có cái nguyên thủy mới là dân tộc, còn sai đi một tý thì không phải dân tộc nữa.
Đối với hiện tượng thứ hai cũng thế, cũng có thái độ phủ nhận, cho rằng không được làm sai cái nguyên thủy đi, như thế là lai căng, là mất gốc.
Đối với hiện tượng thứ ba, nói chung, không có ai phản đối, đó là hiện tượng tốt nhất, nhưng những thành công của nó chưa nhiều.
Đối với hiện tượng thứ tư cũng có thái độ phủ nhận, người ta cho rằng nó không dính dáng gì đến vốn cổ dân tộc, đó là ngoại lai, vì thế không thể chấp nhận được.
Những thái độ phủ nhận đối với những hiện tượng trên đây đều không đúng. Khi ta nói văn hóa dân tộc là hàm ý nói nó bao gồm cả vốn văn hóa cổ truyền và vốn hiện nay. Tính dân tộc không dừng lại một chỗ mà nó phát triển không ngừng, thời kỳ sau bổ sung cho thời kỳ trước. Thời đại ngày nay cho phép chúng ta có điều kiện làm cho nền văn hóa của ta có tầm vóc xứng đáng với dân tộc và thời đại. Vì vậy, vốn cổ truyền cũng là của ta, vốn hiện đại cũng là của dân tộc ta. Bây giờ có những tác phẩm, mới nhìn qua có vẻ ít dính dáng đến truyền thống dân tộc nhưng nói về con người Việt Nam, đất nước Việt Nam, sự nghiệp cách mạng Việt Nam do chính những con người Việt Nam làm ra. Vậy nó là của ai, chẳng lẽ nó phi dân tộc à ? Trước đây ở Bộ Văn hóa có hai đoàn nghệ thuật : đoàn “Ca nhạc dân tộc”, đoàn này dùng các nhạc cụ dân tộc như đàn bầu, sáo trúc, krông-pút, … và hát dân ca quan họ như “Người ơi, người ở đừng về”, hát cả những bài mới như “Khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”, “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người”, “Tiếng đàn bầu”, … Bên cạnh đó có đoàn “Ca múa nhạc” (không có chữ gì kèm theo). Đoàn này dùng ắc-coóc-đê-ông, ghi-ta, vi-ô-lông, … thế nhưng cũng diễn những bài “Người ơi, người ở đừng về”, rồi cũng “Từ thành phố này Người đã ra đi …”, “Đi mô …” và cũng độc tấu đàn bầu. Phải chăng đoàn trước là đoàn dân tộc còn đoàn sau là đoàn phi dân tộc ? Đoàn sau cũng là đoàn dân tộc. Bây giờ hai đoàn trên nhập lại thành đoàn “Ca múa nhạc Việt Nam”. “Việt Nam” thì gồm cả vốn của Việt Nam ngày xưa và cả vốn Việt Nam ngày nay. Nếu phân làm hai đoàn như trước đây thì người ta cứ tưởng chỉ có nhị, đàn nguyệt, hồ … mới là của dân tộc còn pi-a-nô, vi-ô-lông không phải là dân tộc ; pi-a-nô, vi-ô-lông cũng giống như điện ảnh và bóng đá, cũng như ngày nay ta mặc sơ mi và cả “măng tô san” … Nói dân tộc thì bao gồm dân tộc cổ truyền và dân tộc hiện đại. Đối với vốn cổ truyền nguyên thủy ta phải trân trọng, duy trì nó lâu dài về sau để con cháu chúng ta biết được vốn có. Đối với loại vốn cổ này phải nói rằng chúng ta chưa thu thập được hết, chưa hệ thống hóa và chưa đánh giá đầy đủ. Vốn của ta có được đến đâu, vốn to hay vốn nhỏ, vốn quý hay không quý, chúng ta chưa có câu trả lời chính xác. Đánh giá vốn cổ dân tộc của ta như thế nào, bây giờ còn nhiều vấn đề phức tạp. Người nước ngoài khen và chê có nhiều lý do cần phải suy nghĩ. Hiện nay, văn hóa văn nghệ nhiều nước phương Tây đang bế tắc, lao vào những khuynh hướng đồi bại, trừu tượng, hình thức, cố tìm những phương hướng để phát triển. Nhiều người đi tìm “của lạ”. Khi vào ta, họ bắt gặp cái nguyên thủy của vốn cổ, nên đối với họ càng nguyên thủy họ cho càng hay. Họ không muốn cho ta phát triển, muốn giữ chúng ta ở mãi tình trạng nguyên xi để họ thưởng thức. Nhiều người làm công tác văn hóa, văn nghệ, khi nghiên cứu tìm ra được cái gì trong vốn cổ thì thường hay dùng chữ “tuyệt vời”, “tuyệt đỉnh”, “nhất thế giới”, … Nếu như vậy thì ta cần tiến tới đâu nữa, vì đây là đỉnh rồi ? Và phải chăng những chuyện mà ông cha chúng ta làm cách đây hàng 100 năm, bây giờ lại là đỉnh cao của chủ nghĩa xã hội sao ? Những vốn cổ, chúng ta phải bảo tồn, phải sưu tầm thêm, hệ thống hóa và đánh giá một cách khách quan, khoa học. Chỉ có trên cơ sở biết chắc vốn cổ của ta có những gì, ta mới làm chủ được vốn mới bây giờ.
Đối với hiện tượng văn hóa cổ truyền không giữ nguyên dạng mà tự nó thay đổi trong đời sống thì chúng ta không thể phủ nhận nó được. Chúng ta phải theo dõi, quan sát nó, từ đó rút ra quy luật để giúp cho các nghệ sĩ có sáng tạo về sau. Tại sao nó lại thay đổi như thế này mà lại không thay đổi khác đi. Vấn đề đó chúng ta phải quan tâm, chú ý tìm hiểu. Nếu bảo là lai căng, là mất gốc, là vong bản thì không đủ sức thuyết phục, phải theo dõi rút ra bài học bổ ích, có lý luận, có sự phân tích khoa học.
Còn đối với hiện tượng thứ ba, hiện tượng dựa vào cơ sở vốn cổ sáng tạo ra những tác phẩm mới, đây là hiện tượng rất tốt, cần khuyến khích mạnh mẽ.
Đối với hiện tượng thứ tư, hiện tượng sáng tác mới hoàn toàn, chúng ta cũng phải khuyến khích. Ta khuyến khích việc tìm tòi cái mới cho dân tộc. Nhưng thường thường cái gì đã mới thì nó lạ, mà nó lạ thì ta chưa quen, mà chưa quen thì người ta chưa thích, mà chưa thích thì nhiều khi người ta lại phản đối, mà phản đối thì không khuyến khích việc tìm tòi cái mới. Khuyến khích sáng tạo, tìm tòi cái mới trong điều kiện hiện nay, khi mà nhiều người trên thế giới không bằng lòng với những cái cũ, xóa sạch cái cũ, đi tìm cái mới và tìm mãi những cái mới đến mức không là cái gì cả ! Tìm tòi cái mới trong điều kiện như vậy có nhiều vấn đề phức tạp. Đảng ta luôn luôn khuyến khích tìm tòi cái mới, nhưng cái mới phải trên cơ sở hiện thực của đất nước ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và trên cơ sở nhiệm vụ chính trị, cách mạng. Văn hóa, nghệ thuật phải gắn chặt với nhiệm vụ chính trị, cách mạng và yêu cầu của đời sống nhân dân. Phải khắc phục khuynh hướng tách rời văn hóa, văn nghệ với chính trị bất cứ dưới một dạng nào. Những người hoạt động văn hóa, nghệ thuật phản ánh hiện thực, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng là biểu hiện quyền làm chủ tập thể của mình. Do đó nghĩa vụ và quyền lợi của văn nghệ sĩ là phải gắn chặt tâm hồn và hoạt động của mình với nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu thẩm mỹ của nhân dân. Gắn chặt với nhiệm vụ chính trị là thể hiện tính đảng và tính nhân dân của văn nghệ sĩ. Phải chống chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hình thức. Nhưng thường thường, việc tìm tòi cái mới hay nhầm lẫn với chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hình thức. Phải phân biệt đâu là cái mới chân chính và đâu là chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hình thức. Việc này thuộc trách nhiệm của các nhà nghiên cứu nghệ thuật. Trong hội họa và âm nhạc cũng đang có tình trạng này. Một ông nhạc sĩ ra sân khấu, đậy nắp đàn lại, rồi lại mở nắp đàn ra, rồi lại đậy nắp đàn lại, ba lần như vậy, cúi đầu chào khán giả. Người giới thiệu giải thích rằng, nhạc sĩ đó vừa trình bày một bản xô-nát tên là “Im lặng” gồm 3 chương (!). Đó là một thứ kỳ quái ! Còn hội họa thì thế này : họa sĩ không cầm bút vẽ nữa mà buộc bút vào đuôi chó, đuôi khỉ cho nó chạy trên mặt vải, ra cái gì thì đặt cho nó tên một bức tranh … Đây là chủ nghĩa hiện đại, hình thức chủ nghĩa một cách lố bịch, kỳ quái. Đây cũng là sự bế tắc cùng cực của nghệ thuật tư sản. Chúng ta khuyến khích tìm tòi cái mới, nhưng nếu không khéo thì sáng tác sẽ đi vào xu hướng như thế. Rơi vào xu hướng như thế thì nghệ thuật không đi đến đâu cả và nó không mang lại điều gì bổ ích về đời sống tinh thần cho nhân dân. Việc tìm tòi cái mới chân chính có nhiều khó khăn nhưng nói chung phải khuyến khích tìm tòi cái mới. Còn mới như thế nào thì phải dựa trên hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa cung cấp cho nghệ sĩ một thế giới quan tiên tiến, một lý tưởng thẩm mỹ chân chính, luôn luôn đem đến cho mình những cảm xúc lành mạnh, sôi nổi, hòa nhịp với cảm xúc của Đảng, của nhân dân, từ đó mà có cái nhìn sự vật phát triển một cách chính xác, theo đúng quy luật của nó, theo đúng bản chất của nó. Mới mà thoát ra khỏi hiện thực xã hội chủ nghĩa thì kết quả mang lại sẽ vô ích. Nhiều trường hợp chủ quan của nghệ sĩ chưa phù hợp với khách quan, cho nên tác phẩm làm ra người xem không thích và không hiểu nổi. Có nghệ sĩ nói rằng phải 300 năm nữa người đời mới hiểu được anh ta ! Ai mà sống được 300 năm để hiểu cho tường tận nghệ sĩ ấy được ? Nếu ai cũng nói như vậy thì khó thuyết phục lắm. Xã hội xã hội chủ nghĩa không có “ẩn sĩ”, bởi lẽ chủ nghĩa xã hội luôn luôn chắp cánh cho những hoài bão sáng tạo của nghệ sĩ, mở ra con đường rực rỡ cho mọi tài năng phát triển. Do đó, phải làm cho rõ thế nào là hiện thực xã hội chủ nghĩa để mà tìm tòi, để mà sáng tạo. Có những tác phẩm rất lạ, người xem không biết phê phán thế nào. Rõ ràng bảo sai thì chưa chắc đã sai, bảo rằng đúng thì chưa chắc đã đúng, nhưng người xem không thích. Nghe các nghệ sĩ trình bày thì đúng là có tâm huyết và có ý định tốt nhưng nhìn vào tác phẩm thì tượng không ra tượng, tranh không ra tranh, nhạc không ra nhạc, …
Xung quanh vấn đề nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc có nhiều chuyện phức tạp như vậy. Nhiệm vụ của chúng ta là phải đi sâu, làm chủ được vốn dân tộc ; phải bảo tồn, sưu tầm đầy đủ, hệ thống hóa vốn dân tộc, phải có những hội nghị khoa học đánh giá chính xác, đi đến kết luận vốn dân tộc ta có gì đặc sắc, tạo ra chỗ dựa cho các nhà sáng tác. Vấn đề dân tộc cổ truyền và dân tộc hiện đại đang có vấn đề phức tạp như vậy.
Một vấn đề nữa trong tính dân tộc của nền văn hóa mới của chúng ta là giải quyết đúng đắn mối quan hệ về văn hóa giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam. Nước ta có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Chủ trương của Đảng ta là phải củng cố và tăng cường quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc anh em, xem trọng tất cả các nền văn hóa, văn nghệ của các dân tộc anh em. Văn hóa dân tộc nào cũng có vẻ đẹp riêng. Tuy nhiên không thể phát triển nhiều nền văn hóa dân tộc đối lập với nhau trong một quốc gia thống nhất. Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc. Nền văn hóa này là sự kết hợp hài hòa những phong cách riêng của văn hóa các dân tộc anh em sống trong Tổ quốc chung, tựa như những bông hoa thơm, đẹp nở rộ trong vườn hoa muôn sắc ngàn hương của dân tộc. Kế thừa và phát huy tinh hoa của tất cả các dân tộc anh em, cần phải tôn trọng các phong cách khác nhau để làm giàu thêm nền văn hóa chung, nhưng phải hài hòa trong một phong cách chung Việt Nam. Cần phát triển việc giao lưu và trao đổi văn hóa giữa các dân tộc, giữa các địa phương trong cả nước. Phải kết hợp những nét đặc sắc của các địa phương vào trong cái chung của toàn quốc. Mỗi địa phương làm công tác văn hóa, xây dựng những công trình văn hóa phải đem những đặc điểm của địa phương đặt trong cái chung của cả nước, không đem đặc điểm của địa phương đối chọi lại cái chung của cả nước. Đứng về phương diện cả nước, phải khuyến khích các địa phương tìm tòi những đặc sắc của mình để làm cho văn hóa toàn quốc phong phú và đa dạng. Nền văn hóa của ta là nền văn hóa nhiều dân tộc, phong phú, đa dạng nhưng thống nhất. Đồng hóa toàn bộ các dân tộc trong nước, không phát huy sắc thái của mỗi dân tộc là sai lầm, trái với đường lối của Đảng. Nhưng quá nhấn mạnh tính đặc thù của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, làm phương hại đến tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam cũng trái với đường lối của Đảng. Để vun đắp cho nền văn hóa dân tộc, có ba xu hướng cần phải phê phán : một là, chống tư tưởng dân tộc lớn, hai là, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ba là, chống tự ty dân tộc.
Dân tộc ta là dân tộc xã hội chủ nghĩa, nghĩa là nó phải mang tính chất giai cấp, mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Tính dân tộc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa phải là sự kết tinh của những gì quý báu nhất, những nét đẹp đẽ nhất của truyền thống dân tộc ta, đồng thời nó phải tạo nên những gì của nó là mới, hiện đại. Việc tiếp thu vốn cũ, dù vốn đó có đẹp đẽ, phong phú đến đâu cũng không đủ. Phải tạo nên cái gì là máu thịt của chủ nghĩa xã hội, phải bồi đắp tư tưởng của giai cấp công nhân vào nền văn hóa dân tộc, những cái mới này được tạo nên trên cơ sở truyền thống. Tính dân tộc xã hội chủ nghĩa là tính dân tộc biết tiếp thu những gì tốt đẹp nhất trong di sản văn hóa của dân tộc và thế giới. Song kế thừa vốn văn hóa cũ của dân tộc và thế giới trên lập trường giai cấp vô sản, nghĩa là không phải bất cứ cái gì của ông cha để lại, cái gì của thế giới chúng ta cũng phải kế thừa, tiếp thu, phát triển tất cả.
Theo chủ nghĩa Mác – Lê nin thì một nền văn hóa bao giờ cũng dính chặt với một dân tộc. Dân tộc gần như là bản chất của nền văn hóa. Nói đến văn hóa tất yếu phải nói đến dân tộc. Nhưng trong một xã hội có giai cấp thì bao giờ một nền văn hóa cũng có 2 dòng : một dòng của giai cấp thống trị tức là nền văn hóa thống trị, lúc bấy giờ nó đại biểu cho quyền lợi của giai cấp thống trị ; bên cạnh đó, nhân dân lao động luôn luôn chống lại giai cấp thống trị, cũng có một nền văn hóa riêng của mình và dòng văn hóa ấy thông thường là nền văn hóa dân gian và nhiều khi nó phải tồn tại bất hợp pháp. Vì vậy, khi ta kế thừa vốn văn hóa cổ phải chú ý một sự thật lịch sử như vậy. Nói chúng ta phải kế thừa, chủ yếu là dòng văn hóa của nhân dân lao động, dòng văn hóa trước đây là bất hợp pháp. Còn dòng văn hóa của giai cấp thống trị thì tuy đó là của giai cấp thống trị, nhưng nó cũng là kết quả sáng tạo của nhân dân lao động mà giai cấp thống trị đã chiếm hữu làm của riêng để phục vụ quyền lợi của chúng. Cho nên, trong dòng văn hóa của giai cấp thống trị có những yếu tố sáng tạo của nhân dân lao động, yếu tố tiến bộ, chúng ta phải biết chắt lọc những yếu tố này, chứ không thể kế thừa một cách tràn lan. Nhưng cũng không phải bất cứ cái gì của giai cấp thống trị chúng ta đều gạt bỏ tất cả. Và ngay dòng văn hóa bất hợp pháp của nhân dân lao động thời trước cũng không loại trừ những yếu tố tiêu cực, những yếu tố này đã bị dòng văn hóa hợp pháp, dòng văn hóa “chính thống” của giai cấp thống trị tác động vào. Cho nên khi kế thừa, ta phải biết chọn lọc và phải biết giải quyết mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính giai cấp cho thỏa đáng. Có như vậy mới bảo đảm phát triển tính dân tộc trong nền văn hóa của chúng ta một cách chính xác và đúng đắn được.
Trong việc tiếp thu vốn văn hóa cũ, Đảng ta chủ trương nền văn hóa của chúng ta không những biết hấp thụ và nâng lên một tầm cao mới những gì đẹp nhất trong truyền thống bốn nghìn năm của tâm hồn Việt Nam, của văn hóa Việt Nam mà còn phải biết hấp thụ có chọn lọc những thành quả văn minh của loài người và những thành tựu văn hóa, khoa học hiện đại.
Nền văn hóa thế giới do nhiều dân tộc đóng góp. Nhiều nền văn hóa dân tộc tạo ra nền văn hóa thế giới. Tính thế giới của văn hóa là do những cái tốt đẹp của nhiều nền văn hóa dân tộc xây dựng nên, chứ không phải đã có một nền văn hóa thế giới và các dân tộc chỉ việc biểu hiện những nhân tố của văn hóa thế giới. Văn học, nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, kiến trúc thế giới cũng vậy. Nó do nhiều dân tộc đóng góp. Văn minh của loài người là một kho tàng quý báu. Chúng ta phải hấp thụ có chọn lọc để làm phong phú thêm đời sống văn hóa của nhân dân ta. Học tập những tinh hoa văn hóa thế giới để sáng tạo nên những giá trị văn hóa dân tộc hiện đại và nâng những giá trị văn hóa của dân tộc ta lên ngang tầm quốc tế, đóng góp vào kho tàng văn hóa của loài người. Trong việc tiếp thu vốn văn hóa thế giới cần phân biệt rõ những giá trị đã thành tài sản của thế giới và giá trị văn hóa của riêng từng nước. Đối với những giá trị văn hóa đã trở thành tài sản của thế giới, trở thành cái chung của nhân loại, ta cần tiếp thu một cách sáng tạo, làm cho thích ứng với đặc điểm Việt Nam. Đối với những giá trị văn hóa của từng nước, ta cần nghiên cứu, tiếp thu có phê phán, chọn lọc. Từ chối các giá trị văn hóa của thế giới hoặc hấp thụ nguyên xi đều không đúng với quan điểm của Đảng ta.
Đại hội lần thứ IV của Đảng khẳng định : “nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, nền văn hóa đó không những có tính Đảng mà còn mang tính nhân dân sâu sắc”.
Quán triệt chân lý quần chúng sáng tạo ra lịch sử và vai trò của họ đối với văn hóa, văn nghệ, Đảng ta chủ trương ra sức xây dựng nền văn hóa mới, từng bước xây dựng nước ta thành một xã hội văn hóa cao. Nền văn hóa cao là một nền văn hóa mà nhân dân thực sự làm chủ tập thể về văn hóa. Thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động về văn hóa là tiền đề cơ bản để thu hút nhân dân vào đời sống văn hóa mới, mở đường cho nhân dân tiếp xúc với văn hóa mới, làm chủ kiến thức và các giá trị tinh thần. Nhân dân là người làm nên lịch sử, sáng tạo ra những tinh hoa văn hóa, do đó, bản thân việc thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân phải bảo đảm những nhu cầu về hưởng thụ văn hóa, phải đem đến cho nhân dân ngày càng nhiều món ăn tinh thần phong phú, đa dạng, biến mọi giá trị văn hóa thành tài sản của nhân dân. Khi đem văn hóa, nghệ thuật phục vụ quần chúng phải tránh thái độ ban ơn (thậm chí có nơi còn có thái độ cửa quyền). Thái độ này hoàn toàn trái với quan điểm phục vụ và đạo đức người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Phải tránh quan niệm (dù là cá biệt) cho trình độ quần chúng không biết thưởng thức nghệ thuật cao, từ đó chỉ phục vụ quần chúng bằng những tác phẩm nghệ thuật đơn giản, tầm thường. Đây cũng là biểu hiện của khuynh hướng tách rời nghệ thuật với nhân dân, thiếu tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân về văn hóa, rơi vào quan điểm nghệ thuật tư sản. Chúng ta cần khẳng định, quần chúng đang khao khát cái đẹp trong đời sống và quần chúng có đủ trình độ để thưởng thức nghệ thuật cách mạng. Cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải đáp ứng quyền lợi chính đáng của quần chúng.
Nhiệm vụ của những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật là phải hướng dẫn, giới thiệu một cách có hệ thống để quần chúng có thể thưởng thức, cảm thụ được tất cả những tinh hoa nghệ thuật của dân tộc và của loài người. Hơn nữa, chúng ta viết văn, làm thơ, vẽ tranh, nặn tượng, sáng tác nhạc là để cho quần chúng lao động thưởng thức. Và chỉ như thế mới phát huy được sức mạnh của nghệ thuật. Cần phải nghiên cứu thị hiếu quần chúng, nhất là đông đảo thanh niên nam nữ đang tham gia xây dựng và chiến đấu trên mọi miền đất nước. Trên thực tế, nhiều năm qua có nhiều hiện tượng thưởng thức văn hóa đối lập nhau. Có tác phẩm được Hội đồng nghệ thuật khen, quần chúng lại không hưởng ứng ; ngược lại, có tác phẩm Hội đồng nghệ thuật đánh giá thấp, nhưng quần chúng lại thích. Tranh của họa sĩ chúng ta vẽ nhân dân ít mua mà nhiều người lại đi mua tranh “bờ hồ”. Hơn nữa, ở những đô thị miền Nam, đế quốc Mỹ đã gieo rắc những thị hiếu không lành mạnh của phương Tây mà ngày nay vẫn còn dấu vết khá đậm. Do đó, nghiên cứu thị hiếu quần chúng không những để phục vụ tốt mà còn để hướng dẫn, uốn nắn các lệch lạc, nâng cao dần dần trình độ thưởng thức nghệ thuật cách mạng của quần chúng, làm cho quần chúng làm chủ được những giá trị văn hóa của dân tộc và thế giới. Đồng thời, trong việc xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng, cần tạo điều kiện cho quần chúng sáng tạo ra những giá trị văn hóa. Chúng ta cần tôn trọng tính sáng tạo của quần chúng, huy động cho được những khả năng to lớn và tiềm tàng của họ, tránh bắt ép quần chúng rập khuôn bắt chước theo kiểu chuyên nghiệp, cần ngăn ngừa chiều hướng văn nghệ nghiệp dư thoát ly sản xuất, tổ chức văn nghệ nghiệp dư “thi tài” với văn nghệ chuyên nghiệp. Cần phải tôn trọng quy luật phát triển và phong cách riêng của quần chúng, đặc biệt là ở các vùng dân tộc ít người, có như thế thì vườn hoa nghệ thuật của quần chúng mới nhiều sắc, nhiều hương và làm giàu thêm cho văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp. Cần phải làm cho phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng gắn chặt với những hoạt động văn hóa theo yêu cầu của cuộc sống mới, làm cho sự phát triển văn hóa trong quần chúng tự nó gắn chặt với tinh thần dân tộc và tính hiện đại ngay trong bản thân cuộc sống. Cần khắc phục tư tưởng coi thường những sáng tác của quần chúng. Phải tôn trọng và chú ý phát hiện những mầm non nghệ thuật để bồi dưỡng, đào tạo những tài năng mới của đất nước.
Trong quần chúng, cần đặc biệt chú trọng tầng lớp thanh niên, thiếu niên, đưa văn hóa, nghệ thuật đến với họ cũng như tạo điều kiện cho tầng lớp này sáng tạo ra văn hóa. Đây là đối tượng có trình độ văn hóa, nhạy cảm với cái mới, tiếp cận nhanh với cách mạng và cũng là lực lượng làm chủ tập thể về văn hóa nghệ thuật, có nhiều hứa hẹn cho tương lai. Văn hóa, nghệ thuật chúng ta phải trẻ, khỏe, đẹp, cho nên càng cần chú trọng phát huy quyền làm chủ tập thể của thanh, thiếu niên về văn hóa, nghệ thuật.
Việc xây dựng nền văn hóa mới phải được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư về tư tưởng và văn hóa của các chế độ cũ, đặc biệt là để nhổ tận gốc rễ những nọc độc về tư tưởng và văn hóa thực dân mới ở miền Nam. Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã nhận định : “Ở miền Nam, chủ nghĩa thực dân cũ và mới cùng với ba mươi năm chiến tranh đã để lại những hậu quả nặng nề trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng. Bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, bọn Mỹ - ngụy cố tạo ra một thứ “văn hóa” nô dịch, lai căng, cực kỳ phản động, xô đẩy một số khá đông thanh niên trong các thành thị chạy theo lối sống gấp, vị kỷ, sa đọa và ăn bám, hòng hủy hoại những giá trị văn hóa dân tộc và nếp sống lành mạnh của nhân dân ta. Đồng bào miền Nam đã kiên trì chống lại thứ văn hóa đó”. Nhận định trên đây về tình hình văn hóa ở miền Nam trước đây, đã nêu bật tính chất của văn hóa nô dịch, tác hại của nó và cuộc đấu tranh kiên trì của đồng bào miền Nam đối với thứ văn hóa đó.
Về tính chất của văn hóa thực dân mới ở miền Nam, bản chất của nó là thực dân mới, nhưng nó đã triệt để khai thác và giữ lại những di hại của văn hóa thực dân cũ thời Pháp thuộc, khai thác triệt để và giữ lại những tàn dư của xã hội phong kiến, lợi dụng chúng để thi hành chính sách ngu dân. Điều này chúng ta thấy nổi bật lên ở miền Nam sau ngày giải phóng : bên cạnh những phương tiện hiện đại của phương Tây và lối sống kiểu cách, lối sống gấp, sa đọa của phương Tây là những tập quán, hủ tục như mê tín dị đoan, lên đồng, thờ cúng … ngay giữa đường phố Sài Gòn và những đô thị lớn miền Nam. Điều đáng chú ý là một số lớn thanh niên và những kẻ giàu sang sống nhà lầu, ô tô cũng bị thu hút vào việc mê tín dị đoan, lên đồng, bà cốt …
Văn hóa thực dân mới của Mỹ thâm nhập vào miền Nam trong hoàn cảnh có chiến tranh kéo dài hơn ba mươi năm đã làm nảy sinh nhiều hậu quả nặng nề. Hơn nữa, đế quốc Mỹ thi hành chính sách văn hóa nô dịch trong thời kỳ chiến tranh nên những thủ đoạn được đem ra thực hiện, trước hết là nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh đó.
Qua từng giai đoạn, đế quốc Mỹ đã có nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt. Chúng đã đem vào xã hội miền Nam nhiều ngụy thuyết và một khối lượng văn hóa phẩm khổng lồ, cặn bã đủ loại trên thế giới, tạo ra tư tưởng, tâm lý, lối sống, thị hiếu, nô lệ, sa đọa đầy thú tính … nhằm mục đích chính trị đen tối và phục vụ cho chiến tranh phi nghĩa của chúng. Âm mưu thâm độc nhất của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai là nhằm xóa bỏ mọi giá trị văn hóa truyền thống của nhân dân ta, làm suy đồi những thế hệ trẻ, làm cho họ sống không cần nhân phẩm và làm mất hết phẩm giá con người, trách nhiệm đối với Tổ quốc, xua đuổi họ vào hàng ngũ bọn giết người hoặc tạo ra một liều thuốc an thần làm cho người dân an phận sống trong xã hội độc ác, vô luân, để ngăn chặn quần chúng tìm đến cách mạng. Âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai thật là thâm độc, tác hại do nó gây ra rất lớn. Nhưng mấy chục năm qua, nhân dân ta ở miền Nam đã kiên quyết chống lại thứ “văn hóa” đó, bảo vệ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã làm được nhiều việc nhằm xóa bỏ thứ “văn hóa” độc hại đó và làm cho văn hóa cách mạng xâm nhập vào đời sống xã hội. Dù vậy, trong vùng mới giải phóng, nhất là ở các thành thị, nọc độc và di hại của văn hóa thực dân mới vẫn còn. Đó là lối sống ăn chơi sa đọa, sống gấp, làm giả, đầu cơ tích trữ, buôn lậu, ích kỷ, hại người, … Xây dựng nền văn hóa mới, không có lý gì chúng ta lại cho phép những rác rưởi đó tồn tại. Như Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng vạch rõ : công việc này cần được tiếp tục một cách kiên trì, tích cực và triệt để.
Tóm lại, nền văn hóa mới nước ta phải là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Quan điểm đó là cái gốc, có giá trị chỉ đạo bao quát quá trình cách mạng tư tưởng và văn hóa của Đảng là hết sức đúng đắn, giúp cho mọi sự tìm tòi sáng tạo, làm cho văn hóa nước ta phát triển nhanh chóng và đúng hướng.

IV
Những việc cần làm để xây dựng nền văn hóa mới
Mục tiêu của công tác văn hóa được Đại hội lần thứ IV của Đảng vạch rõ : “ … tạo ra cho mọi người một cuộc sống tinh thần phong phú …, là biến mọi giá trị văn hóa thành tài sản của nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp sáng tạo ra các giá trị văn hóa ; là làm cho các quan hệ đối xử giữa người và người thể hiện lẽ sống tốt đẹp : “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Nhằm mục đích ấy, cần ra sức xây dựng nền văn hóa mới, từng bước xây dựng xã hội nước ta thành một xã hội “văn hóa cao”.
Nghị quyết của Đại hội Đảng cũng chỉ rõ nhiệm vụ trung tâm của cách mạng tư tưởng và văn hóa là xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lê nin và đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh quét sạch tư tưởng và văn hóa phản động, lạc hậu của các giai cấp bóc lột. Trước mắt, cần phổ biến sâu rộng Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng, tiến hành cải cách giáo dục, phát triển văn học nghệ thuật, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chống tư tưởng tư sản, quét sạch tư tưởng văn hóa thực dân kiểu mới ở miền Nam. Để thỏa mãn nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội lần thứ IV của Đảng cũng đã vạch ra những công việc phải tiến hành nhằm nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân : “… Để nâng cao kiến thức và trình độ giác ngộ cho nhân dân, phục vụ đắc lực cách mạng tư tưởng và văn hóa, phải phát triển hệ thống thư viện từ trung ương, tỉnh thành đến huyện và cơ sở. Xây dựng thói quen đọc sách báo, làm cho việc đọc sách báo trở thành một nhu cầu không thể thiếu được của mỗi người dưới chế độ mới (…). Ở các thành phố, thị xã, thị trấn, cần có kế hoạch xây dựng công viên, cung văn hóa, cung thiếu nhi. Ở các khu nhà tập thể, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học, chú ý xây dựng câu lạc bộ, nhà văn hóa. Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hóa ở các vùng dân tộc, ở miền núi và ở các hải đảo. Ngoài những trung tâm và công trình văn hóa quy mô lớn cho cả nước, ở từng vùng, tỉnh thành, huyện và xã ấp, làng bản, cần xây dựng những công trình văn hóa quy mô vừa và nhỏ mang màu sắc địa phương khác nhau, thể hiện tính phong phú của nền văn hóa chung của dân tộc ta. Đó là một phương hướng quan trọng nhằm xóa dần sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi”.
Cụ thể hóa đường lối và phương hướng trên đây của Đảng ta về công tác văn hóa, dưới đây là những việc cần làm để xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta.
Như phần đầu đã trình bày : văn hóa là toàn bộ hình thức sinh hoạt tinh thần của một xã hội nhưng những hình thức sinh hoạt tinh thần này lại được thể hiện ra và chứa đựng trong toàn bộ cơ sở vật chất, của cải vật chất của xã hội được tạo ra vào một thời đại nhất định. Cho nên, khi nói đến văn hóa, người ta có thể nói đến toàn bộ những giá trị tinh thần và vật chất của một xã hội. Xuất phát từ quan niệm như vậy về văn hóa, cho nên nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng phải bao gồm nhiều việc khác nhau. Trước hết là xây dựng cho được một hệ thống chỉ tiêu về văn hóa, trong đó có những chỉ tiêu về hưởng thụ, thưởng thức và có những chỉ tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sáng tạo về văn hóa của nhân dân ; thứ hai là xây dựng những cơ sở vật chất, những trung tâm văn hóa và những công trình văn hóa ; sau cùng là xây dựng nếp sống mới.
Từ trước đến nay, việc xây dựng kinh tế đã có một hệ thống các chỉ tiêu, còn về văn hóa thì chưa có một hệ thống các chỉ tiêu nằm trong kế hoạch nhà nước.
Chúng ta phải xây dựng cho được một hệ thống các chỉ tiêu về văn hóa bên cạnh chỉ tiêu về kinh tế. Hiện nay, chúng ta đã sơ bộ lập một hệ thống chỉ tiêu như chỉ tiêu xem phim hàng năm, xem văn công chuyên nghiệp, chỉ tiêu xuất bản sách tính theo đầu người hàng năm … Sau Đại hội lần thứ IV của Đảng, cụ thể hóa phương hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân mà Đại hội vạch ra, Bộ Văn hóa đã đề ra những chỉ tiêu cụ thể trong 15 năm tới như sau : sách có từ 5 – 7 bản/đầu người ; văn hóa phẩm 10 bản/đầu người ; xem văn công chuyên nghiệp 0,7 lượt/ người ; xem chiếu bóng 10 lượt/người ; tất cả các huyện trong toàn quốc có thư viện, nhà văn hóa, hiệu ảnh, hiệu sách, từ 60 – 80 % tổng số xã có nhà truyền thống, nhà lưu niệm ; 100 % tổng số tỉnh có trường trung cấp nghệ thuật ; một số tỉnh và thành phố lớn có thêm trường đại học và trường năng khiếu nghệ thuật.
Trên đây là một số chỉ tiêu cụ thể về phát triển văn hóa trong 15 năm tới. Để thực hiện những chỉ tiêu trên đây, trước tiên, phải có cơ sở vật chất ban đầu để cho các ngành văn hóa “có đất” hoạt động. Xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất về văn hóa trong toàn quốc là một nội dung quan trọng của việc xây dựng nền văn hóa mới. Cơ sở vật chất đó là nhà cửa, là máy móc, là dụng cụ văn hóa, văn nghệ, … Phải có nhà để làm thư viện, bảo tàng, cung văn hóa, nhà văn hóa, rạp chiếu bóng, rạp hát, phòng hòa nhạc, cửa hàng sách, hiệu ảnh, công viên văn hóa, trường năng khiếu nghệ thuật, v.v… Có những công trình văn hóa nghe qua tưởng rằng không cần phải có nhà. Thực tế nhà là cần thiết để phục vụ cho các công trình đó như khu di tích, thắng cảnh, tượng đài kỷ niệm, công viên văn hóa, sân khấu ngoài trời, v.v… Ngoài nhà ra còn phải có máy móc và dụng cụ văn hóa, văn nghệ như máy chiếu phim, máy chụp ảnh, máy tăng âm, ghi âm, động cơ phát điện và nhạc cụ để cho các rạp chiếu bóng, hiệu ảnh, rạp hát, phòng hòa nhạc … hoạt động. Tất cả các “nhà”, các “rạp”, các “hiệu”, các “cung”, các “khu”, các “cửa”, các “trường” … nói trên được xây dựng chung trên một diện tích kết cấu lại thành trung tâm văn hóa. Những công trình này rõ ràng là cơ sở vật chất để thể hiện một trình độ văn hóa nhất định và chứa đựng nội dung hoạt động văn hóa, thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển. Trung tâm văn hóa là bộ mặt văn hóa của nhân dân trong một vùng nhất định.
Ở các trung tâm văn hóa, ngoài các công trình của ngành văn hóa, còn có các công trình của các ngành khác như sân vận động, cung thể thao, bể bơi của ngành thể dục thể thao, các trường học của ngành giáo dục, các cửa hàng lớn của ngành thương nghiệp, các bệnh viện của ngành y tế … Chúng ta sẽ xây dựng những trung tâm văn hóa ở các trung tâm chính trị và kinh tế.
Dựa trên sự phân vùng kinh tế và cơ cấu kinh tế của nước ta trong quá trình từng bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chúng ta định ra một hệ thống các trung tâm văn hóa như sau : trung tâm văn hóa toàn quốc, trung tâm văn hóa địa phương và trung tâm văn hóa cơ sở.
Trung tâm văn hóa toàn quốc là thủ đô Hà Nội. Đó là bộ mặt văn hóa của cả nước. Ở đây tập trung những công trình văn hóa có ý nghĩa cả nước, có nội dung, có trình độ tổ chức, kỹ thuật và biểu hiện cao, tiêu biểu cho quốc gia và do đó phải đạt trình độ quốc tế.
Do tầm quan trọng về kinh tế và chính trị, thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm văn hóa có ý nghĩa toàn quốc.
Trung tâm văn hóa địa phương là bộ mặt văn hóa của địa phương. Mỗi địa phương vừa là một bộ phận của cả nước, đồng thời lại mang những đặc điểm về kinh tế, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của địa phương là tập trung công nghiệp, có địa phương tập trung rừng và cây công nghiệp. Những địa phương này thể hiện đậm nét đặc điểm về kinh tế và văn hóa của mình. Thái Bình nổi bật giữa vùng lúa có năng suất cao, Quảng Ninh với sinh hoạt của công nhân vùng than, Hải Phòng là trung tâm văn hóa của công nhân cảng và các ngành công nghiệp khác, Hà Sơn Bình vừa là vùng nông nghiệp vừa là vùng sản xuất thủ công nghiệp nổi tiếng và đó cũng là vùng có đồng bào các dân tộc ít người sinh sống. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lại có những đặc điểm khác nữa, v.v… Thường thường ở mỗi tỉnh có một trung tâm văn hóa. Nhưng có những  tỉnh vừa là trung tâm văn hóa của tỉnh đó, vừa đại diện cho đặc điểm văn hóa của nhiều tỉnh, thì trung tâm văn hóa đó vừa là của tỉnh ấy vừa là của nhiều tỉnh. Ngược lại, có một tỉnh nào đó mang nhiều đặc điểm khác nhau thì không những có một trung tâm văn hóa của toàn tỉnh mà còn có những trung tâm văn hóa đại diện cho đặc điểm riêng cho một vùng trong tỉnh đó nữa, tỉnh đó có hai hoặc ba trung tâm văn hóa. Những trung tâm văn hóa ấy gọi là trung tâm văn hóa của địa phương, tức là nó đại diện cho một tỉnh, cho một vùng hoặc cho một vùng nhỏ trong tỉnh.
Trung tâm văn hóa cơ sở. Cơ sở ở đây là chỉ cấp huyện và cấp tương đương huyện là thị trấn, các khu phố, các khu kinh tế mới.
Để tiến hành sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn thì mọi yếu tố sản xuất, mọi nhu cầu tiêu dùng không thể khép kín trong phạm vi hợp tác xã được. Việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật trong nông nghiệp có nhiều mặt phải giải quyết trong phạm vi một vùng, một huyện. Huyện là địa bàn tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, là địa bàn tổ chức và phân công lại lao động để khai thác khả năng tiềm tàng ở địa phương. Huyện không những có khả năng chăm lo đời sống vật chất mà còn có thể tổ chức tốt sinh hoạt văn hóa, giáo dục, y tế cho nhân dân, bảo đảm xây dựng nông thôn mới ; là địa bàn kết hợp chặt chẽ kinh tế với văn hóa, kinh tế với quốc phòng. Hướng của chúng ta là kết hợp nông công nghiệp ngay từ đầu và lấy huyện làm đơn vị kinh tế cơ bản để thực hiện nhiệm vụ đó. Địa bàn huyện là nơi thích hợp nhất để tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng. Cuộc sống của chủ nghĩa xã hội sẽ diễn ra tại địa bàn huyện. Và cũng tại đây, cách mạng văn hóa và tư tưởng cùng với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học – kỹ thuật tác động sâu sắc đến đời sống xã hội. Với phương hướng trên đây, mỗi huyện sẽ có một trung tâm kỹ thuật, ở đó sẽ có các xưởng sửa chữa máy kéo, các trạm kỹ thuật, trại giống, các kho vật tư, các xí nghiệp chế biến nông sản, các nhà máy đường, nhà máy tơ, xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng … Đi liền với nó sẽ có những cơ sở phục vụ, các cửa hàng, trường cấp III, bệnh viện huyện, rạp chiếu bóng, thư viện, nhà hát, nhà văn hóa, cung thiếu nhi, v.v… Như vậy, đã hình thành ở huyện một trung tâm kinh tế và văn hóa trong một vùng có đường kính trên dưới mười ki-lô-mét với số dân từ 15 đến 20 vạn người.
Không bao lâu nữa, chúng ta sẽ có mấy trăm trung tâm văn hóa huyện rải rộng khắp mọi miền đất nước từ thành thị đến nông thôn và đến những vùng xa xôi hẻo lánh, tạo nên bộ mặt mới của nông thôn nước ta. Những trung tâm văn hóa này xóa dần sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi.
Trong điều kiện hiện nay với quy mô và số dân của một huyện, ta mới có thể đủ sức trang bị kỹ thuật và bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hóa cho cấp huyện, để cho nhân dân có thể thưởng thức và hoạt động văn hóa với trình độ tương đối khá. Bây giờ vẫn còn xã thì vẫn phát triển văn hóa ở xã. Nhưng ở cấp xã, phường, tiểu khu, các xí nghiệp, các công, nông, lâm trường, các khu tập thể công nhân viên chức, các cụm dân cư không xây dựng trung tâm văn hóa, bởi vì gọi là một trung tâm văn hóa, ít nhất phải có gần 20 công trình văn hóa (trong đó ngành văn hóa có khoảng 13 công trình). Ở cấp xã và cấp tương đương, không đủ nhân tài vật lực để xây dựng và quản lý một trung tâm văn hóa. Tuy nhiên, ở những nơi đó vẫn có hoạt động văn hóa. Về hình thức, ở cấp xã và cấp tương đương, sẽ tổ chức “cụm” hoặc khu văn hóa làm chân rết cho trung tâm văn hóa huyện, giúp cho sự chỉ đạo của trung tâm văn hóa huyện. Gọi là “cụm” hay “khu” là để chỉ tính không hoàn chỉnh của nó so với một trung tâm văn hóa.
Ở trung tâm văn hóa huyện, có 3 loại hoạt động :
a) Những hoạt động từ trung tâm văn hóa huyện tỏa ra và tác động xuống hệ thống các mạng lưới trong toàn huyện ;
b) Hoạt động qua mạng lưới các cơ sở, các tổ chức văn hóa thông tin trên địa bàn toàn huyện do sự chỉ đạo thống nhất từ trung tâm văn hóa huyện ;
c) Hoạt động của các lực lượng lưu động (như đội thông tin triển lãm, đèn chiếu, chiếu bóng) xuất phát từ trung tâm văn hóa huyện.
Ở các xã hoặc “cụm” dân cư có thể phác họa những mặt hoạt động về văn hóa và thông tin có các tổ chức và cơ sở vật chất tương ứng như sau :

Mặt hoạt động
Tổ chức
Cơ sở vật chất
Phong trào cần phát động
Đọc sách
Người quản lý thư viện
Nhà thư viện hoặc phòng đọc sách
Phong trào đọc sách báo và làm theo sách báo, phong trào kể chuyện và giới thiệu sách.
Câu lạc bộ
Chủ nhiệm câu lạc bộ
Có thể có cơ sở riêng, có thể kết hợp hoạt động ở hội trường, phòng đọc sách hoặc các phòng trong nhà văn hóa
Phong trào nhân dân tham gia hoạt động câu lạc bộ
Giáo dục truyền thống
Người phụ trách nhà truyền thống
Nhà truyền thống
Phong trào sưu tầm hiện vật di tích, bảo vệ di tích, cổ vật, các hoạt động giáo dục truyền thống
Văn nghệ
Đội văn nghệ
Các trang thiết bị cho đội văn nghệ, nhà hát ngoài trời, nơi tập luyện
Phong trào văn nghệ quần chúng mà đội văn nghệ là nòng cốt
Thông tin cổ động
Đội thông tin, người báo cáo thời sự ; có thể tổ chức hỗn hợp : Đội thông tin văn nghệ
- Trạm truyền thanh ;
- Trạm thông tin và triển lãm ;
- Phương tiện phóng thanh lưu động (loa tay, loa điện)
Phong trào nghe thời sự, học chính sách, nghe đài, xem triển lãm, văn nghệ
Trang trí kẻ vẽ
Tổ trang trí kẻ vẽ
- Khẩu hiệu cố định,
- Cụm pa-nô,
- Tranh tường,
- Cột cờ
Phong trào kẻ vẽ của quần chúng. Phong trào làm đẹp nhà, đẹp làng, đẹp phố
Nếp sống mới
Ban chỉ đạo hoặc hội đồng nếp sống mới
- Phòng cưới,
- Xe tang,
- Nghĩa trang nhân dân,
- Công viên văn hóa
- Phong trào gia đình văn hóa mới ;
- Các phong trào nếp sống mới
Tổ chức chiếu bóng và biểu diễn nghệ thuật
- Ban quản lý rạp hát hoặc rạp hát ngoài trời ;
- Tổ, ban điện ảnh
- Sân khấu ngoài trời,
- Bãi chiếu bóng (có thể kết hợp 2 cái ở 1 chỗ)

Các trung tâm văn hóa của toàn quốc cho đến địa phương rồi đây sẽ được xây dựng. Ở đây phải kết hợp cảnh vật, thiên nhiên và tổ chức sinh hoạt văn hóa phong phú và sinh động của con người để tạo nên những hoạt động giáo dục sâu sắc và nghỉ ngơi thoải mái, nhằm khôi phục và phát triển sức lao động và tinh thần sáng tạo của nhân dân.
Những công trình văn hóa không phải chỉ có tinh thần. Chính do quan niệm văn hóa chỉ có tinh thần nên các công trình được xây dựng quá đơn giản, không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân một cách toàn diện, một cách tổng hợp. Hiện nay, nhìn vào bất cứ một xã hội nào, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, những công trình văn hóa như thư viện, bảo tàng, cung văn hóa, các công viên văn hóa, các thắng cảnh, … xuất hiện ngày càng nhiều. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, những công trình này xuất hiện một cách t phát, thông thường là nhằm mục đích kinh doanh, kiếm lời. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, những công trình văn hóa được xây dựng là nhằm thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và văn hóa một cách tổng hợp và toàn diện cho nhân dân. Tham gia hoặc vào những công trình văn hóa đó, sức khỏe của con người thực sự được phục hồi. Hiện nay, chúng ta cũng có những công viên, nhưng công viên với nghĩa là cái vườn chung, cái vườn có cây, có hoa và … chỉ có thế thôi. Ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra, và vào làm gì, ra làm gì cũng không ai biết ; đói thì gói cơm nắm theo mà ăn, khát thì đem chai nước mà uống, cần “vệ sinh” thì bạ chỗ nào “vệ sinh” ra cũng được. Những công viên như vậy chưa phải là công viên văn hóa, chưa phải là chỗ để nhân dân lao động nghỉ ngơi. Phải nâng lên thành công viên văn hóa và nghỉ ngơi, nghĩa là đến đây có cây, có cảnh, có hoa lá, có nơi ăn, nơi giải khát, có chỗ nghỉ ngơi thoải mái và nếu cần thì có chỗ tâm sự tĩnh mịch. Các công viên của ta chưa quan tâm đầy đủ đến các nhu cầu ấy của nhân dân, nên việc tổ chức, xây dựng cũng chưa tốt, chưa đúng với tinh thần : công viên văn hóa.
Chúng ta cũng xây dựng một số nhà hát, nhưng những rạp ấy chỉ mới có hai mái và chỉ mới có chỗ ngồi để nhìn. Nhà hát của ta ngay từ bây giờ, khi xây dựng phải chú ý trang bị hệ thống âm thanh, hệ thống ánh sáng và việc phục vụ tổng hợp cho nhân dân, trong lúc xem hát cũng như trong lúc giải lao.
Ngay như việc đi tham quan các di tích lịch sử hay danh lam thắng cảnh của ta hiện nay cũng đòi hỏi phải có tinh thần cao, phải khắc phục khó khăn, mệt nhọc, phải tự bảo đảm lấy những nhu cầu vật chất mới có thể thực hiện sự “tham quan đó”. Công viên văn hóa, các di tích lịch sử, các thắng cảnh của chúng ta đang có, chưa phải là nơi hấp dẫn, chưa phải là nơi để phục hồi sức lao động. Văn hóa là những hoạt động tinh thần nhưng lại quan hệ đến vật chất rất nhiều. Nhu cầu văn hóa đi liền với nhu cầu vật chất. Đến thăm các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, khi ra về ai cũng muốn có vật kỷ niệm và muốn thưởng thức món ăn đặc biệt ở vùng đó, do bàn tay có nghệ thuật chế biến với chất lượng cao mà người ta khó quên mỗi khi nhắc đến những nơi đã có dịp đến thăm. Rõ ràng, ở đây trong các nhu cầu vật chất có văn hóa và nhu cầu văn hóa có nhu cầu vật chất.
Tóm lại, các công trình văn hóa phải làm sao thỏa mãn được nhu cầu của nhân dân một cách toàn diện và đồng bộ. Không thể nói rằng, muốn đọc sách thì đến thư viện, khát thì ra phố mà uống, muốn xem kịch thì vào rạp, trình độ nghệ thuật chỉ có thế thôi, muốn thì xem, không thì thôi ! … Việc thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí và thưởng thức cắt rời ra như vậy là không đúng. Có tổng hợp lại với nhau thì mới thỏa mãn được tinh thần và văn hóa của nhân dân ở mức cao và mới phù hợp với trình độ sinh hoạt ngày càng cao của nhân dân. Từng công trình văn hóa phải được xây dựng với quan niệm toàn diện như vậy.
Tóm lại, một nền văn hóa mới phải có các cơ sở vật chất và một mạng lưới tổ chức hoạt động rộng lớn (của Nhà nước và của tập thể nhân dân) để chứa đựng và thể hiện trình độ tinh thần và văn hóa của xã hội. Những cơ sở vật chất này vừa là những hình thức chứa đựng nội dung tinh thần, vừa thể hiện trình độ tinh thần, lại vừa tác động vào sinh hoạt tinh thần. Toàn bộ các cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động của một nền văn hóa mới sẽ tạo nên bộ mặt văn hóa mới của đất nước.
Một công việc quan trọng phải tiến hành trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới là xây dựng nếp sống mới.
Chúng ta nghe nói nhiều đến nếp sống mới, lối sống xã hội chủ nghĩa, v.v… Nếp sống hay “lối sống” cũng vậy, khi nói xây dựng nếp sống mới thì ta hiểu đó là xây dựng mọi hành vi sống của con người một cách có hệ thống trong xã hội theo một kiểu mới. Nếp sống mới có quan hệ đến toàn bộ đời sống hàng ngày của con người ; tất cả những gì có liên quan đến cuộc sống của con người thì gọi là nếp sống. Chúng ta phải xây dựng nếp sống mới cho phù hợp với nhu cầu của chủ nghĩa xã hội, muốn vậy phải khắc phục, trừ bỏ những lối sống cũ, không phù hợp. Do đó, nếp sống mới có rất nhiều việc phải làm. Căn cứ vào những việc chúng ta đang tiến hành, có thể nêu lên 5 nội dung cơ bản của nếp sống mới :
- Xây dựng phong cách lao động mới ;
- Xây dựng gia đình văn hóa mới ;
- Xây dựng nếp sống công cộng ;
- Cải tiến việc tang, cưới, giỗ, hội, chống mê tín dị đoan ;
- Đem cái đẹp vào cuộc sống.
Năm nội dung này thể hiện 5 mối quan hệ tất yếu trong cuộc sống của con người.
1- Quan hệ giữa cá nhân (một con người) với nghĩa vụ trong xã hội xã hội chủ nghĩa ;
2- Quan hệ giữa các con người trong gia đình ;
3- Quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa con người với con người trong xã hội ;
4- Thái độ mỗi cá nhân và xã hội đối với những sự kiện tất yếu trong một cuộc đời con người (sinh ra, lớn lên, lập gia đình và khi chết đi) ;
5- Quan điểm và thái độ của mỗi cá nhân và của cả xã hội đối với bản thân từng người.
Trong khi chờ đợi để có những tổng kết đầy đủ hơn, ta có thể tạm coi 5 điểm nội dung trên đây là những nội dung chủ yếu của nếp sống mới xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng phong cách lao động mới. Trong cuộc sống của chúng ta, lao động là vấn đề sống còn. Lao động là một nghĩa vụ, là một vinh dự. Chính với lao động, con người đã viết lên lịch sử hùng vĩ của mình : từ thời nguyên thủy đến hiện đại. Hơn nữa trong hoàn cảnh đất nước ta, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội bằng lao động của mình. Và nguồn gốc sự phồn vinh của đất nước sau này cũng chính là tất cả sức lao động của dân tộc ta. Vì vậy, trong nếp sống, cái quan trọng nhất là hoạt động lao động, lao động chân tay và lao động trí óc. Phần quan trọng của nếp sống hàng ngày như thế nào, tức là lao động như thế nào. Vì vậy, phong cách lao động mới là nội dung quan trọng của nếp sống mới. Phong cách lao động mới có nội dung như Đảng ta đã nêu ra : lao động có kỹ thuật, có kỷ luật và có năng suất cao.
Nội dung thứ hai của nếp sống mới là xây dựng gia đình văn hóa mới. Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa mới, cho đến nay, nhiều nơi đã tiến hành có nền nếp : có tiêu chuẩn, có đăng ký, có bình bầu và có cấp giấy chứng nhận. Ở nhiều nơi, 6 tháng bình bầu một lần. Ai đạt tiêu chuẩn thì Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận “Gia đình văn hóa mới”. Nếu 3 năm liền được xã cấp giấy thì được huyện cấp giấy, 5 năm liền được xã cấp giấy thì tỉnh cấp giấy chứng nhận. Có những gia đình 15 năm liền phấn đấu đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa mới”. Những năm trước đây, gia đình văn hóa mới có 5 tiêu chuẩn nên còn gọi là gia đình 5 tốt. Hiện nay, nói chung, gia đình văn hóa mới có 3 tiêu chuẩn :
- Sống hòa thuận trong gia đình hòa thuận ;
- Dạy con ngoan ;
- Chấp hành chính sách tốt.
Hoặc có nơi nêu ra :
- Gia đình hòa thuận và nuôi dạy con cái tốt ;
- Lao động tiên tiến ;
- Chấp hành chính sách tốt.
Trong các tiêu chuẩn trên đây, qua điều tra ở nhiều địa phương, ở nông thôn cũng như ở thành phố, thì tiêu chuẩn khó đạt nhất là việc nuôi dạy con cái tốt. Ở những địa phương có nhiều gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa mới”, thì cuộc sống trong gia đình êm ấm, hòa thuận, các cháu rất ngoan, chăm học, chăm làm ; quan hệ hàng xóm láng giềng rất tốt, quan hệ giữa người và người là quan hệ yêu thương và đùm bọc lẫn nhau. Phong trào xây dựng “Gia đình văn hóa mới” có nội dung cụ thể và độc đáo đã mang lại kết quả tốt và rõ ràng đó là một nội dung quan trọng của nếp sống mới, bởi vì trong thực tế, nơi nào có nhiều “Gia đình văn hóa mới” thì nơi đó đúng là có nếp sống văn minh, thể hiện đúng một xã hội có văn hóa.
Nội dung thứ ba của nếp sống mới là xây dựng nếp sống công cộng. Nếp sống công cộng gồm trật tự công cộng, vệ sinh công cộng và lịch sự công cộng. Bộ mặt của xã hội có văn hóa cao được thể hiện ở những điểm này. Xây dựng nếp sống công cộng tức là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong xã hội. Hiện nay, trật tự công cộng và vệ sinh công cộng còn quá kém, tai nạn xe cộ còn nhiều, ngoài đường hiện tượng nói tục, chửi nhau, đánh nhau không phải là ít. Lễ phép công cộng là nhường nhịn, giúp đỡ nhau, đi qua đám đông, đám ma, đám cưới phải như thế nào, đi qua trước nhà thương, trường học thì như thế nào, … Những chuyện này chưa đi vào nền nếp và thường thường còn nhiều biểu hiện chưa tốt. Vấn đề này rất phức tạp. Phải kiên trì và không thể sốt ruột được, phải kết hợp biện pháp giáo dục và biện pháp hành chính. Tất nhiên, xã hội càng tiến lên, kinh tế phát triển thì sẽ có những điều kiện để xây dựng nếp sống công cộng tốt. Song, không nhất thiết cứ phải chờ đến lúc có đầy đủ điều kiện vật chất thì mới xây dựng được nếp sống công cộng.
Trong hai cuộc kháng chiến, các cơ quan của ta đóng ở trong rừng, nào đâu có nhà cao cửa rộng, điều kiện vật chất rất thiếu thốn, thế mà chúng ta đã tổ chức được một cuộc sống khoa học, văn minh. Mấy năm trước, các đại biểu trong Liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình Sài Gòn, các nhà báo quốc tế, … khi vào thăm căn cứ của ta trong rừng đều rất ngạc nhiên và hết sức khâm phục chúng ta đã tổ chức được một cuộc sống khoa học ngoài sức tưởng tượng của họ. Hay như trước đây trong các nhà tù Côn Đảo, Sơn La và những nơi khác, với điều kiện vô cùng khắc nghiệt của chế độ lao tù đế quốc, những người cộng sản vẫn tổ chức được một cuộc sống có nền nếp, có trình độ văn hóa cao so với những điều kiện vật chất lúc đó. Rõ ràng điều kiện vật chất thiếu thốn, nhưng nếu ta biết tổ chức thì chắc chắn có được một đời sống tốt hơn. Vì vậy rõ ràng nếp sống không phụ thuộc vào mức sống. Bất cứ ta có một mức sống thế nào (dù còn thấp) ta cũng có thể xây dựng nếp sống tốt đẹp.
Hiện nay, nước ta còn nghèo và thiếu thốn, thử hỏi chúng ta có cách nào tổ chức đời sống để đạt được yêu cầu văn hóa cao hay không ? Chúng ta tin chắc chắn sẽ thực hiện được. Ta hãy lấy ví dụ về việc giải quyết tình trạng mất trật tự giao thông hiện nay. Có ý kiến cho rằng chưa có đường rộng để chia luồng đường thì giao thông còn mất trật tự. Thế thì phải chờ cho đến bao giờ mới có đường rộng để giải quyết vấn đề giao thông ? Nếu cứ chờ thì phải đến năm 2000, khi thủ đô và một số thành phố lớn được xây dựng lại hoàn chỉnh, đường phố lúc đó rộng rãi, phong quang thì đến lúc đó mới có trật tự giao thông hay sao ? Không phải. Bộ mặt xã hội có sự phát triển liên tục và biến đổi liên tục, không thể bỗng chốc một lúc mà có sự thay đổi hoàn toàn mới. Muốn có một nếp sống công cộng thể hiện bộ mặt của một xã hội văn hóa cao phải xây dựng dần dần. Phải có những cuộc vận động thành phong trào quần chúng, phải có phong trào cách mạng liên tục, hết phong trào này đến phong trào khác thì cái tốt, cái đúng mới được khẳng định, được phát huy ; cái xấu, cái sai sẽ bị lên án, xóa bỏ. Phải phát huy tính tích cực, chủ động của người dân làm chủ để xây dựng cuộc sống có văn hóa. Điều này cần thiết phải làm và có thể làm được. Bất cứ trình độ cơ sở vật chất như thế nào cũng đều có thể tổ chức được một đời sống văn hóa cao tương ứng và phù hợp với cơ sở vật chất ấy. Dĩ nhiên không thể thoát ly cơ sở vật chất được, ví như phép lịch sự vào nhà phải gõ cửa, nhưng ở rừng không có nhà lấy đâu ra cửa mà gõ. Song cũng không nhất thiết phải có đầy đủ cơ sở vật chất mới xây dựng được đời sống có văn hóa.
Nội dung thứ tư của nếp sống mới là cải tiến việc tang, cưới, giỗ, hội, chống mê tín dị đoan theo Chỉ thị 214 của Ban Bí thư trung ương Đảng.
Ở miền Bắc việc cưới, việc tang đều đi vào quy ước và nội quy của nông thôn, chuyển dần việc lo cưới, lo tang vào hợp tác xã và chính quyền địa phương. Đến những địa phương có phong trào tốt, việc cưới, việc tang được tiến hành chu đáo, tránh được lãng phí và những thủ tục phiền hà. Trước đây nhà nào có “cha già mẹ héo” thì lo lắng, không biết chôn cất ở đâu, áo quan thế nào, ăn uống ra sao và nghi lễ thế nào, … Bây giờ gia đình và cá nhân không phải lo lắng nhiều nữa. Gia đình nào có người chết chỉ cần đóng cho hợp tác xã 5 hoặc 10 đồng, có nơi nhiều nhất là 20 đồng. Áo quan, xe tang, người đưa ma, điếu văn, trướng, vòng hoa, … hợp tác xã lo liệu. Chính quyền xã và hợp tác xã có ban tang lễ thường trực, thường thường Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và Phó chủ nhiệm hợp tác xã làm Trưởng ban. Nhiều nơi còn tổ chức ra “hội vui tuổi già” của các cụ. Mỗi cụ trong hội đóng mấy chục đồng và mỗi tháng lại đóng thêm mấy hào, gộp lại thành một cái quỹ lớn do các cụ quản lý. Khi có tang, các cụ trích quỹ lo liệu đám tang. Như vậy các cụ yên tâm với tuổi già và không còn lo lắng gì nữa. Trong việc tổ chức đám tang có điều phức tạp là làm thế nào để thực hiện “sống dầu đèn, chết kèn trống”. Việc này khá tốn kém, có khi thuê một đội kèn, một đêm tốn gần một trăm đồng, hơn thế nữa, người thổi kèn còn đòi tiền, đòi rượu, đòi chè. Nhiều hợp tác xã có sáng kiến dùng máy ghi âm ghi lại một đám tang và về sau gia đình nào có tang thì cho đem phát lại. Qua hệ thống phóng đại âm thanh, tiếng kèn vừa to vừa đều, các cụ rất phấn khởi và hoan nghênh. Tổ chức đám tang như vậy tránh được tục ăn uống vừa tốn kém vừa mất vệ sinh. Nhiều nơi việc tổ chức tang lễ hoàn toàn do hợp tác xã phụ trách, gia đình có người mất không phải lo một chút gì. Các đồng chí địa phương gọi là thực hiện chủ nghĩa cộng sản cho những người chết. Ai cũng hoàn toàn bình đẳng và được tập thể chăm lo.
Việc cưới thì chủ yếu do đoàn thể thanh niên phụ trách. Nhiều nơi đã xây dựng phòng cưới, quy định ngày tổ chức cưới. Ủy ban nhân dân xã lo liệu tất cả : lọ hoa, khăn trải bàn, ấm chén. Gia đình có đám cưới chỉ góp một số tiền nhỏ. Đăng ký kết hôn, liên hoan xong là rước dâu. Về cơ bản, việc cưới như thế này đã hình thành nền nếp.
Tóm lại, việc cưới, việc tang tổ chức theo hướng tập thể phụ trách như trên đúng là văn minh, tiến bộ và khoa học, nó giảm được các hủ tục và tiết kiệm được rất nhiều. Nhân dân rất hoan nghênh vì nó làm cho người ta yên tâm với những sự kiện quan trọng trong đời sống.
Việc giỗ chạp ở ngoài Bắc không còn vấn đề gì lớn lắm. Có chăng thì còn tranh chấp giữa việc nên tổ chức ngày giỗ hay sinh nhật. Có người tổ chức giỗ nhưng cũng có người thích tổ chức sinh nhật. Ngay trong thanh niên cũng có người thích và người không thích tổ chức sinh nhật. Việc tổ chức sinh nhật hiện nay có nơi cũng bày vẽ ra tục ăn uống và bày vẽ lắm tục lệ như bao nhiêu tuổi thì thắp bấy nhiêu cây nến ; kèm theo đó là quà mừng. Ai đến mừng mà không có quà thì giận. Mừng quà rồi thì lại nhớ đến lần sau trả lại món quà, như vậy nó lại rơi vào hủ tục trả nợ miệng như ngày xưa, nghĩa là đến ăn ở đâu thì phải nhớ để mời người ta đến ăn lại. Bây giờ tổ chức sinh nhật, mới nghe tưởng văn minh nhưng cũng đẻ ra những chuyện như vậy. Còn giỗ chạp bây giờ không phức tạp và tốn kém như trước nữa.
Về hội thì đang có những vấn đề cần phải giải quyết. Những hội của nhân dân ta có cái còn mang tính chất mê tín dị đoan, nhảm nhí, có những hội tốn kém một cách vô ích và ảnh hưởng lớn đến thời gian sản xuất. Song không phải hội chỉ có mặt tiêu cực. Còn nhiều hội mang ý nghĩa truyền thống rất tốt đẹp, ví dụ Hội Đền Hùng kỷ niệm các vua Hùng, Hội đền Kiếp Bạc kỷ niệm Trần Hưng Đạo, Hội Đống Đa kỷ niệm Quang Trung đánh tan quân Tôn Sĩ Nghị, … Sở dĩ hội của ta hình thành trong nhân dân chính cũng có mặt nào đó đáp ứng được nhu cầu về văn hóa và tinh thần của nhân dân. Đó là nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, tưởng niệm. Vì thế những ngày hội thường được tổ chức vào “ngày ba tháng tám” là những lúc nông nhàn.
Về việc tổ chức những hội ở nước ta, Chỉ thị 214 của Ban bí thư nêu rõ : “Những hội nào lâu nay không tổ chức thì bây giờ không phục hồi, kiên quyết chống mê tín dị đoan, cố gắng tổ chức những ngày hội mới kết hợp với những ngày kỷ niệm có ý nghĩa chính trị. Những hội nổi tiếng kết hợp tự do tín ngưỡng và danh lam thắng cảnh thì tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng bài trừ mê tín dị đoan và biến nó thành những hội có nội dung, có ý nghĩa mới”.
Đây là một phương hướng đúng. Những hội mà ta đã bỏ đi, đúng là hội rất nhảm nhí. Nhưng có những hội chúng ta sẽ đề nghị phục hồi lại, nhất là những hội có tính chất truyền thống yêu nước. Ở những hội này, nhân dân trước đây đã diễn lại những sự tích anh hùng chống ngoại xâm, đặc biệt ở những vùng có truyền thuyết về các cuộc khởi nghĩa trong một khu vực rộng lớn. Ở ta, hiện còn những hội rất nổi tiếng. Thông thường những chùa nổi tiếng được xây dựng ở những nơi có phong cảnh rất đẹp, nên người ta vừa đi chùa vừa vãn cảnh. Các cụ thì gọi là đi vãn cảnh chùa, còn nam nữ thanh niên bây giờ thì gọi là đi thăm quan. Những hội như hội Chùa Hương hàng năm đã thu hút hàng chục vạn người. Vào những ngày hội, các cụ vừa đi vừa “nam mô a di đà phật”, các thanh niên áo đỏ, áo xanh, vừa đi, vừa nhảy, vừa cười, vừa “nam mô a di đà mệt”. Bắt chước thanh niên ta, các chuyên gia nước ngoài cũng “a di đà mệt”. Ngày hội bây giờ có nhiều tính chất pha tạp như thế, vừa tôn giáo vừa du lịch. Đối với những ngày hội nổi tiếng kết hợp tôn giáo và danh lam thắng cảnh như loại trên đây, phương hướng của ta là tôn trọng tự do tín ngưỡng, ai còn tin thì cứ đi lễ, nhưng trong những ngày hội đó sẽ bãi bỏ những tục lệ có tính chất mê tín và sẽ biến nơi trẩy hội thành chỗ thăm quan, du lịch, thường xuyên tổ chức để cho nhân dân đến giải trí. Trước kia tuy hội còn mang nhiều tính chất mê tín và cả nhảm nhí nữa, nhưng nó cũng bộc lộ một nhu cầu về văn hóa của nhân dân. “Tháng ba ngày tám” rảnh rỗi hay có hội. Hội thì mùa nào thức ấy. Mồng 3 tháng 3 thì ăn bánh trôi, bánh chay, mồng 5 tháng 5 thì ăn rượu nếp, mua mận, mua đào “giết sâu bọ”, rằm tháng bảy, trung thu lại có thức khác. Tết nguyên đán thì có nhiều món ăn đặc biệt. Mùa nào thức ấy, ngày hội, ngày tết đã thỏa mãn nhiều nhu cầu của nhân dân. Bây giờ, chúng ta tổ chức những ngày hội mới chay tịnh và khô khan quá. Thường thường là mít tinh tuần hành, diễn văn chính trị, nhiều lắm thì có đá bóng và xem văn công, còn các món ăn thì không có cái gì phù hợp theo mùa, theo phong tục. Mồng 1 tháng 5 ta liên hoan thế nào thì ngày 2 tháng 9 cũng ăn như thế. Rồi đây phải giải quyết như thế nào để thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân một cách toàn diện và tổng hợp trong những ngày hội mới. Những ngày hội mới không chỉ chú trọng nội dung chính trị, nội dung tinh thần và tư tưởng, mà còn phải tổ chức thế nào để thỏa mãn không những nhu cầu tinh thần và còn có nhiều mặt hấp dẫn khác nữa. Nếu ta cứ tổ chức theo kiểu chay tịnh, khô khan như ta thường làm thì những ngày hội của ta sẽ không xúc động và chưa đủ sức hấp dẫn. Đối với quần chúng thì ngày Tết âm lịch vẫn tạo nên sự xúc động sâu xa. Truyền thống đó làm ta khó mà cưỡng lại được. Ngày đó có nhiều ý nghĩa. Đó là dịp sum họp gia đình, thăm hỏi lẫn nhau. Ngày đó làm ta tưởng nhớ đến ông bà cha mẹ. Đó là dịp đoàn tụ. Dĩ nhiên hiện nay kinh tế chưa phát triển, nước ta còn nghèo, chúng ta còn phải ra sức tiết kiệm trong sản xuất và trong tiêu dùng. Chúng ta không thể tổ chức những ngày hội xa hoa, tốn kém. Nhưng cần suy nghĩ cách tổ chức những ngày hội hấp dẫn phù hợp với trình độ phát triển kinh tế từng thời gian của nước ta.
Đúng là ngày nay ta không thể duy trì những ngày hội không còn thích hợp và lạc hậu. Nhưng hội của ta còn có nội dung, những nhu cầu đậm đà truyền thống dân tộc. Chúng ta phải chiếu cố đến những nhu cầu này và phải giải quyết những ngày hội mới sao cho vừa thỏa mãn được nhu cầu của nhân dân vừa hướng các ngày hội theo tinh thần mới, có nội dung đúng đắn.
Nội dung thứ năm của nếp sống mới là sống làm sao cho đẹp. Nếp sống mới phải là nếp sống đẹp. Nhưng cái đẹp trong cuộc sống là thế nào ?
Sự thực là trong tất cả mọi ngóc ngách của cuộc sống, ở đâu cũng cần đến cái đẹp. Trong không gian xã hội, tổ chức thế nào cho đẹp, khiến cho tinh thần mọi người cảm thấy thoải mái và thích thú. Đi vào những ngõ hẻm, những xóm nhà ổ chuột, đường xá bùn lầy nước đọng, người ta cảm thấy đau khổ và căng thẳng về tinh thần. Nếu hàng ngày được đi làm việc, đi chơi trên những đường phố rộng, trang trí đẹp, có nhiều cây cảnh, nhiều bóng mát cùng với những công trình kiến trúc hài hòa, lại có những công trình nghệ thuật gắn vào đó, thì tinh thần cảm thấy dễ chịu.
Cái đẹp trong cuộc sống bao gồm rất nhiều lĩnh vực. Nó có mặt trong bầu không gian chung của xã hội và vào tận từng gia đình và thể hiện trên từng con người ; đẹp về thể chất, đẹp về ngoại hình cho đến đẹp về tinh thần. Nhưng ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến cái đẹp ngoại hình. Có người khi nói đến cái đẹp trong cuộc sống thì đề cập đến vẻ đẹp tinh thần, nghĩa là quan hệ giữa người và người thế nào cho đẹp. Chúng tôi đã nói về quan hệ giữa con người với nhau trong mục nếp sống công cộng ở phần trên. Bây giờ sôi nổi nhất là vấn đề ăn mặc, đầu tóc, quần áo. Hiện nay, xung quanh chuyện để tóc dài, mặc quần loe đang có nhiều ý kiến. Về vấn đề này, ta phải làm sao cho quần áo càng ngày càng đẹp, nghĩa là vải vóc của ta ngày càng nhiều, càng tốt và có nhiều kiểu áo quần đẹp. Càng nhiều kiểu đẹp thì thỏa mãn được thanh niên là lớp người thích cái đẹp trước những người khác. Thanh niên thích cái gì là thời trang nhất để tạo nên cái đẹp phong phú và luôn luôn đổi mới. Cũng chính vì vậy mà thanh niên hay bắt chước, thấy lạ là bắt chước ngay thành ra lung tung. Kiểu tóc thế nào là đẹp, quần áo thế nào là đẹp thì bây giờ còn đang tranh cãi. Có một thực tế trong xã hội là người già và thanh niên quan niệm về cái đẹp khác nhau. Bắt thanh niên phải giống y như người già thì không nên, bắt người già phải như thanh niên lại cũng không được. Cho nên cái đẹp của thanh niên khác, cái đẹp của người già khác, cái đẹp của nam khác, cái đẹp của nữ khác và không thể nào bắt mọi người giống y như nhau được. Nhiều người phàn nàn tại sao phụ nữ lắm kiểu đầu tóc quá và yêu cầu chỉ quy định mấy kiểu đầu tóc thôi. Như vậy cũng không được. Chẳng hạn, bây giờ ra đường nhìn phụ nữ Hà Nội thì có đến mấy chục kiểu đầu tóc khác nhau, thế mà kiểu nào trông cũng rất đẹp, bảo bỏ đi một kiểu nào cũng không được. Có chị thì tết hai đuôi sam, có chị chỉ một đuôi sam, chị thì búi xuôi, chị thì búi ngược, tóc chị nào cũng rất thích hợp với khuôn mặt mình. Có người thì để tóc dài, người thì “phi dê”, có người lại “phi dê” duỗi, có người lại làm tóc xoăn tít, tất cả đều trông đẹp mắt. Phụ nữ để nhiều kiểu tóc như thế mà bắt nam giới chỉ để một kiểu thôi, nam giới cũng không chịu. Tất nhiên, thanh niên mà lại để tóc dài như phụ nữ thì còn gì là “ranh giới” thanh niên, còn gì là “giới khỏe mạnh”, bởi vì rõ ràng nó không phù hợp với tầm vóc, sức lực và tính cách của thanh niên.
Qua chuyện quần loe với tóc dài, chúng ta cho rằng tuy cái đẹp phức tạp như vậy, nhưng phải có hướng dẫn và phải thống nhất quan niệm. Có nhiều ý kiến trao đổi về cái đẹp, tạm thời nêu lên mấy tiêu chuẩn của cái đẹp. Đẹp phải mang tính hiện đại, khoa học và dân tộc và những tiêu chuẩn của cái đẹp là : giản dị, khỏe mạnh và trang nhã.
Tiêu chuẩn giản dị thì vừa hiện đại, vừa khoa học mà lại vừa dân tộc. Dân tộc ta đúng là dân tộc thích giản dị, không thích diêm dúa, cầu kỳ, phức tạp. Tiêu chuẩn khỏe mạnh chống lại những gì ủy mị, thướt tha, ẻo lả. Tiêu chuẩn trang nhã có nhiều nội dung. Trang nhã ở ta thể hiện ở màu sắc dịu dàng, nhẹ nhàng. Đi ngoài đường thấy con trai, con gái ăn mặc toàn màu nhạt. Màu của ta để bên nhau rất hài hòa chứ không đối lập nhau một cách gay gắt : xám nhạt đi với xám đậm, xanh nhạt đi với xanh đậm … Dân Việt Nam có những tên màu sắc rất hay : nõn chuối, hoa sim, mỡ gà, thanh thiên, lòng tôm, hoa cà, trứng sáo, … và đó cũng là đặc điểm về cách sử dụng màu sắc của dân tộc ta. Âm nhạc của ta cũng dịu dàng, luyến láy, người Việt Nam không thích âm nhạc trống phách ầm ầm. Cái vui của ta cũng dịu dàng, tế nhị, … Chính đó là đặc điểm Việt Nam. Những đặc điểm này thuyết phục được mọi người. Sau này trang phục, màu sắc, âm nhạc, … sẽ mang nhiều yếu tố hiện đại nhưng nó phải phát triển theo hướng truyền thống dân tộc của ta.
Phải thống nhất quan niệm về cái đẹp và phải có sự hướng dẫn. Nếu không như vậy thì mấy tiêu chuẩn về cái đẹp vốn dĩ đã hình thành trong lịch sử của dân tộc, đã thành lý tưởng thẩm mỹ của dân tộc ta sẽ bị phá vỡ, đi tới chỗ thích lòe loẹt, thích diêm dúa, thích phức tạp, thích dị hình, dị tướng, khác người. Phải xây dựng lại quan niệm về cái đẹp. Phải có những cuộc vận động rầm rộ và những cuộc vận động này phải đi tới những quy ước như kiểu quy ước của đám ma và đám cưới. Những quy ước này được mọi người công nhận. Ai không thừa nhận sẽ bị người khác chống lại và buộc phải tuân theo những quy ước này. Nó phải thành dư luận và thành sức ép của xã hội thì mới giải quyết được.
Đó là năm nội dung của nếp sống mới. Năm nội dung đó phải được tiến hành đồng thời, thúc đẩy lẫn nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành nếp sống mới xã hội chủ nghĩa.
Trên đây là những công việc hiện nay cần làm để xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta.
Kết luận
Tiền đồ của dân tộc ta vô cùng xán lạn. Tiền đồ của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa nước ta vô cùng rạng rỡ. Những nhiệm vụ của chúng ta trong nhiều năm sắp tới là hết sức nặng nề. Mọi hoạt động văn hóa phải hướng vào nhiệm vụ trung tâm là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặc trưng nổi bật là yêu lao động, làm chủ tập thể, yêu chủ nghĩa xã hội và có tinh thần quốc tế vô sản. Trước mắt chúng ta cần tập trung phục vụ các phong trào cách mạng của quần chúng, nhằm thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, chủ yếu là các phong trào lao động sản xuất trong nông nghiệp.
Để bảo đảm cho văn hóa, văn nghệ nước ta phát triển đúng hướng, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn hóa, văn nghệ. Văn hóa là vũ khí chính trị, tư tưởng, là công cụ đấu tranh giai cấp, gắn liền với nền chuyên chính vô sản. Đảng phải lãnh đạo toàn bộ công tác văn hóa, văn nghệ, đó là một tất yếu tuyệt đối. Bởi vì chủ nghĩa xã hội nhất định phải chiếm lĩnh trận địa tư tưởng và văn hóa, chiếm lĩnh toàn bộ lĩnh vực hoạt động và sáng tạo tinh thần, một địa hạt rộng lớn, quan trọng, phức tạp của đời sống xã hội. Toàn bộ nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa phải thấm nhuần thế giới quan mác-xít và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội chỉ thắng lợi với nền văn hóa mới của nó, khi nó đấu tranh không điều hòa với những quan điểm tư tưởng thù địch và lạc hậu. Hoạt động của văn hóa phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ cho mục tiêu phấn đấu của Đảng thì mới phát triển đúng hướng, phục vụ lợi ích thiết thực của nhân dân và của đất nước.
Tuy nhiên, văn hóa lại là một lĩnh vực đặc thù của xã hội. Chú ý đến đặc trưng ấy của quá trình sáng tạo tinh thần là điều kiện tất yếu để có một sự lãnh đạo thực sự mác-xít-lê-nin-nít đối với văn hóa, một phương thức lãnh đạo thích hợp với đặc điểm của ngành văn hóa : vừa chặt chẽ về nguyên tắc, nội dung vừa mở rộng đường cho các phong cách và hình thức nghệ thuật, để có thể nhạy cảm, tinh tế và công phu trong việc giáo dục, đào tạo bồi dưỡng và khuyến khích lực lượng văn hóa, văn nghệ nhằm phát huy các tài năng sáng tạo.
Văn hóa, văn nghệ lại có nhiều ngành khác nhau, mỗi ngành lại có đặc trưng riêng, khác nhau. Sự lao động nghệ thuật của mỗi ngành cũng có những đặc trưng riêng, phức tạp và tinh tế. Mỗi chân lý được xác lập là bằng những cuộc thảo luận, tranh luận có tính khoa học, thực sự dân chủ để đi đến mục đích và đi đến sự nhất trí cao. Những thái độ thiên lệch, vội vã, những biện pháp thô bạo, đơn giản đều không thích hợp đối với việc giải quyết những vấn đề văn hóa. Mọi suy nghĩ tìm tòi sáng tạo nhằm phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của chủ nghĩa xã hội đều được tự do và được khuyến khích. Đường lối, chính sách của Đảng là bảo đảm điều kiện thuận lợi cho mọi sự sáng tạo và phát triển văn hóa.
Cách mạng tư tưởng văn hóa không phải là công việc riêng của ngành văn hóa. Nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa là thành quả của ba cuộc cách mạng, thể hiện và tác động trên mọi lĩnh vực và quan hệ xã hội, do đó, tất cả các ngành, các cấp phải có trách nhiệm đối với đời sống tinh thần và văn hóa của nhân dân, đối với việc xây dựng bộ mặt văn hóa của xã hội. Về vấn đề này, Chỉ thị của Ban bí thư Về công tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội vạch rõ : “các cấp ủy Đảng, các cơ quan chính quyền cũng như các đoàn thể công nhân, thanh niên, phụ nữ phải coi công tác văn hóa là một mặt quan trọng của công tác cách mạng và đời sống nhân dân, đặc biệt chú trọng chăm sóc những hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đoàn thể khi xây dựng, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân phải có phần kế hoạch phát triển văn hóa. Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi bảo đảm cho nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hóa của quần chúng ; bảo vệ và khuyến khích mọi tài năng sáng tạo nghệ thuật”.
Trong đời sống văn hóa nước ta hiện nay có hai sự thật. Một là, sau chiến tranh chúng ta có những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, dựa vào lý do khách quan đó một số người có trách nhiệm chưa cố gắng tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân. Hai là, cũng có một sự thật khác, sự thật này rất to lớn và đang phát triển : phong trào văn hóa và hoạt động văn hóa đang lên. Phong trào này phát triển nhanh đến mức có khi chúng ta không lường hết được. Nó đang đặt ra nhiều vấn đề cho các ngành, các cấp, các đoàn thể phải theo dõi để đón trước những nhu cầu về tinh thần và văn hóa của nhân dân. Giải đáp được những nhu cầu này tức là thấy được mục đích của chủ nghĩa xã hội và nhu cầu văn hóa của nhân dân và sẽ làm cho phong trào văn hóa phát triển mạnh mẽ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét