Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

Thoát khỏi gông xiềng



Chương 6

Thoát khỏi gông xiềng

Tôi lên nhà tù Sơn La được hơn một năm. Vào khoảng cuối năm 1943, bọn thực dân Pháp có chủ trương chuyển dần một số lớn tù chính trị ở Sơn La đi Côn Đảo. Cho đến trước Tết âm lịch, chúng đã đưa đi hai chuyến và đang chuẩn bị chuyến thứ ba, tôi phong phanh nghe tin như vậy. 


Thực tình, từ lúc bị bắt, tư tưởng vượt ngục chẳng buông tha tôi. Hễ thảnh thơi là nó lại trỗi dậy. Có lẽ cũng là tâm trạng chung của một số đông lớp trẻ hiếu động. Tôi và Trần Diệp, chồng bà Lê Minh, rất tâm đầu ý hợp. Cả hai trạc tuổi nhau. Diệp tên thật là Khuê, cũng có mặt cùng tôi trong chuyến đào hầm vượt ngục ở Hỏa Lò. Chúng tôi ở gần nhau và đặc biệt là có chuyện nói với nhau không dứt. Khuê cũng ham đọc truyện như tôi và cũng lắm tưởng tượng kiểu học sinh. Khuê con nhà giàu, họ hàng cũng giầu nên bàn với tôi và được tôi nhiệt liệt hưởng ứng một kế hoạch vượt ngục đến là “tân tiến ly kỳ”. Khuê có bà chị tên Thanh, ở Hà Nội, mà tôi cũng có biết. Theo kế hoạch đó, chị Thanh sẽ thuê một ô tô du lịch lên Sơn La mang theo hai khẩu súng săn, hai bộ quần áo săn với đầy đủ giấy tờ, chị tìm nghỉ lại ở khách sạn tỉnh. Đến hôm chúng tôi ra rừng lấy củi sẽ báo chị địa điểm hẹn đón chúng tôi. Hai đứa lên ô tô thay quần áo rồi cùng chị dông thẳng về Hà Nội!

Để dự phòng, chúng tôi còn một kế hoạch ít hiện đại hơn, như sau: Chị Thanh cùng một người nữa mang hai chiếc xe đạp lên Sơn La. Với xe đó chúng tôi sẽ phóng về xuôi. Đến Hòa Bình chúng tôi sẽ dựng dấu vết một vụ tai nạn, rồi lẩn vào rừng. Chị Thanh đợi ở một địa điểm xa đó để đưa đi tiếp. Khuê còn phấn chấn bàn là ra ngoài rồi chưa vội bắt liên lạc với tổ chức mà dành hẳn một năm tập cưỡi ngựa, đánh bốc, đấu kiếm, tập bơi, bắn súng lục để có bản lĩnh cao cường đối phó lại mọi tình huống bất trắc. Chuyện này cũng ly kỳ nhưng tôi không bắt bằng chuyện vượt ngục và ít nhiều tôi đã trải qua hoạt động quần chúng hơn Khuê, dù sao cái chất lãng mạn vẫn là “giấc mơ đẹp”. Thỉnh thoảng tôi lại dặn dò Khuê: “Kiếm được súng lục, cho tớ với! Cậu nhớ bày tớ cách cưỡi ngựa nhé!...”

Những câu chuyện như thế cột chặt chúng tôi lại như hình với bóng, xì xào không thôi. Chúng tôi làm các đồng chí trong chi bộ lo ngại. Và hình như có người theo dõi, tìm hiểu để ngăn chặn chúng tôi. Rồi ông Lê Đức Thọ chú ý đến tôi. Không biết ông từ đâu đến. Một hôm, ông Thọ vỗ vai tôi, nói chuyện rất chân tình, như người anh dặn dò đứa em nhỏ. Ông đề nghị tôi vào Đảng lại với điều kiện không được manh động, mà nên tham gia các hoạt động khác trong tù như ra báo chí, làm công tác xã hội...

Mùa thu năm 1943, tôi được chi bộ nhà tù Sơn La xét kết nạp vào chi bộ nhà tù. Sự kết nạp lại là chung cho mọi đảng viên tới nhà tù Sơn La sau khi qua thử thách một lần nữa. Vừa qua là thời kỳ tôi đang được thử thách mà tôi không biết nên cứ loay hoay như thế. Tôi trở lại say sưa hoạt động theo chủ trương của chi bộ.

Đến một hôm, đó là ngày 5-8-1943, như mọi sáng sớm khác, các cửa trại tù mở tung để chúng tôi đi làm. Tôi ở trại Hai gian, cùng nơi anh Sao Đỏ. Tôi không thấy nón của anh đâu cả, trong lúc cả dãy nón còn nguyên vì chưa ai đi làm. Khi xếp hàng điểm danh cũng không có anh Trân và anh Đ cũng vắng. Vẻ mặt các đồng chí trong ban lãnh đạo lộ vẻ nghiêm trọng. Tôi lưu ý sự thiếu tự nhiên của một số đồng chí khi nói cười.

Chiều tối, bọn cai ngục lùa chúng tôi vào trại, cáu kỉnh điểm danh. Chúng lộ vẻ giận dữ tức tối. Chúng tôi tụm năm tụm ba bàn tán. Tôi tự hài lòng với sự tinh mắt sáng ý của mình.

Thực dân Pháp lấy nhà tù Sơn La làm nơi giam tù cộng sản là có lý do xác đáng. Sơn La nằm heo hút hẻo lánh giữa núi rừng trùng điệp, đường sá khó khăn, người Kinh lác đác. Ngoài lính khố xanh canh gác tù còn có một số trại lính khố đỏ và lê dương đóng bên thị xã. Chúng nắm chắc hệ thống phìa tạo và địa chủ quanh vùng. Cứ có tù trốn là các bản đều được báo động, trai tráng bị đẩy đi lùng từng khu suối lạch rừng, các trạm đón lõng được lập ngay ở mọi lối. Chúng treo giải thưởng 100 đồng cho ai đem được thủ cấp tù trốn về, 50 đồng cho ai bắt được tù trốn.

Năm 1942, ngay trước cửa nhà tù, địch đã treo đầu tù trốn trại để khủng bố. Đây là hai đồng chí tự động bỏ trốn, không thuộc thung thổ địa phương, không người dẫn đường, không chuẩn bị gì cả. Và cả hai đã bị bắt trở lại. Điều địch chú ý khai thác là dân trí vùng này thấp và chính vì thế mà vị trí nhà tù Sơn La thành ra hiểm trở.

Ngay sau chuyến các đồng chí ta vừa trốn, tôi là trưởng nhóm tù đi làm vườn. Trong tốp lính áp giải có hai lính mới. Tôi lân la hỏi chuyện họ:

- Các anh có biết chúng tôi là ai không?

- Biết chứ!

- Các anh có cho chúng tôi là người tốt không?

- Có cho chứ!

- Các anh có thương chúng tôi không?

- Thương chứ!

- Có người trốn có bắt không?

- Bắt chứ!

- Có chặt đầu không?

- Chặt chứ!

Trình độ là như vậy, và địch đã không bỏ qua. Lập nhà tù ở Sơn La, chúng đã lấy người Việt trị người Việt, đẩy người dân tộc ít người ra sức săn lùng tù trốn như việc theo mệnh lệnh của chúng hành hạ tù nhân hàng ngày.

Hiểu rõ âm mưu của kẻ địch, các đồng chí lãnh đạo hoạt động bấy lâu nay đã vận động anh em, tất cả đều học tiếng Thái, tiếng Mường và đi sâu vào quần chúng tuyên truyền vận động. Quanh Sơn La lúc này, nhân dân đa số đã hiểu về tù chính trị, tỏ ra yêu thương tù chính trị và bắt đầu xuất hiện những cá biệt tích cực. Đảng đã hình thành một số nhóm trung kiên trong các đồng bào ít người.

Cuộc vượt ngục của các anh Sao Đỏ, Trân, anh Đ trót lọt chính là nhờ kết quả vận động chính trị lâu dài, bền bỉ trong đồng bào, cùng sự chuẩn bị vật chất khá chu đáo. Lại có người dẫn đường thành thạo. Đáng tiếc là khi anh Giá - người dẫn đường - trở về bị lộ, địch đã ám hại anh một cách hèn hạ. Đối với chúng tôi, bọn công sứ, giám binh, cai ngục ra sức khủng bố, tước nhiều quyền lợi. Chúng tôi đã đấu tranh tuyệt thực năm ngày. Chúng phải nhượng bộ trả lại hết.

Sau cuộc vượt ngục và đấu tranh trên, chúng tôi chuẩn bị ăn Tết mùa đông năm 1943, cũng to như Tết trước nhưng lấy ăn làm chủ yếu.

Rủi thay cho tôi, đến ngày tiễn táo quân lên trời thì tôi lại bị kiết lỵ. Mấy năm trước, tuy có sốt rét nhưng chưa bao giờ tôi phải hưởng cháo cứu tế, song mấy lâu nay tôi sốt luôn và đến lúc này như kiệt quệ hẳn. Hai ba ngày đi kiết tôi phải nằm một chỗ. Giáp Tết có đỡ chút ít, tôi nhúc nhích ăn cháo. Đúng lúc đó, bọn cai ngục vào lập danh sách để tổ chức một “công voa” về xuôi. Chúng chọn những người án nặng. Án tôi mười lăm năm, dĩ nhiên không trật. Biết thế tôi rất thích thú dù đang rất yếu. Các đồng chí lo cho tôi, khuyên ngăn nên ở lại. Tôi cũng không nghe. Có anh quá lo cho tôi, đến gặp bọn ghi tên bảo tôi đang đau yếu. Chúng nó hỏi tôi:

- Yếu thế nào? Có đau chân không?

Tôi bảo không, thế là chúng bảo “đi được” và ghi tên vào danh sách. Anh em ngao ngán. Hôm lên đường, có đồng chí đến bắt tay tiễn tôi, bảo:

- Nếu có tin là có người chết dọc đường thì chúng tao cứ truy điệu mày nhé!

Lúc này đồng chí Tô Hiệu đã yếu lắm rồi. Anh phải ở riêng một xà lim. Anh em thay phiên cử người ra trông nom anh. Khi đoàn lên đường, anh muốn ra sân tiễn. Hai anh dìu đỡ anh ra giữa sân, anh gắng vẫy tay như dặn dò chúng tôi. Sức anh gần kiệt rồi.

Được mấy ngày đường, đồng chí Quỳnh, là bí thư chi bộ đi đường nói với tôi:

- Tao đưa mày giữ 40 đồng đây, tiền của chi bộ đấy. Mày ở trong danh sách chi bộ bố trí cho trốn dọc đường. Mày là người thứ tư được chỉ định. Nếu chỉ ba người ra thì không có mày. Nhưng cứ giữ tiền để khi đó mà dùng.

Tôi như mở cờ trong bụng. Sướng vì được trốn, nhưng tôi vui sướng hơn cả là thấy mình được chi bộ tin cậy. Tôi thấy mình quan trọng hơn lên. Đoàn tù vẫn bình thản chuyển về xuôi. Tôi chỉ được thông báo là đến Suối Rút sẽ có người biết đường, chớp cơ hội đưa nhóm người được chỉ định đi trốn.

Áp tải đoàn tù là một tên quan Tây, cao lớn phệ bụng, cận thị nặng. Xem chừng nó ít quan tâm đến trách nhiệm. Thấy tôi ốm yếu, nó cho cưỡi một con ngựa để đi kịp tốp khoẻ. Nhờ thế, đến Mộc Châu thì tôi bình phục được. Chúng tôi mặc quần áo tù có đóng số “PS Sơn La”, từng đôi một bị xích cổ tay với nhau. Xích có lỗ có thể nới rộng hay thu hẹp. Thông thường chúng xích ở mắt thứ bảy, nhưng như vậy tay rất đau, thậm chí còn tụ máu. Để thuận tiện, chúng tôi đấu tranh chống xích chặt làm tụ máu. Xích ở mắt thứ tám thì tay bé đã có thể rút ra được nhưng anh em còn đòi nới ra đến mắt thứ chín, thứ mười. Thằng Tây và lính cũng để mặc. Chẳng hiểu bụng dạ thằng Tây này ra sao nhưng hắn nói: “Tôi tin là các anh không trốn. Các anh đừng làm khó dễ cho tôi!”.

Suối Rút là một thị trấn nhỏ ven sông Đà, vốn là nơi đón đưa nhiều đoàn chiến sĩ cách mạng đi đày qua đây. Dân cư gồm có: người Thái, Hoa kiều và một số ít người Kinh. Chúng tôi có chuẩn bị một số cuộc tuyên truyền trong quần chúng. Sẽ có đồng chí thạo tiếng Pháp bám sát tên quan Một. Các đồng chí khác đi vào quần chúng theo ngôn ngữ nắm được. Bước vào thì trấn, đoàn sẽ hát các bài ca cách mạng của Việt Nam và Trung Quốc. Đoàn cũng quyết định không mua bán gì, vì mua thì dân không chịu lấy tiền hàng. Buổi chiều khi gần đến Suối Rút, đồng chí Quỳnh đến rỉ tai tôi là: “Kế hoạch thất bại”. Về sau tôi được hay, người nhận dẫn đường cho chúng tôi bảo rằng: đã lâu ngày không qua đây nên quên mất lối. Người đó là ông Chương, có biệt danh là Chương “gáo”. Ở Hỏa Lò (Hà Nội), tù nhân không được dùng thứ gì khác ngoài cái gáo dừa để ăn, để uống. Vì vậy mỗi người đều có gáo của mình. Ngày tôi mới vào chưa có gáo, phải ăn bốc. Có người mách bảo: Anh Chương có gáo thừa, lại mà xin. Tôi bèn lễ phép gặp anh:

- Thưa anh, em chưa có gáo, anh cho em xin một cái.

- Tiên sư bố đứa nào bảo mày thế?

Tôi ngạc nhiên thưa:

- Các anh nói anh còn thừa một, bảo em tới xin anh. Em thiếu gáo thật mà!

Mãi về sau tôi mới hiểu: anh ấy bị bệnh sa đì, dái như cái gáo to. Anh em đùa gọi là Chương “gáo”, xui dại tôi.

Nghe đồng chí Quỳnh nói, tôi như lăn xuống vực sâu, bàng hoàng, ngơ ngác. Đến đêm khuya, phần đau buồn vì kế hoạch trốn thất bại, phần xúc động trước tấm lòng của nhân dân ở thị trấn đối với anh em tù, tôi không ngủ được. Nằm trằn trọc ở tầng cao của lô côt đồn lính khố xanh ngay cạnh bờ sông. Trời lạnh, trăng sáng. Dòng sông Đà lặng lờ một dải bạc hoang vắng. Giữa đêm khuya, từ một chiếc thuyền đỗ trên bến vắng, le lói ngọn đèn con, cất lên giọng ca sa mạc như xâu xé nỗi lòng với tôi.

Sáng hôm sau, lúc đoàn chuẩn bị lên đường, đồng bào Suối Rút ra tiễn rất đông. Lại có dịp để chúng tôi nói với mọi người về mục đích đấu tranh của mình và cảnh sống của người dân mất nước, sự độc ác của thực dân phong kiến cùng những sách nhiễu của lính tráng, quan lại cường hào, chúng tôi kêu gọi đoàn kết để cứu nước. Đến lúc này nhiều bà, nhiều cô lấy áo thâm chấm mắt. Có tiếng nức nở. Tình cảm giữa bà con và tù nhân như ruột thịt...

Đến chợ Bờ, tôi cảm thấy được nhẹ nhõm hơn. Hầu như tôi đã xác định lại quyết tâm mới, cùng các đồng chí trong tù tích cực hoạt động đấu tranh và học tập, chờ thời cơ khác.

Chợ Bờ cách Suối Rút 12 km. Chúng tôi đến sớm, nhưng được lệnh nghỉ đêm ở đó, tù ngủ ở quán chợ, lính gác bao quanh. Chúng tôi công khai bỏ xích ra và từng người tự do đi lại trong quán chợ. Tôi thấy một người tù tháo tút dệt của anh ta, lấy áo len, quần trắng mặc ra ngoài, rồi thò tay vứt mảnh vải ghi số và đi ra. Tôi đợi mười, mười lăm rồi hai mươi phút không thấy anh trở lại. Tôi tìm đồng chí Quỳnh, bí thư chi bộ đi đường, báo cáo chuyện này. Anh lập tức cử hai người lấy cớ xin đi mua bán, có lính đi kèm để kiểm tra xác minh. Một lúc sau, hai người trở về báo cáo là có trông thấy bóng người tù trốn đã vượt sang được bên kia sông. Người tù trốn ấy tên là Lợi. Sau này hoạt động, lấy tên là Nguyễn Chương. Ngay khi hai đồng chí đi điều tra thì anh Diện đến bảo tôi: “Chúng mày xem đề nghị với thằng Quỳnh tổ chức trốn đi một chuyến”. Anh Diện - tức Trần Cư - là một công nhân xe lửa, trẻ tuổi, hăng hái, thẳng thắn, nói ít làm nhiều, vốn rất thân thiết với tôi. Cứ như anh đang nói thay tôi những điều đang phát sinh trong lòng. Phải “tháo cũi sổ lồng”, còn tình huống thì phải tuỳ cơ ứng phó thôi, không thể nào có một kế hoạch chi tiết đầy đủ được. Như cỗ máy được phát động, tôi lao tới đồng chí Quỳnh. Đồng chí Diện cùng đi theo.

Anh Quỳnh đang suy nghĩ cách đối phó việc có tù trốn nên lộ vẻ xúc động. Anh có tật những lúc như thế sinh ra nói lắp, bây giờ càng lắp tợn:

- Được, được... tao cho chúng mày đi! Nhưng, nhưng... có thằng nào biết, biết... đường không?

Đồng chí Diện bảo: “Tao biết!”. Thật tình anh muốn nhanh chóng ngã ngũ chủ trương, nên nói liều. Nhưng sự mạo hiểm của anh lại rất được việc.

Đồng chí Quỳnh nói ngay:

- Chuẩn bị đi ngay! Độ, Diện và thêm Đệ (tức đồng chí Nguyễn Khang).

Anh đưa cho Diện mấy chục đồng và cho cả ba một gói thuốc ký ninh, paludrine.... Anh Diện bỗng nói:

- Này! Hay là Quỳnh đi đi, thằng Quỳnh ra nữa tốt hơn.

Đồng chí nói lắp: “Nhiều, nhiều quá... khó, khó... lọt. Ba thằng đã... Tao ở lại... đối phó”.

Diện bảo:

- Thế thì mày đi, lợi hơn. Tao ở lại đối phó cho!

Đồng chí Quỳnh giận giữ:

- Đ. ai... chả muốn ra!. Nhưng tao là... bí thư chi bộ. Tao có trách nhiệm... đối phó. Thôi đi đi. Muộn... mẹ nó bây giờ!

Đồng chí đột nhiên dịu giọng, căn dặn: “Cẩn thận nhé!. Tao đưa thêm bộ quần áo đây!”.

Ngay lúc đó, tình thế khẩn trương choán hết mọi thứ. Nhưng sau này cứ nhớ lại là lòng tôi bồi hồi. Anh Quỳnh cũng là công nhân như anh Diện, khi cần hành động, các đồng chí tỏ ra dứt khoát lạ thường, ít vương vấn sự riêng tư.

Chúng tôi hầu như không có gì phải chuẩn bị. Tôi được mẹ gửi lên cho hai chiếc áo phòng khi lạnh thì chiếc áo len tôi đã bán lấy tiền chuẩn bị trốn, còn chiếc áo vệ sinh tôi mặc trùm lên chiếc áo có số. Quần thì vẫn là quần nhà tù nhưng chữ số đã phai đi nhiều. Anh Đệ chỉ tay lên quả đồi, hẹn: “Tao lên kia thay quần áo. Ra đó cùng đi nhé!”.

Đang bữa ăn, tôi nuốt trệu trạo vài miếng và kêu đau bụng chạy lên đồi. Anh Diện theo sát tôi. Quanh quẩn mãi trên đồi, chẳng thấy anh Đệ mà trời thì sắp tối. Anh Diện bảo: “Cứ ra bờ sông đã rồi tính sau. Tao cũng chẳng biết đường!”. Loanh quanh mãi hết quán chợ - nơi anh em đang ăn cơm, lại đến nhà hàng. Bụng nóng như có lửa đốt. May sao khi xuống một lối dốc thấy thấp thoáng dòng sông. Chúng tôi hối hả vượt qua bụi rậm ra tới bờ, “nhảy cừu” trên bãi đá ven sông. Vừa đặt chân lên bãi cát thì anh Đệ trong bộ quần áo anh Quỳnh vừa cho, từ trong bụi nhảy ra gọi:

- Tụi mày làm gì mà lâu thế. Tao chờ sốt cả ruột.

Cả ba anh em đi dọc sông, tính mưu kế vượt tiếp, thì có tiếng gọi từ một chiếc thuyền nhỏ đang lững lờ gần đó.

- Này có về chợ Phượng không?

Chúng tôi liền bám ngay lấy chặng đường này. Chúng tôi mặc cả giá và lên thuyền. Thuyền này chở khách từ bến Phương Lâm (Hòa Bình) lên chợ Bờ, nay đang xuôi dòng. Trên thuyền chỉ có hai vợ chồng người lái. Chồng khoảng bốn mươi tuổi, gày gò ít chuyện trò, ít quan tâm đến xung quanh. Chị vợ chừng ba mươi tuổi khuôn mặt tròn, nhỏ, miệng vết nước trầu cắn chỉ, mắt sắc sảo. Mọi việc trao đổi với chúng tôi chị làm hết, quyết định hết!

Lên thuyền, anh Diện phân công: Đệ làm tổ trưởng phụ trách nội bộ và lo chung, tôi lo ngoại giao, giao thiệp. Có lẽ anh Diện thấy tôi hay nói nên giao như vậy. Còn anh thì chịu trách nhiệm kế hoạch hành động đối phó. Phân trách nhiệm xong, tôi sang khoang sau, nơi chị vợ cầm lái và chèo để nói chuyện. Sau khi hỏi mua mấy miếng sắn luộc để ăn thì liền bị chị ta hỏi dồn:

- Các bác có đói không? Về Phương Lâm rồi đi đâu nữa? Hà Nội lên à? Vì việc gì đấy? Ở chợ Bờ hay từ Suối Rút về?

Tôi lúng túng, ấp úng, cứ bấn lên vì bị bất ngờ. Anh Diện tới gỡ cho tôi. Lời anh đáp phác ra một cái cảnh của chúng tôi là cả ba đi làm thuê cho một gia đình người Hà Nội chạy máy bay Nhật, tản cư lên Suối Rút. Chúng tôi chạy đồ đạc cho ông bà chủ đưa lên Suối Rút hôm kia. Nay trở về để tiếp tục chuyển chuyến nữa...

Chị lái đò đệm tiếp những câu hỏi đi vào chi tiết. Chúng tôi phải bày kế hoãn binh, vào khoang trước bàn tính với nhau. Thế là tôi mất chức ngoại giao. Anh Diện kiêm luôn cả.

Anh Diện trở lại tiếp tục câu chuyện ra vẻ tin cẩn chị lái đò lắm, tiết lộ điều bí mật của nhóm:

- Chúng tôi buôn thuốc phiện lậu. Tránh đoan nên phải đi đường sông. Đến Phương Lâm, chúng tôi muốn về thẳng Sơn Tây. Đây là chuyến đi dò đường thấy có thể được. Nếu chị tiếp tay với chúng tôi đoạn này trong các chuyến đi sau thì hay quá!

Chị lái đò giọng sành sỏi:

- Biết ngay mà, vải thưa che mắt thánh. Tin nhau nói thẳng thế có hay hơn không! Thoạt tiên tôi đã cảm thấy không bình thường, không bình thường.

Rồi chị truy chúng tôi xem lần này có mang thuốc theo không. Chị nói trống không:

- Chở người mang thuốc phiện thế này cũng quá “công phu” đây!

Chúng tôi phải thề độc, rồi mời chị cứ khám, mới làm chị ta tin... Cuộc đàm phán trở thành thoải mái và kết cục như sau:

1/ Chị đồng ý ngay đêm nay chở chúng tôi thẳng tới Trung Hà. Chị bảo không nên về tận Sơn Tây nguy hiểm. Đến bến Trung Hà có đường tắt đi Sơn Tây an toàn hơn. Anh chồng phản đối, chị liền bảo:

- Thôi về bến Phượng, bố mày về nhà nghỉ. Tôi bảo cậu nó đi thay. Đàn ông đàn ang gì mà đụt! Anh chồng đồng ý ngay.

2/ Vì chúng tôi quần áo lôi thôi quá, chị để lại cho một bộ quần áo cũ của chồng, một cái mũ và cái kính râm.

3/ Chị bắt chúng tôi nằm im kín vào trong khoang. Chị lấy chăn của nhà phủ cho chúng tôi và dặn: Có gì để mặc chị ấy đối phó.

4/ Sau này có lãi phải chia cho chị ta một nửa.

Chúng tôi nằm trong khoang vẫn chưa yên lòng. Có điều là đã lên thuyền thì có khác gì cá trên thớt. Chẳng còn cách gì khác. Chỉ còn nắm một chỗ là chị này quen buôn lậu và hám lợi. Vai mà chúng tôi đang đóng cũng là do chị nghi ngờ. Vẻ cởi mở, hồ hởi của chị ta khi bày mưu tính kế, làm chúng tôi có thể yên tâm.

Thuyền tới bến Phương Lâm trong đêm khuya. Từ xa, chúng tôi đã nhận ra cả vạn thuyền kéo dài và trên bờ còn le lói ánh đèn dầu đỏ quạch, vạch thành vệt dài lóng lánh trong dòng nước. Thuyền vừa ghé vào thì có tiếng quát:

- Hôm nay cấm đò ngang đấy nhé!

Tôi nằm trong chăn hỏi vọng ra:

- Sao lại cấm đò... ò?

- Tù trốn.

Lạnh toát người, chúng tôi bấm nhau. Tôi nhanh nhẩu hỏi tiếp:

- Tù gì trốn đấy.

- Tù chính trị chứ tù gì!

Trong chăn, chúng tôi bấm nhau lia lịa, có vẻ hoảng, nghĩ cách ứng phó. Tôi bật ra hỏi tiếp:

- Có nhiều không?

- Tám tên.

Câu trả lời dứt khoát thế làm tôi thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi biết chắc là các đồng chí ở Hòa Bình trốn và tại đây cũng có một nhà tù. Thời kỳ này Đảng có chủ trương tổ chức cho tù trốn ra ngoài để thêm cán bộ lãnh đạo trong lúc phong trào đang lên cao. Chúng tôi đang phấn chấn thì chị lái đò ghé vào thì thào:

- Đã bảo các bố nằm im sao cứ léo nhéo mãi!

Tôi thì thầm hỏi chị:

- Ta tính sao?

- Tôi ghé bến để chồng tôi lên. Xong tôi lại lần thuyền dọc theo vạn để đi tiếp liền.

Chúng tôi thuyết phục vợ chồng lái đò cố thu xếp để đi ngay Trung Hà không lỡ việc. Cả hai đồng ý. Chúng tôi đỡ lo anh chồng lên bến lỡ nói lộ chuyện. Chị vợ tỏ ra rất thành thục cách ghé bến, cách lách vạn, chẳng mấy chốc thuyền đã thênh thang lướt giữa dòng. Tôi vùi đầu vào chăn đánh một giấc. Chắc hai anh thì ngủ ít hơn.

Thuyền cặp bến Trung Hà vào lúc chưa sáng rõ. Chị lái vẫn cẩn thận cho cặp thuyền ngoài bến, chỉ lối để chúng tôi tránh đồn lính đoan Trung Hà dễ dàng. Chúng tôi trả tiền đò gần như gấp đôi với lời cảm tạ nhiệt thành. Trước khi lên bờ, chúng tôi đã thống nhất với nhau về trang phục của mỗi người. Lúc lên đến bờ, đồng chí Diện với tay lấy cái nón chị lái đò đang đội trên đầu giọng nửa đùa nửa thật:

- Chị cho tôi mượn cái nón làm kỷ niệm chuyến đi nhé!

Chị lái đò như do dự. Anh nói thêm:

- Thôi mà! Tiếc nhau làm gì, còn làm ăn với nhau nhiều.

Anh bước lên bờ. Đi một đoạn, anh giải thích:

- Tao phải xin cái nón vì chỉ mới có một cái mũ. Có thêm chiếc nón, với cái kính râm cái mũ mua hôm qua, thêm vẻ tự nhiên cho mỗi thằng.

Bây giờ đường sá đã thông thuộc. Chúng tôi tính tin tù trốn chưa về tới đây. Cần tranh thủ vượt thị xã Sơn Tây sớm, đến Phùng rẽ vào chùa Thầy. Tại đó, anh Diện liên lạc với cơ sở cũ. Nếu trở ngại thì về Hà Nội, anh Diện lo liệu việc ăn ở, Chúng tôi đi xe kéo một đoạn, gần đến Sơn Tây xuống đi bộ qua thị xã, qua cửa thành Sơn Tây, gặp một toán tù áo xanh đang rửa tay bên thành hào do một lính khố xanh cai quản. Hắn thúc giục, quát tháo. Mặc, anh em cứ kỳ cọ như không nghe, không thấy. Tên lính cầm roi quất, làm náo động cả đám.

Dù biết đó là tù kinh tế, nhưng chúng tôi vẫn mủi lòng. Chúng tôi cảm thấy việc mình đang tự do đi lại là không thật và cảnh sống áp bức, đánh đập đang chờ đón mình. Chúng tôi lúng túng tìm lối rẽ về Hà Nội. Cả ba cố tình đi sát nhau để trao đổi thì trước mặt xuất hiện một cô gái bận quần trắng áo “lơ-muya” màu hồng, che dù tha thướt bước. Đang lúng túng, tôi cũng cười bảo:

- Kìa, kìa tiên núi hiện lên đưa đường đấy. Cứ đi theo!

Quả nhiên qua một lối rẽ chúng tôi trông thấy cái biển xanh chỉ đường với chữ Hà Nội. Khỏi thị xã một quãng, chúng tôi lên xe kéo đi Phùng, rồi rẽ chùa Thầy. Anh Đệ rảo bước lên trước với lời hẹn đón ở chùa Thầy với ký hiệu giao ước.

Chuyện trớ trêu là cả anh Diện và tôi đều không biết chùa Thầy nên cứ lơ ngơ đi dọc làng mấy lần. Chẳng có cách gì bắt liên lạc, tôi huýt sáo một bài ca cách mạng cũng chẳng kết quả gì. Lượn mãi sợ bị nghi ngờ, hai chúng tôi ghé quán ăn bánh trừ bữa rồi tìm đường đi tắt về Hà Nội, lòng băn khoăn về hoàn cảnh của anh Đệ.

Chín giờ tối đến cầu Giấy, chúng tôi thuê xe đi Khâm Thiên, tìm tới nhà cậu anh Diện. Đến một túp nhà lá lụp xụp trong ngõ chợ, chúng tôi gõ cửa. Một ông già tóc bạc ra mở cửa. Nhận ra anh Diện, ông đóng vội cửa kéo cả hai vào trong nhà, ôm lấy chúng tôi xoa đầu vuốt mặt ... Chúng tôi nói rõ hoàn cảnh. Ông cụ bảo thế thì cứ ở lại đây cho yên ổn. Chúng tôi được ngủ một đêm đầy tin cậy thoải mái như ở nhà mình. Thế là có thể tin chắc cuộc trốn đã hoàn thành. Chỉ tiếc không rõ anh Đệ ra sao.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét