Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Đại hội Đảng IV nhớ Di chúc Bác Hồ



Chương 3
Đại hội Đảng IV nhớ Di chúc Bác Hồ

Đại hội IV của Đảng diễn ra suôn sẻ, tưng bừng như là một Đại hội mừng công. Những tràng vỗ tay dài như những đợt sóng liên tục vang lên trong hội trường Ba Đình. Hơn một nghìn đại biểu từ khắp các địa phương, các chiến trường tụ hội về đây, tay bắt mặt mừng. Những cuộc gặp gỡ cảm động, những vòng tay ôm nhau thân thiết. Nét mặt ai nấy rạng ngời một niềm vui, phơi phới tự hào. 


Không vui sao được, không tự hào sao được, bởi đây chính là ngày hội của những người chiến thắng. Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ: “Dân tộc ta sẽ có vinh dự là một dân tộc nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ” đã được thực hiện. Đây là chiến công chung của toàn dân tộc nhưng lực lượng tiền phong đi đầu, vừa vạch đường chỉ lối, vừa xông pha trận mạc chính là những người cộng sản mà tiêu biểu là những đại biểu đang có mặt trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV hôm nay.
Đối với tôi, những ngày đại hội thực sự là những ngày vui. Không khí tưng bừng của đại hội, những cuộc gặp gỡ thân tình với bạn bè, đồng chí. Có người từ Điện Biên Phủ nay mới gặp lại tính ra đã hơn 20 năm, có người suốt 16 năm từ Đại hội Đảng lần thứ III. Đặc biệt là các đồng chí ở 312: Lê Trọng Tấn, Đàm Quang Trung, Hoàng Cầm... Những tướng lĩnh từng xông pha trăm trận, đều gặp nhau đông đủ ở đây.
Đoàn đại biểu Quân đội trong Đại hội với tư thế hiên ngang, quân phục mùa đông thẳng nếp, trên ngực lấp lánh huân chương, tạo nên vẻ đẹp hào hùng cho Đại hội với đầy đủ ý nghĩa là một đại hội của những người chiến thắng.
Trước Đại hội, tôi có viết một bài tùy bút với tựa đề: “Sự nghiệp vẻ vang của nhiều thế hệ anh hùng” nói lên những suy nghĩ của mình trước chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Nhân đang nói về Đại hội IV, tôi muốn trích vào đây một số đoạn. Có thể nói đây là những suy nghĩ bước đầu của tôi về thời kỳ mới của dân tộc:
Mùa xuân 1975 đến và qua đi để lại trong lịch sử của Việt Nam và của thế giới một mốc son chói lọi: Ở Việt Nam, một thắng lợi trọn vẹn của độc lập, tự do; ở thế giới, một thắng lợi của chính nghĩa và nhân phẩm.
Ngày tháng cứ qua đi, những ý nghĩa của thắng lợi mùa xuân 1975 cứ còn vang mãi, vang xa mãi… Những nhiệm vụ mới, tình hình mới, những vấn đề mới cứ đặt ra dồn dập, tới tấp, nhưng ý nghĩa của thắng lợi vẫn cứ như ánh sáng lấp lánh, chói lòa ngày càng rực rỡ hơn.
Lịch sử đã sang trang. Từ sau mùa xuân 1975, toàn bộ cuộc sống của mọi người Việt Nam đều gặp một sự đảo lộn sung sướng: bỏ lại sau một cuộc sống của tiền phương lớn, hậu phương lớn và bước vào một cuộc sống hòa bình vững chắc trong độc lập, tự do, cả nước sum họp một nhà, giang sơn liền một dải. Đất nước chuyển mình vào một thời kỳ lịch sử mới.
Thời gian cứ qua đi. Có những sự việc đã bị quên, nhưng có những sự việc còn nhớ mãi, càng nhắc sự việc càng lớn thêm lên. Nhớ khổ nhục, đau xót, hận thù, ta nhắc mãi những chiến công, những đóng góp, hy sinh và những yêu thương. Thời gian cứ đi, nhưng những cảm xúc, những tình cảm, những suy tư cứ lớn lên mãi, dài mãi ra và dày dặn mãi lên, phong phú mãi lên.
Những giọt nước mắt tức tưởi trước đây chỉ rơi dè dặt dưới bụi dừa nước, trong hầm bí mật, nay nó sẽ rơi trước lăng Bác và long lanh dưới ánh nắng của khoảng trời Ba Đình lồng lộng.
Những niềm vui sướng trước đây thường tắc nghẹn ở từng nơi hoặc chỉ bừng nở vội vàng, thì nay có thể tràn ngập không gian đất nước – khắp cả Hà Nội, đồng thời ngập cả Sài Gòn, dạt dào ở sông Hồng, đồng thời rộn rã khắp Cửu Long…
Những sum họp trước đây ngắn ngủi, bất ngờ hoặc chỉ gián tiếp qua những tờ giấy mỏng, thì nay được hẹn trước, được thể hiện trong những vòng tay, những bông hoa, những kỷ vật, những buổi liên hoan và những cuộc kể lể tâm tình vô tận, nhắc đi nhắc lại nhiều lần và trong những dự kiến tương lai.
Bao nhiêu việc cấp bách đã đặt ra: nào công ăn việc làm cho hàng triệu người, nào những hậu quả đau đớn và bẩn thỉu của bọn xâm lược để lại trong mỗi gia đình, mỗi tâm hồn con người, nào cải tạo những nếp sống, những nếp nghĩ không còn phù hợp nữa, nào tổ chức lại mọi việc theo quy mô cả nước, nào những nhu cầu cấp bách: sách học, cơm áo, vải mặc, củi đốt, phân bón, giống má, nguyên liệu cho những công trình cấp bách...
Nhưng lại còn phải nghĩ các bước đi cho 10 năm, 20 năm, cho 50 năm, cho 100 năm sau, bước đi của đất nước, của nền kinh tế, của những con người, những thế hệ. Muốn tính được bước đi đó, muốn giữ vững non sông đất nước, lại còn phải xem lại đất nước ta hơn 4000 năm qua ra sao, hơn 100 năm qua thế nào và nhất là hơn 30 năm qua ta đã làm những gì. Những điều đó tiếp tục trong tương lai ra sao? Hình thành trong đầu óc những lớp người hôm nay hai mươi tuổi, mười tuổi và cả những lớp người đến nay chưa ra đời nữa, ra sao? Tài nguyên đất nước có những gì? Trong thế giới hiện nay, đất nước ta đi lên ra sao? Kinh nghiệm nào hay, kinh nghiệm nào dở? Những thất bại và thành công? Phấn khởi, vui mừng, cảm động, náo nức và những lo nghĩ, suy tư, những bực bội, những sốt ruột, vừa làm mở mang tâm trí lại vừa quặn thắt nỗi lòng.
Nhưng dù sao một suy nghĩ bao trùm vẫn là một suy nghĩ cho riêng ta, riêng dân tộc ta, riêng giai cấp công nhân cách mạng, cho hiện tại, cho tương lai và cho chung cả nhân dân thế giới: Đó là suy nghĩ về “Sức mạnh Việt Nam”, sức mạnh của cách mạng và sức mạnh phản cách mạng, sức mạnh Việt Nam và sức mạnh đế quốc Mỹ trong thời đại này.
* * *
Có một điều cảm tưởng rõ rệt nhất và chung nhất là ta thấy được rõ hơn, cụ thể hơn, chi tiết hơn, sâu sắc hơn cái sức mạnh vật chất, tiền của của đế quốc Mỹ, cái thâm độc, xảo quyệt của thực dân kiểu mới với các loại triết lý, học thuyết chống cộng phản động của nó. Nếu ta không phải là người đã trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu và chiến thắng vĩ đại này, thì ắt là ta phải lóa mắt, ngoẹo đầu về những sức mạnh “không tưởng tượng được” của nền văn minh và kỹ thuật Hoa Kỳ, sẽ rùng mình kinh sợ trước những cái xảo quyệt, tàn bạo và rồi tự hỏi “làm thế nào để có thể sống sót, để có thể chống nổi những cái đó?”, chứ chưa kể đến đánh bại nó. Chính những bọn tay sai của Mỹ đã thực sự tin tưởng sức mạnh đó, cũng không giải thích nổi tại sao chúng lại thua và không giải thích nổi cái số phận “đuôi chó” của chúng. Rất nhiều người có lương tri sống trong những vùng địch chiếm và hoặc ở nơi này, nơi khác của thế giới đều tỏ ra đồng tình với mục đích chiến đấu của chúng ta, cảm phục cuộc chiến đấu của ta, nhưng cũng đã từng “không tưởng tượng nổi” thắng lợi cuối cùng của ta. Thậm chí, có những người biết rõ Mỹ xâm lược và theo Mỹ là tay sai, là việt gian, nhưng cũng tự nhủ rằng : Mỹ nó mạnh thế, không thể không theo Mỹ và rồi tự an ủi bằng câu “gặp thời thế, thế thời phải thế” với một tinh thần tiêu cực hoặc với một tiếng thở dài, xuôi tay cho “thế sự” và “sức mạnh Hoa Kỳ”.
Thế đấy! Thế mà ngày nay cả 50 triệu người của cả dân tộc ta đang giày xéo lên những hình bóng của thứ sức mạnh ghê gớm ấy, đang ca hát, đang khôi phục, đang xây dựng. Nhân dân lao động đã vào cái gọi là “dinh Độc Lập” để tận mắt xem bọn tay sai sống trên nhung lụa như thế nào? Trẻ em nhảy nhót trên những xác xe tăng gục đổ, la hét và đùa vui. Cả dân tộc ta vụt đứng lên y hệt như một người có phép thần và đã khuất phục được một loài quỷ khát máu và tàn bạo mà mọi người không ai không kinh sợ. Không những thế, ta còn đem cái thân xác thất bại của loài quỷ đó phơi bày cho cả thiên hạ xem. Và những người trung thực bỗng thấy thêm lòng can đảm, thêm niềm tin nụ cười hướng đến tương lai, để gạt bỏ những sự hù dọa của bọn hung nô của thời đại.
Quả thật, kẻ địch của ta đã có một sức mạnh ghê gớm. Nhưng nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam lại có sức mạnh lớn lao hơn, kỳ diệu hơn và đã thắng chúng một cách vẻ vang trọn vẹn, dứt khoát rõ rệt. Chúng cũng không thể cãi bài bây mà xí xóa thất bại của chúng được. Kể ra khó mà nói là kẻ địch yếu. Chúng có một loại sức mạnh của chúng. Nhưng Việt Nam lại có một loại sức mạnh của Việt Nam. Và sức mạnh Việt Nam thắng sức mạnh của đế quốc Mỹ. Vậy sức mạnh Việt Nam phải cao siêu hơn, kỳ diệu hơn: đó là sức mạnh cách mạng, sức mạnh của thời đại, sức mạnh của chủ nghĩa Mác – Lênin, sức mạnh của lòng yêu nước nồng nàn, của tinh thần đoàn kết sâu sắc. Sức mạnh đó biểu hiện tập trung vào sự lãnh đạo tài tình và niềm tin sâu sắc mạnh mẽ. Sức mạnh đó được tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Trong những ngày hội của non sông, trên khắp nẻo đường đất nước, trong các phòng họp, trên các công trường, đồng ruộng…chúng ta đã gặp bao nhiêu gương mặt khác nhau. Có những gương mặt của niềm hân hoan trọn vẹn: thắng lợi, sum họp, chung thủy. Có những gương mặt của niềm vui chung và nỗi đau riêng.
Ta hãy đi tìm những gương mặt của nhiều thế hệ. Đây là những gương mặt của các đồng chí của “thời dựng Đảng”, những người học trò và đồng chí đầu tiên của Bác Hồ. Hiện nay, đó là những gương mặt của các đồng chí lãnh đạo tuổi đã suýt soát bảy mươi. Những cụ già khác vào tuổi đó đều đã trải qua sống dưới nhiều chế độ áp bức và khủng bố, ngày nay được nhìn thấy độc lập, tự do, trông thấy con cháu đều thật sự “đã nên người”, có kiến thức, có việc làm, biết tự hào thì các cụ vẫn tự nhủ lòng “bây giờ nhắm mắt cũng yên tâm, vui lòng, hả dạ”. Nhưng còn các đồng chí lãnh đạo của chúng ta thì ba bốn chục năm tranh đấu đã qua, lại chỉ chứa chất thêm trong đầu bao nhiêu dự tính ngày càng phong phú, càng tha thiết cho những năm sắp tới. Những dự tính đầy ứ và nóng bỏng, mà sức lực không còn như xưa, thời gian để thực hiện những dự tính thì còn quá ngắn. Phấn khởi và tự hào về thắng lợi càng dạt dào, tin tưởng vào tương lai càng vững chắc ; thì những lo âu để vạch ra những dự tính, tìm những phương pháp và những con người đủ khả năng và tin cậy để thực hiện các dự tính đó lại càng nặng trĩu, càng gay gắt và càng sôi bỏng. Những gì các đồng chí đó đã cảm thụ và nhận thức được trong gông cùm, trong máu lửa vẫn cứ như những giọt thép chảy đốt cháy tâm can. Những người kế thừa cảm thụ nhận thức ra sao đây? Những chân lý đơn giản: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa”, đạo đức “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “Đoàn kết là sức mạnh”, lại cũng là những chân lý vĩ đại. Nó đơn giản vì ai cũng nói được. Nhưng nó vĩ đại bởi vì muốn thực sự nhận thức được nó và toàn tâm thực hiện nó lại phải có phẩm chất, nghị lực phi thường.
Lịch sử 4000 năm của dân tộc đã được 50 năm qua làm cho rạng rỡ như bây giờ. Nhưng không phải và không thể cứ sống như bây giờ: hàng năm vẫn còn những ngày tháng giáp hạt thiếu ăn, nhà ở của nhân dân còn thiếu thốn, chật chội, còn có chỗ tối tăm; bữa ăn chưa đủ định lượng, chưa ngon, đa số trẻ em còn chưa có chỗ học đàng hoàng và chỗ chơi tử tế, trong cuộc sống người ta còn ganh tỵ, hách dịch, việc làm còn trì trệ, thậm chí còn có người ăn cắp, hối lộ, trốn việc, có người trù móc nhau, lừa lọc, tranh giành, bất mãn… Nhìn rộng ra thì cả thế giới cũng đang tiến lên những con đường phong phú và phức tạp. Chủ nghĩa xã hội trở thành một xu thế của lịch sử, đồng thời là ước mơ, khát vọng của loài người. Nhưng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội lại không thể không trải qua những bước đi khác nhau: nhanh hay chậm, thành công hay thất bại; thậm chí cả việc vừa xã hội chủ nghĩa lại vừa không phải là xã hội chủ nghĩa, hoặc xã hội chủ nghĩa thật, cũng có xã hội chủ nghĩa giả. Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội ra sức xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, chê bai, khoét sâu khuyết, nhược điểm, lợi dụng mâu thuẫn “đâm bị thóc chọc bị gạo”, luôn luôn tìm sơ hở để phản kích ác liệt…
Bác Hồ nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Ngày nay, non nước đã được giữ vững, ta lại phải nhớ câu Bác Hồ dặn lại trước lúc Bác đi xa: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” và “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
Lớp trẻ ta bây giờ bắt đầu phải bảo nhau: Bác Hồ và các chú đi trước đã có công giữ nước, nay chúng ta phải cùng nhau dựng nước to đẹp hơn mười lần xưa để Bác được vui lòng. Bác Hồ vẫn yên nghỉ nơi Quảng trường Ba Đình theo dõi các bước đi của con cháu.
Chúng ta phải cùng nhau, nghĩa là phải là một khối đoàn kết nhất trí góp sức mỗi người một phần, cái phần đó, mỗi người ta cố gắng cho nó được nhiều, được to, dù rằng so với lịch sử từ trước đến nay cũng như so với không gian của Tổ quốc chỉ là phần rất nhỏ bé. Nhưng chúng ta phải cùng nhau!
Trong sự quan hệ cùng nhau của nhiều thế hệ này, không khỏi không nảy sinh những mâu thuẫn. Những ưu tư, kinh nghiệm và những mong ước sâu xa của những lớp người đi trước, thì lớp đi sau cũng khó mà hiểu được cho hết ngay một lúc, còn những ước mơ táo bạo, những kiến thức mới mẻ, những sức lực dồi dào và những mong muốn phong phú của lớp người đi sau, thì lớp người đi trước cũng không thể nào hiểu hết được và cũng không thể nào hiểu được sâu sắc.
Nhưng đã là quan hệ cùng nhau thì chỉ có quyền cùng nhau bổ sung, cùng nhau bồi đắp cho nhau, chứ tuyệt nhiên không có sự chê bai và phủ nhận.
Ta thường nghe những dư luận:
- Đảng lãnh đạo chiến tranh giỏi, lãnh đạo kinh tế, văn hóa không giỏi,
- Đảng lãnh đạo chính trị giỏi chứ lãnh đạo khoa học kỹ thuật, chuyên môn không giỏi.
Phải trên một chân lý hiển nhiên là có Đảng lãnh đạo mới có nền kinh tế và văn hóa như ngày nay. Có Đảng lãnh đạo nước ta mới có một trình độ khoa học và kỹ thuật như ngày nay. Và trên cơ sở chân lý đó, có những yêu cầu nâng cao sức lãnh đạo và trình độ lãnh đạo của Đảng về các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật thì tạm coi là một ý kiến tích cực. Nhưng từ những ý kiến đó mà đi tới một sự chê bai, châm chọc, thậm chí phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng thì là những ý kiến phản động mà kẻ thù của ta cũng mong muốn khêu gợi lên.
Những luận điểm cứ muốn gạt bỏ những người già (mà thực tế không thể gạt được) là một luận điệu sai lầm. Nhưng những luận điệu cứ cho trẻ là trẻ con, non nớt chưa làm việc được thì cũng quá cũ kỹ và trì trệ. Trong cuộc sống luôn có lớp người trẻ, lớp người già, có lớp người đi sau, lớp người đi trước. Và điều đó cứ làm bản thân tôi luôn luôn triền miên suy nghĩ. Đó cũng là vì tôi thuộc loại người vừa đi trước vừa đi sau, già thì chưa già quá mà trẻ thì không còn trẻ nữa. Đã từ lâu không có cái thú làm cha, mà cũng đã từ lâu đã có cái thú làm ông. Các anh lớn gặp tôi thì đã nói mày còn trẻ lắm, nhưng các thanh niên mới gặp tôi đã từ lâu không gọi là chú nữa mà kêu là thưa bác, cả chung quanh họ hàng tôi đã có một đội ngũ cháu gọi bằng ông đông không đếm xuể nữa. Các cháu nhỏ đã nhìn tôi bằng con mắt tò mò như muốn tìm những gì là thần bí cổ xưa trong các câu chuyện xảy ra từ lúc chúng chưa ra đời. Nhiều chuyện chúng nó nghe mà không hiểu. Cũng như nhiều chuyện các cháu làm bây giờ, tôi cũng cứ băn khoăn “Không hiểu tại sao nó làm thế?”.
Lớp người lớn tuổi đi trước thì nhìn vào cơ đồ sự nghiệp của nước nhà gây dựng được đến ngày nay, thấy ở đó biết bao xương máu, bao cay đắng, bao tâm huyết của bao nhiêu lớp người… mà tâm tư suy nghĩ không biết rằng những người kế thừa có tiếp tục phát triển được sự nghiệp như ý Bác Hồ mong muốn, xứng đáng với những vinh dự, vẻ vang đã đạt được hay không?
Lớp người mới lớn lên, có hoài bão có chí khí nhìn vào những cục diện lớn thì hoặc thiếu tự tin ở kinh nghiệm tài năng của mình; hoặc quá tin vào kiến thức và sức bật mạnh mẽ của mình mà tâm tư lo ngại những “ông già” ngày càng chậm chạp, bảo thủ, không đưa được đất nước bay bổng trên những cánh ước mơ vĩ đại,
Thường thường những người trẻ tuổi ít tự tin ở tài năng và kinh nghiệm quán xuyến toàn diện, nhưng lại nhiều tự tin vào lĩnh vực cụ thể mà mình được học tập, nghiên cứu và hoạt động. Và trong mỗi lĩnh vực, những người trẻ tuổi đều có cảm giác bức bối chật hẹp chưa thỏa được lòng vùng vẫy: chật hẹp về đời sống, chật hẹp về điều kiện làm việc, chật hẹp về sự chỉ đạo cụ thể, vướng víu trong các mối quan hệ hiệp đồng… Vì vậy một tâm trạng chờ mong, ao ước ở sự lãnh đạo chung, có được những bí quyết thần tình gì hoặc có một cái gì mới mẻ hơn, gỡ được nhiều những gút mắc, vướng víu để tất cả được thoải mái vùng vẫy bay xa.
Không thể lấy những ngày tuổi trẻ của thời kỳ cách đây 20 – 30 năm để hiểu được những ngày tuổi trẻ hiện nay, nhưng những người lớn tuổi lại có thể do kinh nghiệm dày dạn của mình, hiểu được những tác động khác nhau đến tuổi trẻ mà bản thân tuổi trẻ ngày nay khó nhận ra. Tuổi trẻ ngày nay đang lớn lên trong một hoàn cảnh lịch sử rất phong phú mà cũng rất phức tạp.
Tuổi trẻ nước ta sinh ra trong một nước mà nền sản xuất còn thấp, kinh tế còn nghèo nhưng lại được tiếp thu những kiến thức khoa học thật rộng rãi, thật mới mẻ, được tiếp xúc hàng ngày với bao nhiêu lý thuyết khoa học thật và giả, bao nhiêu quan hệ rối rắm mới lạ. Đời sống vật chất và những điều kiện đời sống tinh thần trước mắt không phù hợp chút nào với những kiến thức và những nhu cầu ngày càng cao, càng nhiều về cả vật chất lẫn tinh thần và cả những quan hệ xã hội ngày càng nhiều nội dung tế nhị và phong phú. Vì vậy trong các loại tâm tư có cả những tâm tư về đời sống, về điều kiện làm việc và về quan hệ xã hội. Nhưng tất cả các loại tâm tư thì lại đều nhân danh lý tưởng, nhân danh sự nghiệp cho nên nhiều khi những tâm tư đó cũng mâu thuẫn đối chọi nhau, vướng mắc nhau không thoát ra được.
Ngay cả trong những lớp người lớn tuổi, tâm tư cũng đủ loại đủ kiểu như vậy. Những yếu tố tiêu cực như nấm độc cứ len lỏi khắp nơi. Chỉ những chỗ nào, lúc nào ánh sáng của lý tưởng, của sự nghiệp chân chính chiếu rọi vào thì mới hạn chế được những nấm độc của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, của những thói tự cao tự đại và bảo thủ lạc hậu. Ánh sáng đó là mặt trời, mặt trời chân lý, mặt trời của lý tưởng của sự nghiệp. Dù sao nó cũng cứ vằng vặc sáng soi khắp chỗ, dù sao cũng có đội ngũ những con người chân chính gương cao, mây mù che lấp nó chỉ là những đám mây tạm thời giao động, không bền vững, luôn luôn bị ánh sáng chói lọi xé tan ra và những làn gió đấu tranh quét sạch đi; mây mù tan ra rồi lại tụ lại, bị gió quét đi rồi lại bay quẩn. Nhưng nó cũng chỉ là những đám mây và mặt trời vẫn cứ là mặt trời.
* * *
Trong Đại hội IV hầu như ai cũng thấy rõ một nỗi buồn vắng Bác, nhất là những đồng chí có mặt từ Đại hội III. Dạo đó Bác đã 70 tuổi, nhưng còn khỏe mạnh và nhanh nhẹn lắm. Bác ngồi ghế Chủ tịch đoàn, một bên là đồng chí Trường Chinh, một bên là đồng chí Lê Duẩn.
Trong không khí tưng bừng của Đại hội IV hôm nay, tôi càng nhớ một đoạn trong diễn văn khai mạc Đại hội III của Bác:
“Đảng ta có thể tự hào là người kế tục những truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, là người mở đường cho nhân dân ta tiến lên một tương lai rực rỡ”.
Và Bác nhấn mạnh:
“Tất cả những thắng lợi đó không phải là công lao riêng của Đảng ta. Đó là công lao chung của toàn thể đồng bào trong cả nước. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”.
Rất tiếc là người ta không hiểu hoặc cố tình không hiểu hết ý nghĩa những lời nói quan trọng có chủ ý giáo dục đó của Bác. Chính vì vậy, mà sau này có người nói không khí của Đại hội IV là không khí say sưa chứa đầy những chất men chiến thắng, ý nghĩ cho mình là người “Khai quốc công thần” bộc lộ khá rõ ở một số người và tác hại rất lớn ở vào những năm sau đó.
Mặt khác, sự say sưa chiến thắng đã làm cho một số người vừa trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt, tạo nên một Đại hội chủ quan, duy ý chí nhất trong lịch sử Đảng ta và phải đúng mười năm sau, đến Đại hội VI mới bắt đầu khắc phục được. Bản thân tôi cũng chịu một phần trách nhiệm đó.
Như trên tôi đã nói, do biến Đại hội Đảng thành một Đại hội mừng công, say sưa chiến thắng, với suy nghĩ đơn giản: “Thắng giặc Mỹ là việc khó khăn nhất ta còn làm được thì chẳng có việc gì trong điều kiện thuận lợi của hòa bình ta không thể vượt qua...”.
Rất tiếc là không còn Bác cho đến hôm nay. Nếu còn thì trong Đại hội này, Bác lại sẽ nói: “Đây chỉ là thắng lợi bước đầu...” như sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ năm 1954.
Sau này, khi Di chúc của Bác được công bố toàn văn, chúng ta mới biết, Bác đã dặn dò rất kỹ những công việc phải làm sau chiến tranh:
“Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”.
Và Bác nhắc nhở dặn dò :
“Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”.
 Thực là những lời dạy sáng suốt biết bao, nếu không nói đấy là một nhà tiên tri vĩ đại. Trong Di chúc, Bác còn dặn một điều cực kỳ quan trọng:
“Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.
Tôi nghĩ, nếu dạo đó toàn thể đại biểu Đại hội IV được nghe toàn văn bản Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ và những người tổ chức Đại hội biết hướng nội dung của Đại hội dưới ánh sáng Di chúc của Bác Hồ thì không đến nỗi để Đại hội IV có những chủ trương sai lầm như chúng ta biết. Đặc biệt là những chủ trương về kinh tế, trong đó có những chỉ tiêu mãi đến gần 20 năm sau mới thực hiện được như chỉ tiêu lương thực.
Nhưng làm sao mà trách Đại hội được. Vì mãi hơn 20 năm sau Di chúc của Bác Hồ mới được công bố toàn văn. Trách nhiệm này thuộc về ai? Lịch sử sẽ phán xét!
Tại Đại hội IV, tôi trúng cử Ủy viên Trung ương. Lúc này tôi bước vào tuổi 53. Như người ta nói: “49 chưa qua, 53 đã tới” lẽ ra là năm hạn, nhưng tôi chẳng thấy có điều gì không may xảy ra trong cuộc sống của mình. Cũng như cả cuộc đời tôi, từ năm 17 tuổi tham gia hoạt động cách mạng cho đến nay nói chung là suôn sẻ, thuận lợi. Có bị bắt vào tù, bị tra tấn dã man, nhưng đã dũng cảm vượt qua, chiến thắng trở về đội ngũ. Cuộc đời tôi hơn 35 năm qua là những năm tháng đẹp đẽ, thật sự đáng tự hào: 18 tuổi vào Đảng, 19 tuổi đã là Tỉnh ủy viên dự khuyết Thái Bình, 23 tuổi là Chính ủy Mặt trận Hà Nội, 27 tuổi là Chính ủy Đại đoàn, 32 tuổi là Chính ủy Quân khu, 35 tuổi được phong hàm Thiếu tướng. Như vậy là vào quân đội, tôi không qua binh nhất, binh nhì, không qua cấp úy, cấp tá, mà khi Quân đội có chế độ quân hàm năm 1958, tôi được nhận ngay quân hàm cấp tướng.
Sau Đại hội IV, tôi chính thức được chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, phụ trách bí thư Ban cán sự đồng thời kiêm nhiệm chức phó Ban Tuyên huấn Trung ương phụ trách văn hóa văn nghệ. Đây chủ yếu là do nguyện vọng của tôi. Còn một số đồng chí quen thân thì thành thật khuyên tôi nên ở lại tiếp tục phục vụ trong Quân đội. Nhưng cái duyên nợ với văn hóa văn nghệ đã lôi kéo tôi vào con đường mà sau này tôi mới nhận ra là rất lắm chông gai.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét