Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

Bản Cương lĩnh 1000 từ

Chương 12
Bản Cương lĩnh 1000 từ

Thú thật là sau lá thư của anh Linh, tôi cảm thấy như mình bị từ chối một cách thẳng thừng và phũ phàng. “Dạo này tôi bận lắm, vì vậy có chuyện gì về văn hóa văn nghệ nói với anh Đào Duy Tùng chứ đừng nói với tôi nữa”. Thế là dù việc cấp thiết, tôi cũng sẽ không được nói với anh. Gặp nhau do yêu cầu công việc thì gặp, nếu không thì thôi, và cả sau này nữa, mặc dù tôi và anh Linh vẫn thường trông thấy nhau ở các hội nghị Trung ương và các kỳ họp Quốc hội. Trông thấy nhau, anh Linh chào tôi thì tôi chào lại, anh ấy bắt tay thì tôi bắt tay, tôi cũng không chủ động chào trước.


Cho đến một hôm, trong cuộc họp Trung ương lần thứ 10, khóa VI, bỗng nhiên có sự khai thông mối quan hệ đang bế tắc giữa tôi và anh Linh, kéo dài đã gần bốn năm. Hôm ấy, trong giờ giải lao, mọi người đi uống nước, tôi uống nước xong, đang ngồi một mình ở hội trường thì anh Linh đi qua, anh chủ động đến bắt tay tôi, hỏi thăm sức khỏe và tình hình công tác của tôi. Tôi thưa với anh là sức khỏe vẫn bình thường, còn công tác thì ngoài nhiệm vụ ở Quốc hội tôi vẫn tập trung nghiên cứu về văn hóa. Dạo đó, tôi đang có chân trong Ban Dự thảo chiến lược đến năm 2000 và có phác thảo một kiến nghị về văn hóa.
Nghe vậy, anh Linh nói:
- Chà! Cái chuyện văn hóa nó nhiều vấn đề quá, nói mãi không bao giờ hết. Có lẽ hôm nào tôi phải gặp riêng anh một buổi để chuẩn bị gặp anh em.
Tôi hơi ngạc nhiên về câu nói của anh Linh. Không biết Tổng Bí thư gặp anh em là anh em nào? Phải chăng sẽ có một cuộc gặp như cuộc gặp lịch sử trước Nghị quyết 05, để chuẩn bị cho Đại hội VII sắp tới. Nhưng tôi không tin là có điều đó. Hiện tại chưa có tín hiệu đáng mừng nào để có thể hy vọng dẫn đến điều đó, ngược lại tình hình đang ngày càng khác đi.
Khi chuông báo hết giờ nghỉ, anh Linh bắt tay tôi lần nữa, dặn:
- Hôm nào anh lên gặp tôi một buổi, ta nói chuyện thêm với nhau.
Nghe anh Linh nói thế tôi rất mừng. Mừng không phải là vì tôi nối lại được mối quan hệ với người có chức có quyền cao nhất nước, mà là nối lại được một mối quan hệ đẹp đẽ thắm đượm tình người như tôi đã nói nhiều lần trên kia. Hai là, lời mời của anh Linh đã gãi đúng chỗ ngứa của tôi lúc này, vì tôi đang ấp ủ một dự định lớn về vấn đề bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc, mà muốn triển khai thì phải có những điều kiện cần thiết, liên quan đến chức năng quản lý của nhà nước, nếu được Tổng Bí thư ủng hộ sẽ thuận lợi rất nhiều.
Do đó, nghe anh Linh vừa ngỏ ý, tôi “bắt” luôn:
- Tôi cũng đang có một số ý kiến về văn hóa muốn gặp anh để trình bày. Và tôi đề nghị luôn là trong cuộc họp Quốc hội sắp tới, anh bố trí cho tôi gặp một buổi (vì cả anh Linh và tôi đều là đại biểu Quốc hội, mà họp Quốc hội thì chỉ cần có mặt đông đủ buổi khai mạc, sau đó vắng mặt lúc nào cũng được, chắc là anh Linh sẽ có thời gian gặp tôi).
Anh Linh đồng ý. Thế nhưng suốt cả kỳ họp kéo dài hơn hai mươi ngày, tôi chờ anh Linh gợi ý về cuộc gặp nhưng không thấy. Bỗng một hôm, tôi nhớ là sau kỳ họp Quốc hội vài ngày, đang ngồi làm việc, tôi nhận được điện thoại từ Văn phòng của Tổng Bí thư gọi đến. Tôi cầm máy, đầu dây bên kia là cậu thư ký của anh Linh:
- Anh Độ đấy à! Anh Mười muốn nói chuyện với anh.
Tôi cầm máy. Lâu lắm rồi tôi mới được nghe giọng nói thân thuộc của anh Linh:
- Định gặp anh trong kỳ họp Quốc hội vừa rồi nhưng bí quá, không bố trí được. Nay thì thu xếp được rồi, vào chiều mai, anh có bận gì không?
Hôm ấy là ngày 24-12-1990. Ngày hôm sau là ngày 25-12, lễ Nô-en, tôi không có gì bận cả, nên tôi nói với anh Linh là tôi có thể gặp anh.
Đặt máy xuống, tôi cứ suy nghĩ mãi về cuộc gặp anh Linh sắp tới. Tôi tự hỏi tại sao lại có cuộc gặp gỡ này? Vào thời điểm đó, tôi vẫn là Ủy viên Trung ương, nhưng không còn là Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ. Còn chức Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục thì thực ra chỉ là làm cho vui mà thôi chứ có quyền hành gì đâu?... Ví dụ về thực trạng văn hóa nói chung của nước nhà đang xuống cấp nghiêm trọng, ai ai cũng biết. Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội càng biết rõ hơn, nhưng cũng chỉ có thể gióng lên hồi chuông báo động mà thôi. Đôi khi gióng lên cũng chỉ để mình nghe chứ cũng chẳng có ai cộng hưởng.
Chiều hôm sau, 25-12-1990, theo hẹn, tôi lên chỗ anh Linh. Anh đã chờ sẵn để đón tôi, thân tình như ba bốn năm về trước. Còn tôi, lâu lắm rồi mới lại có dịp đặt chân vào phòng khách quen thuộc của Tổng Bí thư, tôi có phần xúc động. Chính tại căn phòng này, tôi đã báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư những suy nghĩ đầu tiên của mình về Nghị quyết 05. Cũng chính tại căn phòng này, đồng chí Tổng bí thư của Đảng đã đề xuất với Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ việc gặp gỡ các văn nghệ sĩ để chuẩn bị cho Nghị quyết 05 ra đời... Tại căn phòng này tôi đã từng được tận hưởng những niềm vui, những giây phút hạnh phúc của cuộc đời. Đó là hạnh phúc khi những suy nghĩ tâm huyết của mình về sự nghiệp cách mạng nói chung và về văn hóa văn nghệ nói riêng, được Đảng ghi nhận và đích thân đồng chí Tổng Bí thư khuyến khích, động viên.
Sau những câu chào hỏi ban đầu hơi có vẻ ngượng ngùng, hai chúng tôi lại ngồi với nhau như những ngày nào. Anh Linh mở đầu câu chuyện trước, anh nói về văn hóa nhưng chủ yếu đề cập đến văn học nghệ thuật, về các bộ phim, các vở diễn sân khấu, về các cuốn sách xuất bản gần đây... Anh cũng nói đến tình trạng xuống cấp của văn hóa văn nghệ nói chung...
Nghe anh Linh nói, tôi chợt nghĩ có lẽ anh muốn tỏ ý đồng tình với bản báo cáo của Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội do tôi trình bày cách đây mấy hôm ở Hội trường Ba Đình. Trong bản báo cáo do tôi trực tiếp soạn thảo, được trình bày tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa VIII, tôi đã nhấn rất mạnh tình trạng xuống cấp của văn hóa và đạo đức. Điều mà Ủy ban chúng tôi hết sức băn khoăn là nhiều truyền thống, nhiều nét sinh hoạt văn hóa đẹp và độc đáo của dân tộc chẳng những bị lãng quên mà còn bị lên án, gạt bỏ khỏi trang sách của trẻ thơ và nếp sinh hoạt hàng ngày. Nếu một thời chúng ta “ra ngõ gặp anh hùng” thì bây giờ, ngay trong nhà ở, cuộc họp, hay sinh hoạt văn hóa chúng ta cũng gặp những trẻ em, những người lớn thiếu hoặc không có văn hóa... Sự sa sút về đạo đức, về lối sống của nhiều người chẳng những trở thành mối lo ngại, sự đau lòng của người lương thiện, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến phẩm giá của người Việt Nam trước con mắt của bạn bè, thành mục tiêu để cho kẻ thù tấn công chúng ta trên mặt trận tư tưởng văn hóa.
“Ủy ban chúng tôi cũng xin lưu ý Quốc hội là trong khi hàng loạt các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đang bị xuống cấp nghiêm trọng, không có kinh phí trùng tu, tôn tạo, thì không ít các khách sạn được xây dựng vội vàng để rồi không có hoặc có quá ít khách đến nghỉ...”
Có thể đây lại là một sự “cộng hưởng” chăng? Nhưng càng nghe, tôi càng nóng ruột. Bởi vấn đề mà tôi đang quan tâm, nung nấu, là vấn đề văn hóa dân tộc trong thời kỳ đất nước mở cửa. Đây là vấn đề rất lớn mà hôm nay tôi muốn đích thân trình bày với đồng chí Tổng Bí thư, cũng tức là trình bày với Đảng, chứ không phải chỉ là bình luận về một số bộ phim, vở kịch, về vài cuốn sách... Thế nhưng anh Linh lại có vẻ say sưa về chuyện này. Vì nể anh tôi không nỡ ngắt lời. Vả lại, nhận xét vở kịch này quyển sách kia, nó khó lắm, không dễ gì thống nhất với nhau ngay được. Cho nên tai thì nghe anh Linh nói mà tôi cứ nhăm nhăm chờ dịp để chuyển sang chủ đề văn hóa dân tộc, mục đích chính của cuộc gặp mà tôi dự định hôm nay...
Tình thế lúc này làm tôi nhớ lại buổi làm việc với Tổng Bí thư Lê Duẩn cách đó mười năm, năm 1981, khi tôi vừa đi học một lớp về văn hóa văn nghệ ở Liên Xô về. Hôm đó, anh Duẩn cho gọi Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ lên để trao đổi nội dung chuẩn bị cho Dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V. Theo thông báo của Văn phòng Tổng Bí thư thì địa điểm làm việc là ở nhà nghỉ Hồ Tây.
Theo hẹn, đúng bảy giờ ba mươi phút, chúng tôi có mặt. Thành phần gồm có tôi, Trưởng ban; Nguyễn Văn Hạnh, Phó ban và Nguyễn Thanh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, lúc bấy giờ được coi là cốt cán của Ban.
Trước đó, chúng tôi có họp lại để chuẩn bị ý kiến, với tham vọng là trình bày với anh Duẩn toàn bộ những quan điểm mới đối với văn hóa văn nghệ theo kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đây là dịp may không hẹn mà gặp để thực hiện nguyện vọng của tất cả anh em được tham gia lớp học ở Liên Xô như chương trước tôi đã nói. Anh em trong Ban đều hy vọng rằng với trình độ của tôi, lại được trang bị thêm kiến thức mới, cộng thêm khiếu ăn nói cũng khá, nên có thể trình bày với Tổng Bí thư những quan điểm chủ yếu, nhằm góp phần đưa nội dung văn hóa văn nghệ vào Dự thảo Nghị quyết Đại hội đúng với tầm quan trọng của nó. Thế nhưng tôi vừa phát biểu chưa được mươi phút thì anh Duẩn đã ngắt lời và nói luôn một mạch cho hết cả buổi sáng. Trái với anh Linh là đi vào vấn đề cụ thể, còn anh Duẩn thì chỉ bàn về văn hóa nói chung. Nói về văn hóa nhưng cách diễn đạt của anh Duẩn lại đượm màu sắc triết học, làm cho cả ba chúng tôi nghe đều rất thích, càng nghe càng cảm thấy thú vị. Thú thật, đây là một bất ngờ đối với chúng tôi. Xưa nay, nhiều người thường nghĩ anh Duẩn chỉ có giỏi về chiến tranh giải phóng, chứ có ai ngờ những suy nghĩ của anh về văn hóa lại sâu sắc đến thế. Chỉ tiếc là anh bận quá nhiều việc, lại không có ai giúp để kịp ghi lại những ý tưởng của anh thành văn bản, nếu không thì anh cũng có riêng một tác phẩm về văn hóa văn nghệ có giá trị không kém những tác phẩm của anh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Như thế là suốt cả buổi sáng, cả ba chúng tôi không ai nói thêm được câu nào. Sau đó, trong niềm phấn khích, khi chia tay, anh Duẩn lại hẹn chúng tôi buổi chiều lên, làm việc tiếp.
Buổi chiều, ngồi trong xe trên đường đến Hồ Tây, Nguyễn Văn Hạnh và Nguyễn Thanh nhắc tôi là chiều nay phải tìm cách trình bày cho được những nội dung đã chuẩn bị, vì đây là thời cơ rất hiếm có để Tổng Bí thư trực tiếp nghe những vấn đề về văn hóa văn nghệ. Nghị quyết Đại hội Đảng mà có được vài trang, thậm chí vài dòng về văn hóa văn nghệ là quý lắm. Tất nhiên phải là những trang, những dòng thật sự súc tích và nói trúng vấn đề cần nói để sau đó trở thành sức mạnh làm chuyển biến tình hình ở các ngành, các cấp.
Mặc dầu đã bàn bạc như vậy, nhưng tình hình buổi chiều cũng diễn ra gần như buổi sáng. Ba anh em chúng tôi vừa ngồi xuống ghế, chưa uống hết chén trà, anh Duẩn đã bắt đầu nói. Những suy nghĩ nảy ra trong đầu anh buổi sáng lại tiếp tục tuôn ra như một dòng chảy liên tục. Nhìn đồng hồ đã hơn một tiếng trôi qua mà vẫn chưa có triệu chứng gì là anh Duẩn sẽ kết thúc, Nguyễn Vãn Hạnh và Nguyễn Thanh nháy mắt ra hiệu cho tôi. Biết thế nhưng tôi không thể ngắt lời anh được vì anh đang quá say sưa. Cho đến lúc, nhân anh dừng lại uống nước, lập tức tôi tranh thủ nói liền một mạch, để anh Duẩn không có dịp mà chen vào. Nhưng cũng chỉ được chừng mười phút, nhân lúc tôi sơ hở, dừng lại nhìn vào sổ tay, anh Duẩn lập tức “chiếm lại diễn đàn”, và cứ thế, anh nói cho đến hết buổi chiều.
Dọc đường trên xe ra về, Nguyễn Văn Hạnh biểu dương tôi: “Chiều nay anh chen vào được như thế là giỏi đấy!”
Thật là một buổi làm việc thú vị. Tuy không được đúng như mong muốn, nhưng bù lại, chúng tôi hiểu thêm về một con người, một lãnh tụ của Đảng có những suy nghĩ thật sâu sắc về văn hóa.
Trở lại cuộc gặp với anh Linh, tôi thấy cứ để anh Linh sa vào vấn đề cụ thể như thế này thì sẽ không đạt được mục đích như tôi mong muốn. Bởi vì hiện nay tôi không còn là Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ, cũng không còn là Bí thư Cán sự, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, do đó dù cho bộ phim này, vở kịch kia thế nào chăng nữa, tôi cũng chẳng thể có quyền gì can thiệp vào... Do đó, cũng như lần gặp anh Duẩn cách mười năm, đợi đúng dịp anh Linh ngừng lời uống nước, tôi tranh thủ “chiếm lại diễn đàn”.
- Hôm nay, tôi rất vui được anh gọi lên gặp, và tôi đã chuẩn bị để trình bày với anh một vấn đề bức xúc hiện nay là vấn đề bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc.
Tiếp đó, tôi trình bày với anh Linh khái niệm về văn hóa nói chung, nghĩa là khi ta nói về một nền văn hóa nào đó là nói đến một phạm vi rất rộng. Nó bao gồm những giá trị được tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử của một dân tộc, được tích lũy, kế thừa từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay, còn lưu giữ được qua bao biến thiên của lịch sử. Đặc biệt đối với Việt Nam ta, một đất nước phải trải qua những cuộc chiến tranh liên miên, thì những gì còn lại càng trở nên vô cùng quý báu.
Nói đến một nền văn hóa cũng tức là nói đến những giá trị đang được sáng tạo bởi đội ngũ văn nghệ sĩ đương thời, kể cả các nghệ nhân dân gian về các mặt đang tồn tại trong cuộc sống, ngoài sự quản lý của nhà nước... Các công trình và tác phẩm nghệ thuật được họ tạo ra, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của cả dân tộc.
Còn một điều nữa, cũng nằm trong phạm vi văn hóa mà nhiều người thường không để ý tới, hoặc ít quan tâm. Đó là những giá trị tinh thần có trong từng con người, được biểu hiện bằng những phẩm chất, những tính cách và những giá trị mang lính nhân văn cao cả đang tồn tại trong cộng đồng, thể hiện bằng những nghi thức đạo đức trong nếp sống, trong những phong tục tập quán tốt đẹp có ý nghĩa thẩm mỹ đạo đức đậm đà màu sắc dân lộc mà không có gì có thể thay thế được.
Hôm đó. tôi nhấn mạnh với anh Linh rằng, nếu những người lãnh đạo đất nước không kịp thời có những chủ trương, chính sách đúng đắn để bảo vệ và phát triển những giá trị văn hóa dân tộc quý báu này sẽ là có tội không những đối với hiện tại mà cả đối với các thế hệ mai sau.
Hãy thử hình dung xem, nếu như đến một lúc nào đó, những pho tượng mười tám vị La hán Chùa Tây Phương không còn nữa, Chùa Keo ở Thái Bình, Chùa Một Cột ở Hà Nội biến mất... thì nền văn hóa Việt Nam sẽ nghèo đi biết chừng nào. Cũng như thế, thật khó mà tưởng tượng nổi đến một lúc nào đó, trên các hội diễn sân khấu, trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, trên màn ảnh vô tuyến truyền hình... vắng bóng những vở chèo, những làn điệu dân ca từng làm say lòng biết bao thế hệ người Việt Nam.
Trong phòng chỉ có anh Linh và tôi mà tôi cảm thấy như mình đang nói trước một diễn đàn đông đảo. Còn anh Linh thì cũng lắng tai nghe một cách hết sức chăm chú, và hình như càng nghe càng say... Trong giây phút đó, tôi cảm thấy thực sự sung sướng, như được sống lại những giây phút hạnh phúc khi trình bày với anh Linh những dự định chuẩn bị cho Nghị quyết 05 ra đời...
Trong khi tôi đang trình bày, có mấy cậu văn phòng thập thò vào báo có khách, anh Linh đều gạt đi để tiếp tục nghe tôi nói. Nhưng sau đó, khi đến phần các biện pháp để thực hiện thì hình như anh Linh không còn được chăm chú lắm. Có lẽ vì nó đụng đến kinh phí, một vấn đề không thể không có đối với nhiệm vụ hết sức khó khăn và nặng nề này. Đây là một lĩnh vực phải được Nhà nước quan tâm, trong đó có việc tài trợ kinh phí, mới đủ sức chống chọi với mọi luồng văn hóa ngoại lai đang tràn ngập vào đất nước trong thời kỳ mở cửa hiện nay...
Nghe tôi trình bày xong, bằng một cử chỉ hết sức chân tình, anh Linh rót nước mời tôi uống và nói:
- Những vấn đề anh nêu ra đúng là rất quan trọng và cấp thiết, không thể để chậm hơn nữa. Nhưng việc này không phải chỉ có tôi và anh. Vì vậy, anh cần soạn thảo một văn bản hẳn hoi để các đồng chí có trách nhiệm khác cùng nghiên cứu.
Tiễn tôi ra cửa, anh Linh còn động viên tôi:
- Tôi thấy bây giờ anh làm được việc gì có ích cho Đảng, cho đất nước thì cố gắng mà làm.
Tôi cảm thấy như anh Linh muốn an ủi tôi trong hoàn cảnh gần như bị “treo giò” hiện nay. Bởi từ ngày sát nhập Ban Văn hóa Văn nghệ với Ban Tuyên huấn thành Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương do Trần Trọng Tân làm Trưởng ban, thì ngoài Quốc hội ra tôi chẳng được giao nhiệm vụ gì nữa...
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đây là lần thứ hai tôi bị “treo giò”. Lần thứ nhất sau Đại hội Đảng V, tuy trúng cử Ủy viên Trung ương nhưng anh Lê Đức Thọ không bố trí tôi làm Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ. Lần thứ hai, trúng cử Ủy viên Trung ương khóa VI, nhưng cũng chỉ giữ chức Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ có hai năm... Lần thứ nhất, anh Linh ở ngoài cuộc, nhưng lần thứ hai, chính anh Linh là người chứng kiến toàn bộ việc “treo giò” tôi. Có thể đây là một việc ngoài ý muốn của anh mà do tình thế buộc anh phải chấp nhận. Bởi ngay cái chức Tổng Bí thư của anh cũng đã có lúc có “khó khăn” kia mà.
Mới hôm nào anh còn vui vẻ nhận bản tham luận của Nguyễn Khắc Viện, của Dương Thu Hương thì sau đó không lâu, trong một cuộc họp, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã công khai nói Nguyễn Khắc Viện là “con nhà địa chủ đòi lên mặt dạy đời”, nói Dương Thu Hương là “con mẹ ranh cũng dám nho nhoe đòi làm Tổng thống”... Rồi “Những việc cần làm ngay” xôn xao một thời cũng đành phải xếp lại. Hai chữ “đa nguyên, đa đảng” tuyệt đối không được nhắc đến trong bất kỳ trường hợp nào... Sau Tiệp Khắc, Đông Đức, Rumani... Người ta nơm nớp lo sợ con bài Đô-mi-nô Đông Âu vượt biển tràn sang Việt Nam... Tôi biết rõ điều đó nên không oán trách ai, đặc biệt là đối với anh Nguyễn Văn Linh, người mà tôi luôn luôn giữ trong mình một tình cảm quý trọng. Chính vì vậy, sau khi nghe lời động viên của anh Linh tôi đã tiếp thu một cách rất thoải mái:
- Vâng! Từ lâu tôi cũng đã nghĩ như thế. Năm nay tôi đã 68 tuổi, đã vào những năm cuối của cuộc đời rồi, không còn tham vọng chuyển sang làm công tác gì khác nữa. Tôi tự xét trong hoàn cảnh hiện nay chỉ có thể giúp ích cho Đảng về mặt văn hóa mà thôi... Vì vậy mà mấy năm nay tôi tập trung suy nghĩ nhiều về các vấn đề thuộc về lĩnh vực văn hóa. Hôm nay được anh gọi lên, được trình bày với các anh những điều tâm đắc nhất, tôi chỉ có một yêu cầu là các anh ủng hộ tôi để tôi có điều kiện làm việc.
Nghe tôi nói như vậy, anh Linh lại tiếp tục động viên:
- Đúng! Tôi hoàn toàn ủng hộ những ý kiến của anh, những đề xuất của anh, anh còn làm được cái gì thì cứ cố gắng mà làm.
Nghe anh Linh nói vậy nhưng tôi vẫn cứ nhắc lại một ý của tôi mà hình như anh chưa thật chú ý lắm là đề nghị các anh cố gắng tạo điều kiện cho tôi thực hiện kế hoạch của mình, bởi nếu không được sự giúp đỡ có hiệu quả của các anh thì tôi sẽ không làm được việc gì hết. Cuối cùng, tôi còn mặc cả với anh Linh:
- Sau đây về, tôi sẽ soạn thảo thành văn bản chính thức và tôi sẽ gửi thẳng cho anh chứ tôi không gửi cho Bộ Văn hóa và Ban Tư tưởng Văn hóa đâu. Tôi xin nói thật với anh là Ban Tư tưởng Văn hóa bây giờ ít hiểu về văn hóa thật sâu và thật khoa học. Vì vậy, gửi cho họ tôi lo sẽ không kết quả gì... Do đó, nêu anh đã nhất trí với những nội dung tôi đã trình bày với anh thì xin anh ký vào văn bản để sau đó tôi có cơ sở pháp lý triển khai công việc.
Đây là vấn đề rất quan trọng, quyết định sự thành bại của công việc nên tôi vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt anh Linh để nắm bắt xem sự đồng tình của anh đến mức nào, rồi lại nhấn mạnh một lần nữa cái ý ở trên tôi đã nhấn mạnh.
- Ngay bây giờ về tôi sẽ chuẩn bị ngay tờ trình và sẽ gửi thẳng cho anh chứ tôi không gửi qua Ban Tư tưởng Văn hóa đâu!
Anh Linh gật gù tán thành:
- Đúng! Anh cứ gửi thẳng cho tôi...
Chỉ hơn một tuần sau tôi đã làm xong 3 văn bản, đút vào 3 phong bì. Một gửi cho Tổng Bí thư, một gửi cho Nguyễn Thanh Bình, Thường trực Ban Bí thư, một gửi cho Đào Duy Tùng, Bí thư phụ trách công tác tư tưởng. Để cho chắc chắn tránh khỏi thất lạc, tôi trc tiếp đưa tận tay từng người.
Có một chuyện khá buồn cười là khi đưa cho Nguyễn Thanh Bình và Đào Duy Tùng thì cả hai đều không hiểu là chuyện gì cả, trố mắt ngạc nhiên bảo: “Cái gì đấy?”. Tôi phải giải thích cho từng người một: “Đây là nội dung mà hôm nọ tôi đã gặp anh Mười Cúc. Anh Mười đã nghe tôi trình bày và hoàn toàn nhất trí. Hôm nay tôi làm thành văn bản chính thức báo cáo để anh biết”. Nguyễn Thanh Bình, Đào Duy Tùng khi nhận được phong bì tôi đưa ngạc nhiên hỏi: “Cái gì đấy?” thì hoàn toàn hiểu được. Nhưng khi tôi chuyển cái phong bì có cả bản tường trình cho Tổng Bí thư và cũng nhận được câu hỏi: “Cái gì đấy?” thì tôi vô cùng thất vọng. Tôi lại phải trình bày: “Đây là tờ trình chính thức về vấn đề “Bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc” mà hôm trước tôi đã trình bày với anh”. Lúc bấy giờ anh Linh mới à lên một tiếng, cầm lấy văn bản tôi đưa rồi đút vào túi chứ không nói gì thêm nữa.
Khác với phong bì gửi cho Nguyễn Thanh Bình và Đào Duy Tùng, trong phong bì gửi anh Linh, ngoài văn bản chính thức về vấn đề văn hóa dân tộc tôi có gửi kèm theo một thư riêng đại ý nói: “Hôm nọ khi nghe tôi trình bày, tôi thấy anh hoàn toàn tán thành những ý kiến đề xuất của tôi, cả về nội dung, cả về biện pháp thực hiện, anh còn động viên tôi bây giờ cố gắng làm được việc gì thì cố gắng mà làm. Nay tôi xin trình anh văn bản chính thức để xin anh chữ ký và anh thông báo cho Ban Bí thư triển khai thực hiện”.
Gửi văn bản đi rồi, tôi hồi hộp chờ đợi. Chờ mãi hết tuần này sang tuần khác, hết tháng này sang tháng khác, chẳng có tín hiệu gì đáp lại. Nghĩa là Đào Duy Tùng không thấy trả lời, Nguyễn Thanh Bình không thấy trả lời, anh Linh cũng chẳng có tin tức gì. Tôi biết lúc này tất cả đang tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng VII nên chẳng ai có thì giờ mà quan tâm đến văn hóa dân tộc.
Thế rồi bỗng một hôm, tôi nhận được một lá thư của Trần Trọng Tân, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, mời lên Nguyễn Cảnh Chân họp. Thư nói rõ: “Vừa qua anh có một số ý kiến trình bày với Ban Bí thư về Văn hóa dân tộc, vậy mời anh lên để cùng trao đổi”.
Tôi nghĩ bụng: thế là hỏng bét rồi. Tôi đã mặc cả kỹ với anh Linh là tôi chỉ trình bày với anh, với Ban Bí thư rồi cho triển khai thực hiện. Thế mà bây giờ các anh lại chuyển cho Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương để “cùng trao đổi” thì còn làm được cái gì. Tôi dự định sau khi có chữ ký phê duyệt của anh Linh hoặc của Ban Bí thư thì sẽ tự cầm cái văn bản ấy liên hệ với các cơ quan chức năng triển khai thực hiện. Còn bây giờ lại phải qua Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, với cơ chế làm việc hành chính quan liêu, lại không nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề thì làm sao mà thực hiện được. Thế là coi như chấm dứt một dự định tốt đẹp từ trong trứng nước.
Việc tuy không thành nhưng bây giờ nghĩ lại tôi rất tự hào về những ý tưởng của mình năm đó. Tôi đã nhìn thấy rõ sự cấp thiết của việc bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc và cố gắng gióng lên một hồi chuông báo động với Đảng... Nhưng cũng như Nghị quyết 05, tôi đã cố gắng hết sức mình, tưởng đã gần đi đến thành công, nhưng cuối cùng vẫn nếm mùi thất bại.
Tôi thành ra “cầu thủ số 12” trong đội hình. Tôi tích cực đi bóng, nhưng hoặc không có người đón bóng của tôi, hoặc tôi không được chuyền bóng. Như dự án bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc lần này chẳng hạn. Tôi đã tả xung hữu đột, một mình dẫn bóng đến sát khung thành, lần lượt chuyền bóng đến cho “3 tiền đạo”, nhưng cả ba đều cố tình không nhận bóng của tôi.
Tôi vẫn cho rằng việc giải thể Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương là một bước lùi. Tôi rất muốn được tiếp tục giúp ích nhiều cho Đảng trong lĩnh vực này, cả về nội dung lãnh đạo và cơ chế lãnh đạo. Những biến chuyển bước đầu đã tỏ ra có hiệu quả và đúng hướng. Tôi không có tham vọng gì về chức vụ, về đặc quyền, đặc lợi. Tôi chỉ muốn hoạt động trong cơ quan của Đảng, giúp ích cho Đảng. Nhưng khát vọng ấy của tôi một lần nữa lại không thành... May sao với cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội tôi vẫn có thể tiếp tục hoạt động, tuy có rất hạn chế, trong một lĩnh vực mà tôi ưa thích... Nhưng ở một đất nước mà Quốc hội thực chất hãy còn quá ít quyền hạn.
Sau lần thất bại này, biết nếu cố gắng nữa cũng vô ích, tôi đã cảm thấy chán nản, muốn nghỉ ngơi. Tôi tự lượng sức mình không thể tiếp tục công việc được nữa, khi cái thể chế chính trị đổi mới quá chậm so với đòi hỏi của cuộc sống. Tôi bất đầu nghĩ đến việc phải chăm lo cho cuộc sống của một người già bình thường, một ông già nghèo nhưng vẫn ham thích quan tâm đến văn hóa nghệ thuật.
Bản tài liệu tôi viết để trình anh Linh và Ban Bí thư dài hơn mười trang đánh máy, gồm nhiều phần. Trước hết là Đặt vấn đề, trong đó nêu bật quan niệm rộng rãi về văn hóa, sau đó nói đến các hoạt động cần thiết, và sau cùng kiến nghị mấy giải pháp về tổ chức, để thực hiện việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Nhưng tất cả tâm sức của tôi đặt vào đó, tiếc thay không đi tới được kết quả nào!
Cùng thời gian chuẩn bị bản kiến nghị về vấn đề “Bảo vệ và phát triển Văn hóa dân tộc”, tôi cũng tập trung suy nghĩ để phát biểu ý kiến về Cương lĩnh cho Đại hội VII.
Tiểu ban Cương lĩnh do anh Trường Chinh phụ trách, tôi có dự họp nhiều lần và có hai lần tôi phát biểu ý kiến. Cả hai lần tôi đều có chuẩn bị đề cương để phát biểu. Cả hai bản đề cương này cộng lại cũng gần 20 trang đánh máy. Trong đó, tôi có nêu lên những nhận xét về cách thảo luận Cương lĩnh mà tôi cho là chưa thực chất. Và báo cáo tổng hợp thì thường tổng hợp thành những công thức “cơ bản nhất trí”, “đa số tán thành”. Tôi còn “táo tợn” đề ra một dự thảo Cương lĩnh 1000 từ và tôi cho rằng Cương lĩnh càng vắn tắt càng tốt và những ý kiến của Cương lĩnh càng dứt khoát, rõ ràng càng tốt
Tôi lưu ý cần tập trung ý kiến vào giải quyết hai vấn đề:
1. Vấn đề “quan niệm về chủ nghĩa xã hội” có kết hợp với việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
2. Vấn đề “đoàn kết dân tộc” trong đó có vấn đề vai trò và vị trí của Đảng Cộng sản, với tư cách là Đảng lãnh đạo toàn dân tộc. Vai trò của Đảng phải được xác định trong những thắng lợi, tiến bộ và phải có trách nhiệm trong những thất bại, khuyết điểm mang lại nhiều khó khăn, đau khổ cho dân.
Bản Cương lĩnh 1000 từ có lẽ là cố gắng cuối cùng của tôi khi tôi còn là một thành viên trong cơ chế. Đó là tấm lòng của tôi đối với Đảng vĩ đại và đất nước thân yêu. Không lâu sau đó, tôi nhận quyết định nghỉ hưu một cách thanh thản.
Sau hơn 50 năm hoạt động cách mạng, đã từng bị tra tấn dã man trong nhà tù đế quốc, từng cầm súng chiến đấu trên khắp các chiến trường, lắm phen vào sinh ra tử, tôi trở về đời thường một cách bình thường.
Hiện tại cuộc sống của tôi hoàn toàn dựa vào đồng lương hưu. Tôi chỉ có một nỗi ân hận là không lo cho vợ con được nhiều về cuộc sống. Các con tôi đứa nào cũng phải tự bươn chải trong cuộc sống, kể cả khi tôi còn tại chức.
Có thể do những phát biểu tâm huyết và xuất phát từ trách nhiệm cao của một Đảng viên mà tôi bị liệt vào hàng ngũ những người chống đối, thậm chí đã có tên trong danh sách của những người “chống Đảng” được phổ biến đến Đảng ủy các cấp.
Tôi thấy tôi không thể nào chống những lý tưởng cao đẹp của Chủ nghĩa Cộng sản, nhưng tôi phê phán và chống lại sự làm ô nhiễm lý tưởng cộng sản, chống lại những kẻ xấu xa đang ở trong Đảng. Những kẻ luôn miệng rao giảng đạo đức nhưng thực chất lại là những kẻ tha hóa đạo đức nhất. Tôi sẽ phải chống lại những kẻ làm ngược lại lý tưởng cộng sản, sẽ phải chống lại những kẻ làm cho nhân dân mất lòng tin vào Đảng Cộng sản. Suốt đời tôi yêu tha thiết Đảng thân yêu của mình, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, với biết bao đồng chí, đồng đội của tôi đã anh dũng ngã xuống, vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì lý tưởng đẹp đẽ: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

1 nhận xét:

  1. Tuyệt vời! Chú sống mãi trong trái tim những người dân yêu nước.

    Trả lờiXóa