Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Tính ưu việt của khoa học quân sự Xô viết


Sinh ra trong Cách mạng tháng 10, trải qua Cách mạng tháng 10, trải qua xây dựng chủ nghĩa xã hội một thời gian dài và trải qua cuộc chiến đấu chống phát xít Đức, Nhật, khoa học quân sự Xô viết ngày càng hình thành rõ rệt, ngày càng hoàn thiện, bây giờ nó thành một thứ khoa học quân sự ưu việt trên thế giới.

Đây là vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp. Nay nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng 10, nhân được đọc một số ít tài liệu đơn giản và khái quát nói về vấn đề khoa học quân sự xô-viết, tôi có ghi chép lại theo sự hiểu biết và thu hoạch của tôi. Xin sắp xếp lại cho tương đối có hệ thống như sau để các bạn đọc tham khảo và nếu có thể góp ý kiến thảo luận thì càng hay.
I- Khoa học quân sự là gì?
Khoa học quân sự là gì? – Là những tri thức về tính quy luật của chiến tranh trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, về hệ thống phương pháp chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. Khoa học quân sự bao gồm nghệ thuật quân sự, vấn đề tổ chức và huấn luyện bộ đội vũ trang, những vấn đề về lực lượng kinh tế và tinh thần của 2 phía : ta và địch. Có thể nói cho rõ hơn : khoa học quân sự xô-viết bao gồm các vấn đề thuần tuý quân sự như nghệ thuật quân sự, tổ chức huấn luyện các bộ đội vũ trang và cả các vấn đề về lực lượng kinh tế và tinh thần của hai phía : ta và địch.
Chú ý: Trái hẳn với khoa học quân sự xô-viết, nền khoa học quân sự tư sản chỉ quan niệm bó hẹp trong vấn đề nghệ thuật quân sự mà thôi.
Cũng có thể nói: khoa học quân sự xô-viết nghiên cứu quy luật của chiến tranh, tiến hành cả một hệ thống công việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh.
Tính quy luật của chiến tranh là do tính quy luật của sự phát triển của xã hội có giai cấp sinh ra, nên bản thân khoa học quân sự là một khoa học xã hội, bởi vì: - Chiến tranh có quy luật của nó, do quy luật của xã hội mà sinh ra. Thí dụ: trong xã hội còn có giai cấp đối kháng thì còn có chiến tranh. Lại thí dụ: phương pháp tiến hành chiến tranh là do trình độ kinh tế, trình độ sản xuất của xã hội quyết định, như khi sản xuất xã hội mới đến trình độ tên, nỏ, giáo, mác thì người ta đánh nhau bằng tên, nỏ, giáo, mác; khi máy móc, điện khí xuất hiện thì đánh nhau bằng đại bác, máy bay, xe tăng.
Khoa học quân sự là một hình thái ý thức trong thượng tầng kiến trúc của xã hội, nghĩa là nền kinh tế xã hội thế nào thì có nền khoa học quân sự như thế; nó không phải là một vấn đề gì riêng biệt tách khỏi được đời sống xã hội và cơ sở kinh tế của xã hội.
Trong lịch sử phát triển của xã hội, nội dung hay định nghĩa về khoa học quân sự cũng thay đổi theo sự phát triển của phương thức sản xuất, của chế độ kinh tế và chế độ chính trị, tính chất và mục đích chiến tranh.
Ngày xưa, trong thời đại phong kiến, kinh tế còn thấp kém nghệ thuật chiến tranh chủ yếu chỉ bó hẹp trong mưu trí, hành động của tướng soái, cho nên mưu trí, hành động của các tướng soái quyết định chiến tranh thắng bại.
Ngày xưa vấn đề hậu phương giản đơn hơn, không như bây giờ vấn đề tổ chức hậu phương rất phức tạp, phải nghiên cứu tổ chức chu đáo, quy mô rất nhiều, cho nên khi việc tiến hành chiến tranh còn đơn giản thì khoa học quân sự cũng chưa thể hình thành.
Trên thế giới hiện nay có hai hệ thống xã hội, có 2 hệ thống tư tưởng nên có 2 khoa học quân sự đối lập nhau.
Sự khác nhau về nguyên tắc giữa 2 thứ khoa học ấy là ở chỗ giải đáp những vấn đề: Quy luật phát triển của xã hội, bản chất và nguyên nhân gây ra chiến tranh, sự tồn tại và ý nghĩa của quân đội như thế nào?
Cơ sở lý luận, tư tưởng, những nguyên tắc của mỗi hệ thống khoa học quân sự trước hết là do cách giải đáp những vấn đề căn bản ấy quyết định. Giải đáp đúng thì khoa học quân sự sẽ đúng, sẽ thắng, giải đáp sai sẽ thất bại.
Thí dụ: giai cấp tư sản nói rằng xã hội không phát triển nữa, đến xã hội tư bản là cùng cực rồi, do đó chúng cho chiến tranh vẫn còn và quân đội cũng sẽ còn mãi.
Ta thì cho rằng xã hội sẽ phát triển tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, tới thế giới đại đồng, không có giai cấp đối kháng nữa, không ai xâm lược ai nữa, khi ấy chiến tranh sẽ hết và cũng sẽ không còn quân đội nữa.
Giải thích về bản chất và nguyên nhân chiến tranh, ta cho rằng vì xung đột giai cấp nên gây ra chiến tranh, còn giai cấp đối kháng thì còn chiến tranh, vì vậy cần phải tiêu diệt giai cấp.
Giai cấp tư sản lại giải đáp cách khác, chúng bảo: “Bản tính loài người đều đã có sẵn bản năng tự vệ, bản năng hiếu chiến nên hay gây ra chiến tranh, muốn trừ bỏ chiến tranh thì phải cải tạo tính hiếu chiến của con người, như vậy sẽ hết chiến tranh, v.v…”.
Ta cần nghiên cứu rõ hơn cơ sở lý luận của khoa học quân sự xô-viết.
II- Cơ sở lý luận của khoa học quân sự xô-viết
Cơ sở lý luận của khoa học quân sự xô-viết có thể gồm mấy vấn đề sau đây:
A- Quy luật phát triển của xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Lê-nin đã phát triển một cách sáng tạo học thuyết của Mác và Ăng-ghen trong những điều kiện mới, tìm ra quy luật phát triển của xã hội trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc. Người đã chứng minh: “Chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ bị tiêu diệt”, và đi đến kết luận rằng: “Do quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội không thể thắng lợi đồng thời ở tất cả các nước mà lúc ban đầu có thể thắng lợi ở một số nước hay ở một nước cá biệt”.
Chỗ quan trọng của luận điểm này là: vì cách mạng xã hội chủ nghĩa lúc đầu chỉ có thể thắng lợi ở một số nước hay một nước cá biệt, nên một thời gian dài nó còn nằm giữa vòng vây của chủ nghĩa tư bản, luôn luôn bị chủ nghĩa tư bản tìm cách tiêu diệt, tấn công nên phải đặt vấn đề bảo vệ lấy thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa xã hội. Do đó phải tổ chức và chuẩn bị công cuộc bảo vệ chủ nghĩa xã hội, phải xây dựng lực lượng vũ trang, phải xây dựng khoa học quân sự mới, phù hợp với tính chất đấu tranh vũ trang của quần chúng lao động giành tự do của mình, chống bọn đế quốc gây chiến và xâm lược.
Lê-nin cùng những bạn chiến đấu và học trò của Người đã xây dựng những nguyên lý, lý luận chuẩn bị và tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng khoa học quân sự xô-viết, Người đã dựa trên cơ sở học thuyết của Mác về các vấn đề chiến tranh và quân đội, đề ra những điểm lý luận về chiến tranh chính nghĩa và không chính nghĩa trong thời đại đế quốc chủ nghĩa về những quy luật chung và những đặc điểm riêng của chiến tranh hiện đại. Những điểm lý luận này đã và đang giúp cho khoa học quân sự xô-viết khám phá đến cùng những quy luật khách quan quyết định thắng lợi trong chiến tranh và hướng dẫn sử dụng những quy luật đó.
Vì vậy ta phải nghiên cứu một số điểm khái quát về những điểm lý luận đó.
B- Học thuyết về chiến tranh của chủ nghĩa Mác – Lê-nin:
a) Học thuyết của Mác chỉ rõ: “Chiến tranh là một hiện tượng cố hữu của xã hội có giai cấp đối kháng, là một hiện tượng lịch sử; khi nào xã hội loài người hết giai cấp đối kháng thì cũng hết chiến tranh”.
Nói chiến tranh đây là nói những cuộc chiến tranh có tổ chức, có lực lượng vũ trang chuyên môn; trong thời đại cộng sản nguyên thuỷ chỉ có những cuộc tranh giành nhỏ, không có tổ chức và người chuyên môn tiến hành, nên chưa gọi là chiến tranh được.
Luận điểm này trái hẳn luận điểm của tư sản, chúng nói: “Không phải vì có giai cấp mà có chiến tranh”, “Chiến tranh không thể hết được, còn loài người thì còn chiến tranh”, nghĩa là chúng cho rằng “chiến tranh là một hiện tượng cố hữu của loài người”.
Mác và Ăng-ghen nói: “Chiến tranh cũng như các hiện tượng xã hội khác đều có cái bắt đầu và cái kết chung của nó”. Các Người xác định: “Chiến tranh là một hiện tượng lịch sử của xã hội sinh ra theo với sự xuất hiện chế độ tư hữu tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất và phân biệt làm hai giai cấp đối kháng”.
Các Người lại nêu rõ: “Chiến tranh có quan hệ với phương thức sản xuất, với kết cấu giai cấp trong xã hội” và đã chứng minh một cách hết sức rõ ràng “ảnh hưởng có tính chất quyết định của phương thức sản xuất đối với phương pháp tiến hành chiến tranh”.
b) Chiến tranh là tiếp tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực:
Lê-nin và Sta-lin phát triển thêm những điểm về chiến tranh trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đề ra một loạt vấn đề cần giải quyết để bảo vệ nước xã hội chủ nghĩa.
Lê-nin vạch ra: “Đứng về bản chất mà nói: chiến tranh là thủ đoạn bạo lực của giai cấp nào đó dùng để tiếp tục chính trị của họ. Giai cấp thống trị dùng những thủ đoạn kinh tế, tư tưởng, ngoại giao để thực hiện chính trị của họ. Lê-nin nói: “Chính trị thi hành một thời kỳ dài trước chiến tranh của một nước nào đó, một giai cấp nào trong nước đó, cũng là chính trị của giai cấp đó tiếp tục trong chiến tranh, không thể nào tránh được”.
Ví dụ: chính trị của một nước đế quốc là chiếm lợi nhuận, tăng lợi nhuận thì đến khi nó phát động chiến tranh, nó cũng chỉ có mục đích ấy thôi.
Chính trị của giai cấp vô sản và nhân dân Việt Nam, trước khi nổ ra chiến tranh là giành độc lập, tự do, hạnh phúc thì khi nổ ra chiến tranh cũng là nhằm để thực hiện mục đích ấy.
Thực dân Pháp trước sau gây chiến tranh cũng chỉ nhằm mục đích thực dân thôi, mặc dù chúng nêu lên luận điệu: “Phải mang quân sang An-giê-ri để giữ trật tự, v.v…”, chúng ta cũng thừa biết tâm địa dã man của chúng.
Cho nên có thể nói rằng: chính trị là xâm lược thì chiến tranh cũng là xâm lược, chính trị là áp bức bóc lột thì chiến tranh ấy cũng là áp bức bóc lột.
Cần chú ý tới luận điểm của Cơ-lau-dơ-vích (Clausevitz) một nhà quân sự tư sản nổi tiếng của Đức, Cơ-lau-dơ-vích cũng nói: “Chiến tranh là tiếp tục chính trị”, nhưng luận điểm của Lê-nin với luận điểm của Cơ-lau-dơ-vích khác nhau một trời một vực.
Lê-nin phân tích luận điểm của Cơ-lau-dơ-vích: “Nó chỉ dựa vào những lời tuyên bố về chính trị, mà không dựa vào bản chất chính trị; nó không đóng được “cái dấu giai cấp” vào bản chất chính trị của chiến tranh, nên cái chính trị của nó là đầu đề lừa bịp, bào chữa cho mục đích thối tha của giai cấp thống trị”.
Lê-nin lại nói : “Đi tìm bản chất chính trị của một cuộc chiến tranh rất khó, vì khi nổ ra một cuộc chiến tranh do đế quốc thủ mưu, chúng đều dùng những lời hoa mỹ để che phủ cái mục đích chính trị đê hèn của chúng”.
Lê-nin kết tội Cơ-lau-dơ-vích: “Dùng lý luận có vẻ khoa học ấy để che giấu bản chất giai cấp của các cuộc chiến tranh do giai cấp tư sản tiến hành”.
Lê-nin nhấn mạnh: “Đứng về bản chất mà nói, chiến tranh là một thủ đoạn của giai cấp nào đó để tiếp tục chính trị của họ, muốn hiểu rõ bản chất đúng và nguyên nhân phát sinh của chiến tranh thì phải nghiên cứu chính trị (đối nội và đối ngoại) trước chiến tranh của mỗi giai cấp hay nước nào đó”.
Lê-nin dạy rằng: “Nếu chính trị đang thi hành là của một nước đế quốc thì chiến tranh ấy là chiến tranh đế quốc, nếu chính trị đang thi hành là dân tộc giải phóng, tức là chính trị biểu hiện lợi ích của nhân dân, biểu hiện cuộc đấu tranh của nhân dân chống bọn thực dân, thì chiến tranh đó là chiến tranh dân tộc giải phóng”.
“Nếu như nội dung chủ yếu của chính trị của giai cấp vô sản thực hiện trong cuộc đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản là yêu cầu được giải phóng thoát khỏi sự nô dịch của tư sản thì cuộc cách mạng của giai cấp vô sản và cuộc nội chiến chống giai cấp tư sản chính là tiếp tục của cái chính trị đầy sứ mệnh giải phóng đó”.
Nguyên lý của Lê-nin và ý kiến của Cơ-lau-dơ-vích khác nhau về bản chất.
Cơ-lau-dơ-vích tách rời kinh tế và chính trị ra với nhau, do đó bóc mất nội dung giai cấp trong đó đi, còn chính trị cũng tức là nhập nhằng coi chiến tranh là biểu hiện lợi ích của toàn thể xã hội. Cơ-lau-dơ-vích giải thích chính trị như thế là để che đậy nội dung giai cấp của cuộc chiến tranh cướp bóc của bọn vương hầu, công khanh Đức mà thôi, tả vẽ những cuộc chiến tranh đó như những công cụ của chính trị toàn dân. Cơ-lau-dơ-vích không phân biệt chiến tranh theo tính chất của nó, hắn không thừa nhận cuộc chiến tranh chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức, những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Do đó mà nhận định về tính chất chiến tranh một cách rất hồ đồ. Bọn tư tưởng gia của giai cấp tư sản lấy cách nói hồ đồ đó làm chỗ dựa để phủ nhận chiến tranh chính nghĩa của nhân dân bị áp bức và hợp pháp hoá mọi cuộc chiến tranh cướp bóc của chủ nghĩa đế quốc.
Chiến tranh không thể nào thoát khỏi chính trị, người chỉ đạo chiến tranh phải là người chỉ đạo chính trị.
Do đó, khoa học quân sự xô-viết không phải chỉ bao gồm những vấn đề thuần tuý quân sự, không bó hẹp trong những vấn đề chiến lược, chiến thuật mà phải gồm cả những vấn đề chính trị, những vấn đề kinh tế, …
Vì vậy thắng lợi của chiến tranh không phải chỉ do phương châm tiến hành chiến tranh quyết định, tức là chỉ do vũ khí hay tổ chức chiến tranh quyết định, mà là do quy luật của một cuộc đấu tranh giai cấp; nói cho rõ hơn thắng lợi của chiến tranh không phải chỉ do vũ khí và tổ chức chiến tranh quyết định, mà là do những quy luật riêng của chiến tranh mà những quy luật ấy lại do những quy luật phát triển chung của xã hội quyết định. Cho nên nghiên cứu chiến tranh không thể tách rời khỏi sự nghiên cứu xã hội; chính vì nắm được nguyên lý này nên khoa học quân sự xô-viết đã nắm được bản chất của vấn đề.
c) Chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi chính nghĩa. Lý luận về chiến tranh chính nghĩa và phi chính nghĩa đã nêu một cách chính xác, khoa học tính chất chính trị của chiến tranh hiện đại và chiến tranh của các thời đại trước.
Vì chiến tranh là tiếp tục của chính trị, mà chính trị thì có nhiều thứ khác nhau, trên thế giới có hai loại chiến tranh, tìm ra 2 thứ chiến tranh để xét các cuộc chiến tranh hiện có, sẽ có và xét lại các cuộc chiến tranh trước đây.
Trong cuốn lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô đã phân biệt rõ hai thứ chiến tranh:
- Chiến tranh chính nghĩa không có tính chất cướp đoạt, hoặc gọi là chiến tranh giải phóng, mục đích của nó hoặc là để bảo vệ nhân dân chống với mưu đồ xâm lược và nô dịch của ngoại quốc, hoặc là để giải phóng các nước thuộc địa và phụ thuộc ra khỏi sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc.
- Chiến tranh phi chính nghĩa có tính chất cướp đoạt, mục đích của nó là xâm lược và nô dịch các nước khác, nô dịch nhân dân các nước khác hoặc nhân dân trong nước.
Nguyên lý này rất quan trọng, vì nó phát triển lý luận chủ nghĩa Mác lên một bước, làm cho ta có thể xác định được tác dụng và ý nghĩa của mỗi một cuộc chiến tranh trong lịch sử phát triển của xã hội, xác định được thái độ và sách lược của giai cấp công nhân và Chính Đảng Mác-xít đối với một cuộc chiến tranh cụ thể nào đó.
Ví như chiến tranh Ai Cập, chúng ta có nhận định được xác thực không hồ đồ. Anh – Pháp đánh Ai Cập tức là Anh – Pháp làm một cuộc chiến tranh phi chính nghĩa, Ai Cập chống lại, tức là chiến tranh chính nghĩa, chúng ta xác định thái độ và ủng hộ Ai Cập, phản đối Anh – Pháp, hoặc như việc Thổ khiêu khích Xy-ri cũng vậy, chúng ta ủng hộ Xy-ri, phản đối Thổ.
Từ chỗ phân biệt tính chất giai cấp của chính trị, còn phải phân biệt chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi chính nghĩa, để khỏi hồ đồ. Có những cuộc chiến tranh lúc đầu là chính nghĩa, nhưng đến lúc nào đó nó biến chất đi trở thành chiến tranh phi chính nghĩa.
Thí dụ: Na-pô-lê-ông lúc đầu được nhân dân tán thành, coi là anh hùng cứu quốc, nhưng khi hắn đi xâm lược các nước khác, cuộc chiến tranh mà hắn tiến hành đã trở thành phi chính nghĩa. Cho nên không mơ hồ lúc nào cũng tôn sùng Na-pô-lê-ông là anh hùng của nước Pháp và thế giới như những sử gia tư sản Pháp thường viết.
Nước ta ca tụng Trần Hưng Đạo lúc chống quân Nguyên là rất đúng, nhưng khi nhà Trần đem quân xuống đánh Chiêm Thành thì không có gì đáng kiêu hãnh và ca tụng.
Do thế, chế độ xã hội chủ nghĩa, về bản chất của nó, không bao giờ tiến hành chiến tranh phi chính nghĩa, vì mục đích chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa bao giờ cũng là bảo vệ quyền lợi nhân dân lao động. Lúc nào bắt buộc phải chiến tranh thì đó là nhằm mục đích tự vệ, đó là chiến tranh chính nghĩa.
Ví dụ: trước đây Liên Xô kéo quân qua các nước đánh vào Bá-linh, đó là hành động chính nghĩa nhất, vì cuộc chiến tranh ấy nhằm giải phóng châu Âu ra khỏi ách phát-xít. Sau đó các nước Liên Xô giải phóng đều trở nên độc lập và hùng cường. Đó là một cuộc chiến tranh chính nghĩa to lớn nhất trong lịch sử từ trước tới nay vậy.
Khi xảy ra vấn đề Hung-ga-ri, có người mơ hồ: không biết nó ra thế nào, bảo Liên Xô không xâm lược ai, không đem quân đến nước nào, sao bây giờ lại thế? – Liên Xô không hề xâm lược Hung-ga-ri mà là do lời yêu cầu của nhân dân Hung-ga-ri tiến vào đất Hung-ga-ri, bảo vệ nền độc lập cho Hung-ga-ri. Cho đến bây giờ thì chắc ai cũng đã thấy rõ tính chất của sự việc đó.
Phải đi từ vấn đề chiến tranh là tiếp tục chính trị (và đó là vấn đề bản chất của chế độ) mà phân tích vấn đề mới tìm ra cách nhận xét đúng được.
Người cộng sản phản đối tất cả các cuộc chiến tranh phi chính nghĩa, nhưng lại thừa nhận tính chất chính nghĩa và tính chất hợp pháp của cuộc chiến tranh của các giai cấp bị áp bức chống lại bọn đi áp bức họ.
Lê-nin có nói: “Những người xã hội chủ nghĩa vĩnh viễn đứng về phía những người bị áp bức, cho nên họ không thể phản đối những cuộc đấu tranh có mục đích dân chủ và xã hội chủ nghĩa chống bọn đi áp bức” (trong Lê-nin toàn tập).
Người cộng sản rất yêu hoà bình, nhưng yêu hoà bình khác cái gọi là “hoà bình chủ nghĩa”, khác với cái mà giai cấp tư sản thường đưa ra để xoá nhoà các thứ chiến tranh có tính chất khác nhau để che đậy dã tâm nô dịch nhân dân lao động.
Giai cấp tư sản nêu lên những luận điệu xuyên tạc hoặc hồ đồ là: đã là chiến tranh thì chiến tranh nào cũng phải chống, đã là hoà bình thì thế nào cũng là hoà bình. Nó mang quân đến đánh người ta, người ta chống lại, chúng nó bảo là ta không “hoà bình”. Luận điệu của nó: chiến tranh xảy ra là vì cả hai bên, bên này đánh nhưng bên kia cũng kháng cự lại, nếu không thì không xảy ra chiến tranh được.
Ta hiểu ý nghĩa của hoà bình, có thái độ phân biệt với mọi thứ hoà bình, như thằng Diệm bảo: cũng thống nhất bằng phương pháp “hoà bình”, nhưng phương pháp của nó là miền Bắc chịu đi, tổng tuyển cử dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc tức là Mỹ thì không thể nghe được.
Hiểu được những điểm trên, chúng ta sẽ có cơ sở phân tích được cuộc chiến tranh nào được nhân dân ủng hộ, lực lượng của từng bên một như thế nào, do đó thấy rõ lực lượng của chiến tranh chính nghĩa, thấy rõ lực lượng và yếu tố quyết định thắng bại trong cuộc chiến tranh, do đó vạch ra phương hướng chuẩn bị và tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa theo phương pháp nào, dựa vào lực lượng gì?
d) Những lý luận sai lầm và phản động của bọn tư sản về chiến tranh: Giai cấp tư sản phải che giấu mục đích thật của chiến tranh đế quốc nên chúng đưa ra những luận thuyết vớ vẩn để lừa bịp mọi người.
Chúng cho rằng: con người sinh ra đã có bản chất hư hỏng, không có đạo đức, nên phải có chiến tranh để khai hoá cho người có luân lý, đạo đức, nếu một thời gian lâu không có chiến tranh thì loài người sẽ hỏng, lúc đó lại phải có chiến tranh mới nâng cao đạo đức lên được. Đó là thuyết “chiến tranh luân lý học”.
Chúng cho rằng: loài người là một sinh vật, từ lúc sinh ra đã sẵn có tính hiếu chiến, sở dĩ có chiến tranh là vì loài người có tính chất hiếu chiến, người ở với nhau cũng như loài lang sói, nên chiến tranh là một quy luật tự nhiên, muốn trừ chiến tranh thì phải tìm cách trừ tiệt tính hiếu chiến, đó là thuyết “chiến tranh sinh vật học”.
Chúng còn cho rằng: chiến tranh là một hiện tượng vĩnh viễn. Chúng xuyên tạc thuyết cạnh tranh sinh tồn của Đác-uyn về sinh vật học ; theo chúng đứa nào sống được là do nó khoẻ, cạnh tranh để mà sống, đứa nào yếu thì chết, đánh được đứa khác để sống thế là khôn, “khôn sống, mống chết”, còn loài người còn cạnh tranh và còn chiến tranh mãi mãi.
Chúng cũng đẻ ra thuyết dân tộc ưu đẳng và dân tộc hèn kém. Chúng nói rằng: trời phú cho dân tộc ưu đẳng phải đi khai hoá các dân tộc hèn kém, chỉ có dân tộc ưu đẳng mới có quyền làm bá chủ thế giới. Trước đây bọn phát-xít Hít-le tuyên truyền cho giống Nhật-nhĩ-man (Germany), ngày nay bọn Mỹ đang tuyên truyền cho giống Anglo-Xaxon.
Chúng lại đưa ra thuyết: thế giới chủ nghĩa rất phản động. Chúng nói rằng thời đại này không nên giữ ranh giới quốc gia làm gì, đó là nguyên nhân tranh chấp nhau gây ra chiến tranh xâm lược chỉ bằng xoá toẹt ranh giới đi, để Mỹ đứng đầu hết, không phải giữ chủ quyền quốc gia làm quái gì nữa, tức khắc hết chiến tranh.
Thuyết Man-tuýt về nhân khẩu thừa cũng là một thuyết được thịnh hành. Chúng nói: nhân loại sinh đẻ mãi thì sống ở đâu, sống bằng gì, đất chỉ có như thế, thức ăn vật dụng chỉ có thế, nên cần phải có chiến tranh để giải quyết bớt đi, mới sống yên ổn được (theo chúng nói: người đáng chết là những người nghèo khổ). Chúng đã có giải thích: sở dĩ phải đem quân đi đánh nước khác vì nước đó nhiều người, đất lại nghèo, phải đánh nhau để tìm đất sống (thuyết của bọn quân phiệt Nhật Bản).
Tóm lại là chúng quan niệm chiến tranh như sau: nói chiến tranh dính đến kinh tế, chính trị là sai hết, chiến tranh chẳng qua chỉ là một hiện tượng sinh vật, một hiện tượng luân lý mà thôi, nên khoa học quân sự không cần biết đến chế độ kinh tế, chính trị, nó chỉ cần tìm nguyên nhân các cuộc chiến tranh trong tính hiếu chiến của một số tướng soái, trong vấn đề địa hình, khí hậu của nước nào đó.
C- Học thuyết về quân đội của chủ nghĩa Mác – Lê-nin
Quân đội là công cụ chủ yếu của Nhà nước, cùng ra đời với Nhà nước và Quân đội có tính chất giai cấp.
Quân đội phải có tính chất giai cấp, phải phù hợp với tính chất Nhà nước, Nhà nước thi hành chính trị của giai cấp nào, Quân đội phải thi hành chính trị của giai cấp ấy (một giai cấp hay một liên minh giai cấp).
Giai cấp tư sản nói Nhà nuớc và Quân đội là của “toàn dân”, làm nhiệm vụ chính trị của “toàn dân”. Chỉ là láo toét, là lừa bịp. Sự thực trong chế độ tư sản, Nhà nước là của tư sản, Quân đội là quân đội của tư sản. Trái lại trong chế độ ta, Nhà nước là của giai cấp vô sản và nhân dân lao động, nên Quân đội cũng là của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
Đồng chí Sta-lin nói: “Những quân đội tồn tại dưới chế độ tư bản cho đến nay vô luận thành phần thế nào đều là quân đội để xác lập chính quyền tư bản cả. Trước kia nó đã là và bây giờ nó cũng vẫn là quân đội của giai cấp tư sản”.
Lê-nin nói: “Quân đội là công cụ ngoan cố nhất để bảo vệ chế độ cũ, là trụ cột vững chắc nhất của giai cấp tư sản để giữ vững kỷ luật cho giai cấp tư bản, ủng hộ sự thống trị của giai cấp tư sản ràng buộc và giáo dục nhân dân lao động chịu làm nô lệ các nhà tư sản”.
Giai cấp tư sản lập nên Quân đội, chúng lấy người ở đâu? Sĩ quan thì chúng lấy trong giai cấp tư sản, địa chủ, binh sĩ thì lấy trong quần chúng lao động.
Tại sao giai cấp tư sản có thể lợi dụng được Quân đội do đại đa số là nhân dân lao động họp thành? Chúng dùng các thủ đoạn để đầu độc tư tưởng binh sĩ, những tư tưởng chủng tộc hẹp hòi sô-vanh, những thứ tư tưởng thù hằn nhân loại. Đi đôi với dùng tiền tài, khoái lạc mua chuộc, lưu manh hoá, truỵ lạc hoá binh sĩ, chúng còn dùng những hình thức cưỡng bức, làm cho người binh sĩ biến thành những con vật dễ sai khiến, phục tùng một cách mù quáng.
Do vậy, nên trong lòng Quân đội tư sản nảy sinh ra một mâu thuẫn giai cấp, phản ánh mâu thuẫn của xã hội, đồng thời nó cũng hình thành ngay giữa nội bộ Quân đội tư sản:
- Chỉ huy là giai cấp tư sản, chỉ huy bằng những thủ đoạn của giai cấp tư sản,
- Binh lính là những người bị áp bức, vào quân đội cũng vẫn tiếp tục bị áp bức để bảo vệ quyền lợi cho bọn đi áp bức mình và giai cấp mình.
Nhận rõ điều này để chúng ta không được đánh giá thấp những thủ đoạn lừa bịp của giai cấp tư sản, nhưng cũng không đánh giá thấp mâu thuẫn trong nội bộ chúng, đồng thời cũng nghiên cứu vấn đề tổ chức xây dựng quân đội ta theo phương hướng tư tưởng và nguyên tắc của ta, ngoài ra khi đánh nhau với quân đội tư sản, chúng ta cần biết tìm cách khoét sâu mâu thuẫn nội bộ của chúng.
Quân đội ta là quân đội của nhân dân, vì nhân dân.
Hồng quân cũng như quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa, đều có ba đặc điểm. Ba đặc điểm ấy phân biệt Hồng quân căn bản khác tất cả những quân đội tư sản. Ba đặc điểm ấy tạo nên một nguồn sức mạnh và uy thế cho Hồng quân.
1- Quân đội là quân đội của công nhân và nông dân được giải phóng, nó là quân đội của Cách mạng tháng 10, đội quân của nền chuyên chính vô sản.
Chỉ có chúng ta công khai tuyên bố tính chất giai cấp của quân đội, bởi vì nó chỉ rõ rằng quân đội ấy là của ai, bảo vệ quyền lợi cho giai cấp nào và chống lại giai cấp nào, còn bọn tư sản không bao giờ dám nói tính chất giai cấp của quân đội nó.
2- Là quân đội của tình quan hệ hữu hảo giữa các dân tộc, bảo vệ tự do độc lập cho các dân tộc.    
3- Là quân đội được xây dựng và củng cố trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Ba đặc điểm ấy chỉ rõ bản chất, mục đích dứt khoát rõ ràng của quân đội, bản chất mục đích ấy không mâu thuẫn với thành phần quân đội, nên nó không có mâu thuẫn nội bộ, đó là điều căn bản khác quân đội tư bản.
Quân đội là công cụ chủ yếu để tiến hành chiến tranh.
Trong khi tiến hành chiến tranh, có quan hệ rất nhiều mặt: kinh tế, chính trị, v.v… nhưng quân đội vẫn là công cụ chủ yếu, nếu không có quân đội thì không thể thắng được.
Đặt quan hệ cho đúng giữa các vấn đề kinh tế, chính trị, quân đội trong chiến tranh cho đúng để tích cực xây dựng quân đội. Xây dựng quân đội phải trên cơ sở một nền chính trị, kinh tế vững mạnh, không phải chỉ xây dựng kinh tế, chính trị là thắng lợi mà phải xây dựng quân đội mạnh mẽ nhịp nhàng với trình độ phát triển kinh tế, chính trị của nhà nước, không để nảy mâu thuẫn, không ăn khớp với nhau. Ví dụ : chế độ kinh tế đang đi vào hướng xã hội chủ nghĩa mà quân đội nảy sinh nhiều tư tưởng cá nhân tư hữu, như thế là có mâu thuẫn, ta phải giải quyết mâu thuẫn ấy bằng cách nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho quân đội.
Quân đội tư sản xây dựng theo cách khác. Trong việc xây dựng quân đội giai cấp tư sản cũng lồng quan điểm mua bán, tính toán rẻ đắt. Mỹ đưa ra thuyết “thanh gươm, cái mộc” nghĩa là không quân, hải quân, nguyên tử thì của Mỹ, còn lục quân là của các nước khác, chúng ra sức phục hồi quân đội Đức, Nhật và xây dựng các nguỵ quân. Vì vậy nên quân đội các nước với quân đội Mỹ có một mối mâu thuẫn gay gắt, trong chiến tranh Triều Tiên đã có những việc như quân đội các nước ném lựu đạn vào trại pháo binh của Mỹ làm 50 tên chết, Mỹ phải ra một đạo luật xử tử lính nào đánh trộm sĩ quan, v.v…
Giai cấp tư sản biết rõ quân đội là công cụ chủ yếu để tiến hành chiến tranh, nhưng chúng lại không làm sao giải quyết được đúng sự quan hệ giữa quân sự và các mặt kinh tế, chính trị, không sao khắc phục được những mâu thuẫn nội bộ quân đội, cho nên chúng không thể giải quyết đúng được các vấn đề về khoa học quân sự.
III- Những nguyên lý của khoa học quân sự xô-viết
Do giải đáp đúng đắn các vấn đề có tính chất nguyên tắc trên kia nên khoa học quân sự xô-viết xác định chiến tranh có những quy luật khách quan quyết định sự thắng bại và có thể tìm thấy những quy luật khách quan đó, vận dụng được những quy luật khách quan đó một cách đúng đắn thì nhất định thắng lợi.
Các nhà quân sự trước đây đã tìm được nhiều quy luật nhỏ, quy luật từng mặt của chiến tranh như Tôn Tử nói: “Biết mình biết người trăm trận đánh trăm trận thắng” hoặc họ đã tìm được những quy luật chiến thuật như: vấn đề địa hình, mỗi thứ địa hình có một cách đánh khác, v.v…
Khoa học quân sự xô-viết tìm ra được những quy luật chung hơn, cơ bản hơn, quyết định được thắng lợi chung của chiến tranh. Khoa học quân sự xô-viết làm được việc đó vì nó đã giải đáp được đúng những vấn đề trên, đánh giá chính xác những mối quan hệ có liên quan đến sự thắng bại của cuộc chiến tranh. Có thể kể ra mấy điểm lớn sau đây:
1- Vai trò của quần chúng nhân dân và yếu tố tinh thần trong các cuộc chiến tranh hiện đại.
Lê-nin nói: “Thời kỳ mà chiến tranh do những người đánh thuê hoặc những người đại biểu cho giai cấp gần gụi nửa vời với nhân dân tiến hành đã qua rồi không thể trở lại nữa. Hiện nay tất cả các cuộc chiến tranh đều là do nhân dân tiến hành”.
Các cuộc chiến tranh ngày nay (có tính chất chính nghĩa hoặc phi chính nghĩa), vì vũ khí ngày càng hiện đại, quy mô chiến tranh ngày càng lớn đều lôi cuốn nhân dân vào chiến tranh càng nhiều, nên vai trò của nhân dân càng quan trọng.
Nhìn vào cuộc kháng chiến của ta vừa qua, tuy về quy mô chiến tranh là một cuộc chiến tranh nhỏ, nhưng xét về mặt huy động nhân dân tham gia đã thấy rõ tính chất của cuộc chiến tranh ngày nay. Ta lại càng thấy rõ vai trò quyết định thắng lợi của quần chúng nhân dân và yếu tố tinh thần.
Đánh nhau không phải chỉ là sự thử thách giữa hai quân đội, mà còn là sự thử thách về tinh thần và sức mạnh của nhân dân đôi bên, cho nên Lê-nin nói: “Việc quần chúng hiểu mục đích và nguyên nhân của cuộc chiến tranh có một ý nghĩa rất lớn và bảo đảm thắng lợi”.
2- Nguyên lý về vai trò quần chúng và yếu tố tinh thần phụ thuộc vào nguyên lý sau đây:
Kết cấu kinh tế, chính trị của xã hội, trình độ phát triển sức sản xuất, bản chất chiến tranh và tính chất, mục đích chính trị của chiến tranh quyết định phương pháp tiến hành chiến tranh và những hành động quân sự.
Lê-nin nói: “Trong chiến tranh hiện đại, tổ chức kinh tế có một ý nghĩa quyết định”.
“Muốn tiến hành chiến tranh thực tốt, thì cần phải có một hậu phương có tổ chức vững chắc, một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất sẽ bị địch tiêu diệt ngay nếu họ không được cung cấp lương thực, vũ khí và huấn luyện tới một mức nhất định”.
Nền kinh tế của đất nước trở thành một trong những yếu tố cơ bản quyết định quá trình và kết quả của chiến tranh, nhưng không phải chỉ có số lượng của nền kinh tế mà đủ đánh giá khả năng kinh tế của một nước, mà còn do tính chất của tổ chức kinh tế của xã hội (do chế độ kinh tế và chính trị) và sự bố trí sức sản xuất về địa lý.
Không phải giai cấp tư sản hoàn toàn không biết điều đó, chính nó cũng biết, cho nên hiện giờ nó cũng tích cực chuẩn bị kinh tế, chính trị để chuẩn bị chiến tranh, nhưng dù thế nào, mâu thuẫn nội bộ cũng vẫn cứ còn và phát triển, dù một lúc nào đó nó còn lừa bịp được nhân dân, nhưng chiến tranh càng kéo dài, mâu thuẫn nội bộ càng phát triển càng đục khoét lực lượng của chúng.
Những ảnh hưởng quyết định của kinh tế luôn luôn biến đổi trong quá trình chiến tranh, nếu chiến tranh kéo dài, mâu thuẫn trong chế độ kinh tế, chính trị của giai cấp tư sản ngày càng phát triển lên sẽ làm yếu kinh tế và tinh thần quân đội. Ngược lại, chế độ kinh tế tốt, bảo đảm hậu phương vững vàng, do đó ảnh hưởng đến quá trình phát triển chiến tranh.
Liên Xô dựa trên quyền công hữu tư liệu sản xuất cho phép lợi dụng một cách tốt đẹp nhất những khả năng kinh tế hiện có để tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Những nước có chế độ kinh tế tốt sẽ chuyển yếu thành mạnh, những nước có chế độ không tốt sẽ chuyển mạnh thành yếu.
Liên Xô không đánh giá thấp khả năng kinh tế của các nước tư bản, nhất là khi họ đã quân sự hoá bộ máy kinh tế, nhưng khoa học quân sự xô-viết đã tính sẵn đến những mâu thuẫn không thể khắc phục được trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tổng khủng hoảng, cũng như trong chế độ chính trị của họ.
Vì lẽ đó, Liên Xô tin vào khả năng kinh tế của mình, nền kinh tế không có khủng hoảng của Liên Xô sẽ tích luỹ sức mạnh tiềm tàng cho Liên Xô. Nhân dân Liên Xô yêu mến chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và sẽ đoàn kết, chiến đấu với một sức mạnh phi thường.
Trái lại, bọn tư bản không đặt tin tưởng vào chế độ của chúng, không đặt tin tưởng vào nhân dân, chúng phải tìm một vũ khí nào, một cách tổ chức quân đội nào cho thật lợi hại, v.v… để có thể tiến hành chiến tranh và quyết định thắng lợi được.
Đứng về một mặt nào mà nói, mục đích chiến tranh quyết định phương pháp tiến hành chiến tranh. Nhìn qua cuộc kháng chiến của ta, ta thấy mục đích của ta là bảo vệ Tổ quốc, ta cần tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, nó sẽ phải rút, nên cách đánh của ta là vận động, du kích không cần đóng đồn, không phải lập tuyến – trái hẳn với thực dân Pháp. Vì vậy ta thì tập trung được lực lượng mà địch thì phải phân tán không tập trung được. Cuối cùng tiêu diệt được nhiều sinh lực của chúng, làm tương quan lực lượng thay đổi, chúng đành phải thất bại.
Đến bây giờ ta đã có khu vực hoàn chỉnh, ta bảo vệ nước ta chống xâm lược, nên ta phải bảo vệ cách khác, phải tổ chức phòng thủ.
Nhưng khi nói đến phương pháp và hình thức tiến hành chiến tranh thì phải thấy nó lại còn cần phù hợp với điều kiện từng hoàn cảnh cụ thể, với trình độ kỹ thuật và khả năng thực tế. Nó lại chuyển biến cho kịp với tình hình kinh tế biến chuyển.
Hiện nay vũ khí mỗi năm một mới, kỹ thuật và điều kiện vật chất tinh thần của con người cũng phải mỗi ngày một phát triển lên cho kịp.
Cơ-lau-dơ-vích cũng có nói một câu khá hay: “Quyết định thắng lợi trong chiến tranh không phải là những phương tiện, mà là cách dùng những phương tiện ấy”.
Mỹ nghiên cứu một phương thức: “Chiến tranh bấm nút điện” chỉ cần ngồi một chỗ bấm nút điện sẽ biết được sự biến diễn tình hình ngoài mặt trận, v.v…
Ở Điện Biên, thực dân Pháp phòng ngự cứ điểm Him Lam bằng nhiều thứ vũ khí tối tân như súng bắn ban đêm, có hồng ngoại tuyến, máy nghe tiếng động ngoài hàng rào, v.v… nhưng cuối cùng chúng không sử dụng được và thất bại nhục nhã.
Như vậy yếu tố quyết định không phải chỉ là vấn đề phương tiện mà còn là vấn đề sử dụng những phương tiện thế nào, tinh thần người sử dụng nó ra sao, tổ chức sử dụng nó thế nào, nhất là tinh thần người sử dụng.
Ta phải tiến cho kịp kỹ thuật hiện đại nhưng không khinh thường những thứ hiện có trong tay chúng ta, chúng ta phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của ta mà tiến lên.
Đi từ nhìn kết cấu kinh tế, chính trị của xã hội, từ mục đích, tính chất chiến tranh, nhìn lại yếu tố quần chúng nhân dân và yếu tố tinh thần, chúng ta càng thấy rõ: dựa vào nguyên lý đó ta chuẩn bị và tiến hành chiến tranh sẽ có những cơ sở thực tế rõ ràng, có cơ sở để tin tưởng. Còn bọn đế quốc xâm lược có biết như thế cũng không làm sao được, chúng không thể có yếu tố nhân dân, yếu tố tinh thần vững chắc, chúng không dám nhìn vào những nguyên lý đầy tính chất khoa học nói trên. Chúng ta hoàn toàn có thể dựa vào những nguyên lý đó để chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. Nhưng chúng ta một mặt phải tận dụng khả năng hiện có của chúng ta, một mặt phải nhìn vào mặt phát triển của kỹ thuật để xây dựng quân đội, chuẩn bị công cuộc quốc phòng cho hợp với tình hình cụ thể và khả năng thực tế của ta. Có như thế mới là thấy rõ tinh thần của nguyên lý trên đây: sức mạnh của ta là ở tính chất của chế độ kinh tế, nhưng cũng ở cả số lượng về kinh tế nữa. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà vận dụng nguyên lý cho đúng. Không phải thiếu số lượng mà ta không tiến hành được chiến tranh, nhưng số lượng phát triển được là do tính chất chế độ kinh tế, chính trị quyết định.
3- Chiến lược phải phụ thuộc vào đường lối chính trị (chính lược).
Nói chung, những nguyên tắc lãnh đạo về mặt chiến lược và chiến thuật trong lĩnh vực đấu tranh giai cấp đã trở thành cơ sở tư tưởng cho nghệ thuật quân sự xô-viết nói chung và chiến lược nói riêng.
Ví dụ: Sta-lin phân tích chính lược của giai cấp công nhân đề ra những điều kiện để đảm bảo chỉ đạo chiến lược như:
a) Trong một thời cơ quyết định, tập trung chủ lực vào chỗ yếu nhất của địch, tức là chọn kẻ thù cho trúng, từng thời kỳ biết bố trí lực lượng cách mạng,
b) Chọn thời cơ quyết chiến,
c) Quán triệt phương châm đã định,
d) Điều động dự bị đội, phối hợp tiến công và phòng ngự một cách chính xác.
Đó cũng chính là những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược về mặt quân sự.
Một mặt khác, ta thấy chính lược quy định chiến lược như sau:
- Khi còn thế giới tư bản bao vây các nước xã hội chủ nghĩa thì nhiệm vụ chính trị của ta là phải bảo vệ nước xã hội chủ nghĩa, làm cho nó đứng vững, vì vậy phải có chiến lược quân sự bảo vệ lấy nước xã hội chủ nghĩa,
- Chúng ta không xâm lược ai, nhưng không để ai xâm lược, vậy thì ta không xây dựng quân đội để xâm lược mà để tiêu diệt kẻ xâm lược (không phải chỉ chống bọn xâm lược mà còn phải tiêu diệt chúng),
- Ta xây dựng miền Bắc, tiến lên xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, vậy thì mọi chiến lược và hành động quân sự phải phù hợp với đường lối đó. Chính vì thế mà phương châm chiến lược của ta là: tích cực phòng ngự.
Vì vậy, khi tiến hành chiến tranh, phương châm chiến lược của ta sẽ trở thành của toàn quân, toàn dân, mọi người nô nức thực hiện, do đó có sức mạnh vô cùng. Đường lối chính trị mà đúng thì chiến lược của ta nhất định sẽ đúng.
Các nhà quân sự của ta phải là những người thấm nhuần mục đích chính trị hơn ai hết.
Chủ nghĩa đế quốc cũng biết như thế, nhưng chúng gặp những mâu thuẫn không thể giải quyết: vì dã tâm của chúng là xâm lược, nhưng chúng lại phải lừa dối nhân loại, chúng không thể nói rõ mục đích chính trị của chúng được. Những hành động của chúng phải phù hợp với dã tâm của chúng, đến khi lộ ra thì chúng sẽ bị phản đối và không thể có sức mạnh tiếp tục chiến tranh được.
Ví dụ: chiến tranh Pháp ở Việt Nam, chiến tranh Mỹ ở Triều Tiên nhằm mục đích nô dịch, nên hành động của chúng là ăn cướp, bắn giết, đàn áp, v.v… Chúng không thể nghiên cứu một chiến lược nào cứu vãn được sự cô lập và suy nhược của chúng cứu vãn được tinh thần quân lính của chúng.
Nguyên lý này cũng là một quy luật khách quan của chiến tranh, quy luật này ta lợi dụng được đầy đủ, còn các nhà quân sự tư sản biết mà chịu, không thể dùng nó làm cơ sở lý luận của chúng được.
4- Những hoạt động chiến đấu của bộ đội phải đầy tính chất kiên quyết và tinh thần tích cực, để sử dụng cho hợp lý quan hệ giữa tấn công và phòng ngự.
Lê-nin chỉ thị: nghệ thuật quân sự xô-viết phải thấm nhuần tinh thần tích cực, tính chất kiên quyết, tinh thần dũng cảm và tính chất tiến công trong cuộc đấu tranh vũ trang. Nhưng lại cần phải biết phòng ngự trong những điều kiện cần thiết. Đang phòng ngự nhưng khi có điều kiện và hoàn cảnh tấn công thì phải tấn công.
Việc không ngừng tấn công là để đạt tới thắng lợi hoàn toàn, có những lúc vì khó khăn phải phòng ngự thì phải kiên quyết mau chóng tạo điều kiện tấn công (phòng ngự tạm thời là để tiêu hao địch, chiếm lĩnh trận địa hoặc cần phải ngừng tiến công lại củng cố chỗ đã chiếm được, lấy sức đưa thêm lực lượng mới để lại tiếp tục tấn công).
Lê-nin nói: “Không phải chỉ đánh quỵ mà còn phải tiêu diệt địch vì do bản chất đấu tranh giai cấp mà có tinh thần tiến công đó”. Vì vậy nói chung cả nghệ thuật khoa học quân sự xô-viết phải thấm nhuần tinh thần tiến công, nhưng trên cơ sở tinh thần tiến công mà đặt quan hệ giữa tấn công và phòng ngự cho phù hợp.
Đây cũng là điều chứng tỏ tính ưu việt của khoa học quân sự ta. Giai cấp tư sản không thể hiểu được và không thể có được cái quan hệ ấy được.
Pháp chỉ chú trọng phòng ngự. Đức chỉ chú trọng tấn công.
Còn ta: cần phòng ngự trong trường hợp cần thiết phòng ngự, khi có điều kiện, phải chuyển sang tấn công ngay. Vì vậy khi phòng ngự phải phòng ngự tích cực, phòng ngự là để chuẩn bị tấn công.
Mỹ chưa có một điều lệnh phòng ngự rõ ràng, bởi vì nó cho rằng không ai đánh nó nên nó không phòng ngự, bây giờ nó mới xoay sang phòng ngự nhưng các nhà khoa học quân sự Mỹ cũng không thích phòng ngự cho lắm. Vì chúng chỉ nuôi một mục đích chiến tranh là xâm lược, nên cách suy xét về tiến công, phòng ngự của chúng rất chủ quan phiến diện.
Không nên nhầm lẫn chính sách hoà bình và chiến lược có tính chất phòng ngự của ta, với tinh thần tiến công trong chiến tranh nhất là trong chiến thuật và chiến đấu, bởi vì chiến lược là do đường lối chính trị quyết định, nhưng trong hành động quân sự người chỉ huy và binh sĩ phải thấm nhuần tư tưởng tấn công, trên cơ sở tấn công mà tích cực phòng ngự.
5- Vấn đề hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại ; vấn đề hiệp đồng binh chủng, phối hợp các hình thức chiến tranh.
Chiến tranh hiện đại là chiến tranh phối hợp các binh chủng, quân chủng, phối hợp đấu tranh vũ trang với các hình thức đấu tranh khác (đấu tranh tư tưởng, chính trị, kinh tế, ngoại giao).
Chiến tranh hiện nay vạn nhất không ngăn chặn được, sẽ mang tính chất hết sức tối tân với những vũ khí : nguyên tử, khinh khí, hoá học, hoả tiễn, v.v… có sức giết người hàng loạt, sức tàn phá rất lớn, tốc độ rất nhanh, tung thâm sâu, chính diện rộng, tiêu thụ lớn, thử thách về tinh thần lớn.
Nó đòi hỏi hậu phương vững chắc về tinh thần, kinh tế, chính trị, bảo đảm luôn luôn tiếp sức cho tiến công, tiêu diệt địch ngay cả ở hậu phương nữa.
Tác dụng của mỗi thứ vũ khí có một mặt của nó, có cái có hoả lực mạnh nhưng không cơ động, có cái cơ động nhưng không chính xác hoặc phá hoại được nhưng không có thể chiếm đóng, v.v… vì vậy phải hiệp đồng chặt chẽ, đánh giá đúng mức tác dụng của từng binh chủng, quân chủng mới có thể thu được thắng lợi.
Giai cấp tư sản theo đuổi mục đích kiếm lợi nhuận sản xuất máy bay, tàu chiến, kéo bè trong chính phủ, trong Bộ chỉ huy quân sự, tranh cãi nhau về tác dụng của không quân, của hải quân, bóp méo sự thật hoặc cố tình nhắm mắt trước sự thật, đánh giá lệch lạc tác dụng của binh chủng, quân chủng.
Chỉ có chúng ta mới có thể đánh giá đúng được.
Đế quốc sử dụng pháo phải để thật xa mà bắn, ta thì lại có thể kéo vào sát lô cốt, chỉ có ta mới dũng cảm sử dụng bộc phá. Đế quốc biết bộc phá là lợi hại nhưng không sử dụng được là vì chúng không có đủ tinh thần. Cho nên chúng không đánh giá được pháo binh cho đúng, cũng như chúng đánh giá quá cao không quân, đánh giá không đúng vai trò bộ binh. Đã như thế, chúng cũng không thể có một quan niệm và một tổ chức hợp đồng cho chính xác được.
Do chỗ lực lượng tiềm tàng về chính trị và kinh tế một nước có tác dụng quyết định đến quá trình và kết quả của chiến tranh nên cuộc chiến tranh hiện đại không phải chỉ gồm có những hành động quân sự. Vì chiến tranh sẽ tàn phá rất nhiều, sẽ động đến sinh mệnh và tinh thần hàng chục triệu con người, cần phải có sự bền bỉ dẻo dai to lớn và nhất trí giữa tiền tuyến với hậu phương chặt chẽ, cho nên các hình thức đấu tranh khác đều có ý nghĩa rất lớn. Vì vậy khoa học quân sự không phải chỉ nghiên cứu hành động quân sự mà phải nghiên cứu nhiều vấn đề, phối hợp nhiều ngành.
Những nguyên lý nói trên cũng có thể được trình bày một cách khác trong học thuyết “Những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi” mà đồng chí Sta-lin tổng kết.
Nói những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi tức là không thể thừa nhận có những nhân tố ngẫu nhiên bất ngờ nào quyết định được thắng lợi của cuộc chiến tranh, ví dụ như: tài của một vài tướng chỉ huy, một thứ vũ khí bí mật nào, v.v…
Ngày nay, những nhân tố ngẫu nhiên chỉ còn có tác dụng ít thôi, không quyết định được thắng lợi.
Học thuyết đó tóm tắt trong câu: “Vận mệnh của chiến tranh không phải do những nhân tố tạm thời hay ngẫu nhiên phát sinh như tính bất ngờ quyết định, mà là do những nhân tố thường xuyên có tác dụng quyết định: sự vững chắc của hậu phương, tinh thần quân đội, số và chất lượng các Sư đoàn, trang bị của quân đội, năng lực tổ chức chỉ huy của các cấp chỉ huy, …”.
Trong 5 nhân tố đó, nhân tố hậu phương là nhân tố quan trọng nhất. Hậu phương có vững mạnh thì mới tạo điều kiện vững mạnh cho những nhân tố khác. Vì tinh thần quân đội, số, chất lượng các Sư đoàn, trang bị quân đội, năng lực chỉ huy có tốt không, có cung cấp được vật chất không, có bảo đảm được tổ chức đào tạo cán bộ và động viên tinh thần không? Hậu phương có vững mạnh không lại là do chế độ kinh tế, chính trị thế nào, lạc hậu hay tiền tiến?
Sta-lin nói: “Không có một hậu phương vững chắc thì bất cứ một quân đội nào trên thế giới cũng không thể thắng lợi được (tất nhiên đấy là nói thắng lợi lâu dài, bền vững). Hậu phương có ý nghĩa trọng yếu hàng đầu đối với tiền phương, là vì hậu phương và chỉ có hậu phương mới có thể không những chỉ cung cấp các thứ nuôi sống người mà còn cung cấp cả người chiến sĩ, tinh thần và tư tưởng cho tiền phương nữa”.
Khái niệm về sự vững chắc của hậu phương bao hàm tất cả mọi thứ sinh hoạt và hoạt động của một nước đầy đủ, tức là bao gồm chế độ xã hội và nhà nước, kinh tế, chính trị, hệ thống tư tưởng của một nước, dân khí, tinh thần tổ chức và tinh thần kiên định của quần chúng lao động nước đó. Tác dụng của những lực lượng tiềm tàng về kinh tế và tinh thần của một nước chính là biểu hiện ở sự vững chắc của hậu phương.
Nhưng cần chú ý là phải luôn bồi dưỡng những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi và khi có những nhân tố đó đến mức độ nào đó thì tức là có khả năng thắng lợi, nhưng khả năng thắng lợi không phải là bản thân thắng lợi mà phải giỏi biến khả năng đó thành hiện thực. Ở đây đòi hỏi sự nỗ lực lãnh đạo của các cấp.
Đồng chí Sta-lin bàn về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, có nói: “Quân địch vẫn mong rằng Hồng quân bị tan rã tức khắc ngay từ khi gặp trận đánh đầu tiên, không thể có sức chống lại được. Nhưng mà kẻ địch đã lầm to. Nó không thể đánh giá được sức mạnh của Hồng quân, không thể đánh giá được sự vững chắc của hậu phương Xô-viết, không đánh giá được ý chí tranh thủ thắng lợi của nhân dân các dân tộc trong nước ta, không thể tính đến được rằng hậu phương của phát-xít Đức ở châu Âu hết sức lung lay không thể nào dựa vào được và cuối cùng nó cũng không tính đến nguy cơ suy nhược ngay trong nội bộ nước Đức và quân đội của chúng”.
IV – Tính ưu việt của khoa học quân sự xô-viết
1- Vấn đề này cơ bản ở chỗ nào?
Ở chỗ : các nhà tư tưởng và lý luận của giai cấp tư sản không thể nào giải thích được đúng đắn nguyên nhân, nguồn gốc tính chất của chiến tranh, ý nghĩa sự tồn tại và tính chất của quân đội, do đó không thể nào đặt được vấn đề khoa học quân sự cho đúng và càng không thể nào giải quyết được vấn đề đó cho đúng. Cho nên khoa học quân sự của họ không thể so sánh với khoa học quân sự xô-viết được.
Họ tách hiện tượng chiến tranh ra khỏi những hiện tượng về kinh tế và chính trị, tách vấn đề quân sự ra khỏi các vấn đề kinh tế và chính trị. Họ không đánh giá được đúng sức lực của bản thân họ (chế độ tư bản chủ nghĩa) và không đánh giá được đúng sức lực tiềm tàng của chế độ xã hội chủ nghĩa, cho nên họ không thể nào giải quyết được đúng đắn vấn đề hậu phương và tiền tuyến, vấn đề nhân dân và quân đội, vấn đề giá trị của các binh chủng, quân chủng, các vũ khí, vấn đề quan hệ giữa tấn công và phòng ngự; không đánh giá được yếu tố tinh thần trong chiến tranh, v.v…
Nghĩa là họ không nắm được và không sao nắm được những quy luật khách quan của các vấn đề quân sự, vấn đề chiến tranh. Họ bảo: hoặc nó không có quy luật gì - chỉ là may rủi - hoặc có quy luật nhưng không làm sao nhận xét thấy được (như bọn lý luận gia quân sự tư sản Ai-xen-hao và Đa-lét đang tranh cãi nhau hiện nay).
Trái lại, ta nhận định rằng: chiến tranh cũng có quy luật, có những quy luật chung và quy luật riêng, thảng hoặc còn có quy luật nào chưa biết thì nhờ ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nhất định chúng ta cũng sẽ khám phá ra được hết.
Một sĩ quan Liên Xô đã đi tới kết luận: “Bất cứ một khó khăn nào trong chiến tranh cũng đều có cách giải quyết, chỉ có là ta chưa tìm ra mà thôi”. Tuy là câu nói thường, nhưng nó cũng tỏ rõ được tính chất của khoa học quân sự xô-viết.
Bọn tư sản không tin điều đó, nên chỉ rút hẹp phạm vi khoa học quân sự vào những học thuyết quân sự chuyên nghiên cứu những phương pháp tiến hành chiến tranh và những hành động quân sự rồi trở thành kinh điển, giáo điều với những học thuyết đó, họ đành giam mình trong những sự luẩn quẩn đó không thoát ra được.
2- Do những lý do trên, tính ưu việt của khoa học quân sự xô-viết còn biểu hiện ngay cả trong khái niệm của khoa học quân sự
Khoa học quân sự xô-viết gồm có:
- Tình hình kinh tế chính trị phía ta và địch,
- Tổ chức, trang bị bộ đội, chuẩn bị đất nước và lực lượng vũ trang vào chiến tranh của ta và phải nghiên cứu địch,
- Các vấn đề về nghệ thuật quân sự.
Khái niệm về nghệ thuật quân sự của ta bao gồm:
Chiến thuật là gồm có phương pháp chuẩn bị và tiến hành chiến đấu.
Nghệ thuật tác chiến: quyết định phương pháp chuẩn bị và tiến hành chiến dịch để thực hiện những mục đích chiến lược trong chiến tranh.
Chiến lược là căn cứ vào chính sách của Nhà nước quyết định phương pháp tổ chức, huấn luyện và sử dụng bộ đội vũ trang để chiến thắng quân địch trong toàn bộ cuộc chiến tranh và trong những chiến cục và chiến dịch có tính chất chiến lược.
Đối với những nhà tư tưởng và lý luận quân sự của giai cấp tư sản thì khoa học quân sự chỉ là sự ngẫu nhiên của các tướng soái, họ cho thiên tài của các tướng soái là quyết định hoặc họ chỉ chú trọng đi tìm xem có một thứ vũ khí nào có thể định đoạt được thắng lợi, một phương pháp tác chiến nào, cứ theo đó tự nhiên mang lại được thắng lợi.
Khoa học quân sự của nó co hẹp vào chỗ đó – nhưng như thế không phải là nói những kẻ đang gây chiến tranh thế giới mới là Anh, Mỹ bây giờ ngoài nghệ thuật quân sự ra, chúng nó không thấm nhuần ý nghĩa kinh tế và lực lượng tinh thần nhân dân. Chính đế quốc Anh, Mỹ đang ra sức chuẩn bị kinh tế và chính trị cho một cuộc chiến tranh mới, nhưng mà chế độ kinh tế tư bản và trạng thái sản xuất mang theo một chế độ chính trị đầy đấu tranh giai cấp tàn khốc và mục đích phi chính nghĩa của chiến tranh làm cho những nhà lý luận quân sự của giai cấp tư sản không thể nào lợi dụng được đầy đủ lực lượng tiềm tàng về kinh tế và tinh thần.
Kết quả đó làm cho khoa học quân sự của giai cấp tư sản bị hạn chế trong phạm vi những vấn đề thuần tuý quân sự. Họ luẩn quẩn loanh quanh với nào là học thuyết Cờ-lau-dơ-vích, nào là “xe tăng quyết định hết thảy”, nào là “không quân quyết định hết thảy”, nào là lý luận “chiến tranh chớp nhoáng”, v.v… hoặc là quân đội Đức thì đánh giá quá cao tấn công, quân đội Pháp lại đánh giá quá cao phòng ngự hoặc là lý luận về phòng ngự cơ động của Mỹ để lừa bịp các nước chư hầu (âm mưu của Mỹ bày cho các nước châu Âu thực hiện chiến lược “phòng ngự cơ động”, đánh lâu dài, bị tàn phá kiệt quệ, tất nhiên phải kêu gọi Mỹ giúp đỡ, tạo cơ hội cho Mỹ nhảy vào kiếm lợi).
Thực ra những lý luận của họ tìm ra cũng đều bị thực tế về sản xuất kinh tế chi phối, nhưng nó rất phiến diện vì nó không thể nắm được quy luật. Chúng phải có những lý thuyết cho phù hợp với tình hình kỹ thuật, nguyên tử, hoả tiễn. Nhưng chúng lại phiến diện không đánh giá được mọi mặt.
Sta-lin có chỉ ra rằng: “Chiến lược của Đức lại rất thiếu kém vì chỗ dựa của nó là đánh giá khả năng và lực lượng của đối phương không đủ, mà lại đánh giá lực lượng của mình quá cao; chiến thuật của chúng thì cứng nhắc như chết, bởi vì chúng hết sức đem điều này điều nọ trong thao diễn mà lồng bừa vào những sự biến trên mặt trận. Lúc nào tình hình cho phép thực hiện đầy đủ thao diễn, người Đức hành động rất thông thạo, đúng và chặt chẽ, đó là chỗ mạnh của họ. Khi nào tình hình biến hoá phức tạp và bắt đầu không phù hợp với điều này điều nọ của thao diễn nữa, mà yêu cầu phải có những quyết định độc lập chưa hề quy định trong thao diễn thì người Đức đành bó tay vô kế. Đó là nhược điểm căn bản của họ”.
Vì vậy khoa học quân sự tư sản chỉ có thể dẫn đến những thắng lợi tạm thời mà không giải quyết được toàn bộ cuộc chiến tranh hiện đại.
Ví dụ cuộc kháng chiến Việt Nam, lúc đầu đồng chí Trường Chinh có so sánh hơn kém và các điều kiện thắng lợi hết sức rõ ràng, bây giờ ngẫm lại ta đều thấy đúng:
“… Vậy muốn biết ta và Pháp ai sẽ thắng, ai sẽ bại, chi bằng so sánh một cách khách quan những ưu điểm và nhược điểm của hai bên xem sao.
Những ưu điểm của ta là:
a) Mục đích chiến tranh là chính nghĩa (chống xâm lược, giành tự do),
b) Toàn dân đoàn kết (trong Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược),
c) Tinh thần quân và dân ta cao (ai nấy thi nhau anh dũng phấn đấu cho sự nghiệp cứu nước),
d) Quân đội ta chiến đấu trên đất nước mình, bênh vực quyền lợi cho nhân dân mình, nên được ba điều lợi là: quen khí hậu (thiên thời), thuộc địa hình (địa lợi) và nhân dân ủng hộ (nhân hoà),
e) Có nhiều bạn đồng minh (nhân dân Pháp, nhân dân các thuộc địa Pháp, lực lượng hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới ủng hộ).
Những nhược điểm của ta là:
a) Vũ khí ít và kém,
b) Bộ đội ít và chưa thao luyện,
c) Trình độ tổ chức thấp (nhất là về quân sự và kinh tế),
d) Tuyên truyền quốc tế xoàng.
Những nhược điểm của địch là:
a) Mục đích chiến tranh phản động (xâm lược, áp bức, bóc lột, nhiều người ghét),
b) Nội bộ chia rẽ (phe chủ chiến, phe chủ hoà, phe phản động, phe tiến bộ, chống nhau lung tung),
c) Tinh thần binh sĩ bạc nhược (nhiều việc đã tỏ ra lính Pháp sợ chết, đã có lính nguỵ, lính lê dương và lính thuộc địa Pháp đào ngũ sang phe ta),
d) Đi xâm lược nước ngoài, nên gặp ba điều bất lợi là: không hợp thuỷ thổ, khí hậu (thiếu thiên thời), không thuộc địa hình (thiếu địa lợi); không được nhân dân ủng hộ (thiếu nhân hoà),
e) Ít người giúp, nhiều kẻ thù (Anh, Mỹ có thể giúp đỡ Pháp một phần vũ khí, đạn dược, tài chính, v.v… nhưng không thấm vào đâu với sự chi phí của Pháp, vừa phải băng bó những vết thương chiến tranh của nước Pháp, vừa tổn phí ở Đông Dương, vừa phải chống nhau với nhân dân các thuộc địa châu Phi và ngay với phong trào phản chiến trong nước),
g) Số lính có hạn lại phải phân tán ra khắp khối Liên hiệp Pháp để chống giữ.
Những ưu điểm của Pháp là:
a) Vũ khí nhiều và tốt,
b) Quân đội nhiều và thao luyện,
c) Trình độ tổ chức cao,
d) Tuyên truyền quốc tế rộng.
So sánh những chỗ hơn, chỗ kém của hai bên, ta nhận thấy năm điều:
Một là, những chỗ hơn của Việt Nam tức là những chỗ kém của Pháp, những chỗ hơn của Pháp tức là những chỗ kém của Việt Nam.
Hai là, Pháp nhiều nhược điểm hơn Việt Nam.
Ba là, Pháp có nhiều nhược điểm hơn ưu điểm.
Bốn là, những ưu điểm của Việt Nam phần nhiều là ưu điểm về chính trị; những ưu điểm của Pháp phần nhiều là ưu điểm về quân sự.
Năm là, những ưu điểm của Việt Nam đều là gốc, những ưu điểm của Pháp đều là ngọn. Thật thế, có nhiều vũ khí hiện đại hoá, tướng sĩ đông và thao lược, trình độ tổ chức cao và tuyên truyền quốc tế rộng, nhưng mục đích chiến tranh là ăn cướp, ít bạn nhiều thù, nội bộ chia rẽ, lủng củng, nhân dân không ủng hộ, thực lực khô kiệt thì những chỗ hơn trên kia cũng vất đi!
Kinh nghiệm các cuộc chiến tranh trong lịch sử và nhất là kinh nghiệm sốt dẻo của cuộc đại chiến mới đây đã chỉ rõ như thế. Nước Đức của Hít-le, nước Nhật phát xít là những nước thế nào? Không phải là những nước có nhiều vũ khí tốt, tướng sĩ tài, tổ chức cao, tuyên truyền giỏi hay sao? Nhưng chính vì mục đích chiến tranh là xâm lược, phản động, quân và dân không một lòng, tinh thần binh sĩ đồi bại, u mê, bị cả thế giới văn minh phản đối, v.v… nên chỉ có thể hùng hổ chiến thắng lúc đầu. Về sau càng đánh càng kém, đến nỗi tan rã và ngã gục. Bài học lịch sử ấy, thực dân Pháp nên học lấy mà tỉnh ngộ cho mau, nếu không tiền đồ của nước Pháp rất mờ mịt.
Một điều đáng chú ý là ta đánh lâu thì do sự cố gắng của toàn dân ta, những chỗ hơn của ta càng ngày càng tăng, những chỗ kém của ta càng ngày càng giảm. Trái lại, địch càng đánh, chỗ hơn của địch càng ngày càng giảm, chỗ kém của địch càng ngày càng tăng. Một vài ví dụ dễ hiểu nhất: ta càng đánh, tướng sĩ càng thao luyện, vì kinh nghiệm và dày dạn thêm ; địch càng đánh tình hình kinh tế, tài chính càng nguy khốn. Ta càng đánh, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới càng đồng tình và ủng hộ ta, các dân tộc thuộc địa Pháp càng nhân cơ hội Pháp đem quân sang đánh ta mà nổi dậy chống Pháp, bạn đồng minh của ta ngày càng đông. Pháp càng đánh, tinh thần binh sĩ Pháp càng chán nản, mệt mỏi, tan rã.
Xem đó, ta càng đánh càng khoẻ, địch càng đánh càng yếu. Tuy lúc này lực lượng vật chất của ta (vũ khí, quân đội, kinh tế, v.v…) còn kém địch, nhưng lực lượng tinh thần của ta (lòng dũng cảm, tình đoàn kết của quân và dân ta, sự giúp đỡ về tinh thần của thế giới đối với ta, v.v…) rất dồi dào. Và sau này, đánh lâu thì chẳng những lực lượng tinh thần của ta phát triển mà lực lượng vật chất của ta cũng tăng cường. Mục đích đánh lâu chính là để phát huy mọi lực lượng vật chất và tinh thần, bồi bổ chỗ hơn, giảm bớt chỗ kém, để từ thế thua kém địch chuyển sang thế mạnh hơn địch, đặng giành thắng lợi cuối cùng.
Tóm lại, so sánh ta và địch, ta dám nói quyết rằng: “Rồi đây nhất định ta sẽ thắng” (Trích “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trường Chinh).
Đó là ta lấy lý luận Mác – Lê-nin làm cơ sở để phân tích tình hình, đề ra phương hướng một cuộc đấu tranh và đó cũng là đã làm theo phương hướng khoa học quân sự xô-viết vậy.
3- Tính ưu việt của khoa học quân sự xô-viết còn biểu hiện ở chỗ nó rất tiến bộ, được nhân loại tán thành, nó rất khoa học, luôn luôn có sức mạnh, giải quyết đúng đắn các vấn đề bảo đảm thắng lợi cuối cùng.
Nó tiến bộ vì nhiệm vụ của nó nhằm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thế giới xã hội chủ nghĩa, nó không xâm lược ai. Nó bảo vệ hoà bình, dân chủ thế giới. Nó nhằm tiêu diệt những lực lượng gây chiến, cho nên nó thể hiện nguyện vọng của toàn dân Liên Xô và các nước Dân chủ nhân dân và đại đa số nhân dân trên thế giới.
Tính chất cuộc chiến tranh Liên Xô tiến hành trong thế giới đại chiến là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, ngày nay Liên Xô càng mạnh, Liên Xô càng tỏ ra kiên quyết bảo vệ hoà bình, mà làm như vậy, Liên Xô càng được nhân dân thế giới ủng hộ.
Khoa học quân sự Liên Xô là tiến bộ vì nó chỉ nhằm nghiên cứu giải quyết những vấn đề bảo đảm một cuộc chiến tranh chính nghĩa.
Trái lại, khoa học quân sự của giai cấp tư sản là phản động, nó chỉ nghiên cứu các vũ khí, các phương pháp tác chiến bộc lộ tính chất xâm lược, tư tưởng chủng tộc, tư tưởng thế giới chủ nghĩa và các thứ tư tưởng phản động khác, vì quyền lợi của một số ít người là bọn tư sản độc quyền.
Khoa học quân sự xô-viết có đầy đủ tính chất khoa học, vì:
- Nó phản ảnh quy luật khách quan một cách chuẩn xác,
- Nó nêu rõ những quy luật chủ yếu của chiến tranh, chiến tranh và quân sự liên hệ mật thiết với vấn đề chính trị; nêu rõ tính chất phụ thuộc của chiến tranh và các vấn đề quân sự vào những khả năng kinh tế và tinh thần nhân dân của các nước tham chiến.
Khoa học quân sự xô-viết khẳng định chiến tranh có quy luật, nhất định tìm ra được, dựa vào quy luật chung mà tìm ra quy luật riêng.
- Có tinh thần và thái độ sáng tạo, áp dụng phê bình, tự phê bình giải quyết nhiều vấn đề một cách sáng tạo.
Trái với khoa học quân sự tư sản ở chỗ: ta là khoa học thật, còn khoa học quân sự tư sản có vẻ khoa học đấy, nhưng thật ra nó không khoa học, người ta gọi là giả khoa học, chúng cho rằng thắng bại của chiến tranh là do may rủi, cho những hiện tượng chiến tranh là không thể biết được, không theo một quy luật nào. Cách xem xét của chúng là duy tâm, chủ quan, nó tách vấn đề chiến tranh và quân sự ra khỏi vấn đề kinh tế, chính trị do đó thuần tuý quân sự, đi đến bệnh giáo điều, máy móc, giáo khoa thừa. (Máy móc ở chỗ : đề ra một phương pháp tác chiến nhất định rồi cho rằng cứ tiến hành đúng như phương pháp ấy thì sẽ thắng).
Chúng nêu ra thần thuyết về giống người ưu đẳng và giống người hèn kém - giống người ưu đẳng thì tiến hành chiến tranh nhất định được. Chúng kìm hãm binh sĩ của chúng trong vòng mê tín, ngu muội.
Chúng mong vào khả năng giải quyết chớp nhoáng của chiến tranh nguyên tử, dựa vào yếu tố ngẫu nhiên, khả năng của một vài tướng soái, một vài thứ vũ khí mà không dựa vào lực lượng quần chúng, không tính đến khả năng kinh tế, chính trị. Vì vậy, khoa học quân sự của chúng chỉ khoa học về hình thức. Bộ đội thì hiện đại, trang bị, chỉ huy bằng những phương tiện tối tân, nhưng cái gọi là khoa học quân sự thì lại là giả khoa học, là duy tâm.
Suy rộng ra, ta có một khoa học quân sự riêng của giai cấp vô sản, đứng đầu là khoa học quân sự xô-viết, nó đã tiến đến một trình độ rất cao, nghiên cứu nhiều vấn đề tiên tiến, nó luôn luôn đi kịp với sự phát triển của kỹ thuật, khoa học hiện đại nhất.
Ngay từ trước, các nước trong phe ta đều dựa vào những nguyên lý của tư tưởng Mác – Lê-nin để tiến hành chiến tranh giữ nước. Các nước: Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, … đều đi theo một quy luật tương tự giống nhau là ta từ yếu chuyển sang mạnh rồi thắng lợi. Địch từ mạnh đạt được những thắng lợi tạm thời rồi chuyển sang yếu và cuối cùng thất bại. Đó là bởi vì chế độ kinh tế, chính trị quyết định quá trình phát triển của chiến tranh. Lúc đầu chiến tranh, chúng ta đều có khó khăn, nhưng càng ngày lực lượng ta càng tăng, mà địch thì càng sa sút cả về vật chất lẫn tinh thần, rút cục cuối cùng tương quan lực lượng thay đổi, ta lại nắm phần thắng lợi về ta.
V- Nghiên cứu khoa học quân sự xô-viết ta cần rút ra những vấn đề gì?
Nghiên cứu khoa học quân sự xô-viết, ta liên hệ với tình hình ta, ta thấy ta cũng phải giải quyết rất nhiều vấn đề như: vấn đề ta chuẩn bị đất nước như thế nào, các vấn đề quan hệ đến đường lối kinh tế, chính trị, vấn đề địa hình (cải tạo địa hình thế nào, dựa vào địa hình, tổ chức phòng ngự thế nào), vấn đề lực lượng dự bị, vấn đề dân quân, v.v… Những vấn đề đó có các mặt chuyên môn phải đi sâu nghiên cứu lâu dài.
Ở đây ta thấy cần chú ý ngay mấy điểm:
1- Phải ra sức học tập lý luận Mác – Lê-nin để nắm vững những vấn đề cơ bản về sự phát triển của tự nhiên và xã hội, trên cơ sở đó mà hiểu những vấn đề khoa học quân sự.
Có cơ sở lý luận Mác – Lê-nin thì có nhiều vấn đề ta chưa được học, nhưng cũng có cơ sở để tin tưởng, khi học rồi sẽ có cơ sở hiểu biết nhanh hơn.
Thí dụ về vấn đề trong điều lệnh chiến đấu của Liên Xô nêu ra: “xung phong hàng ngang vừa đi vừa bắn”, nếu điều kiện pháo ta nhiều làm tê liệt đại bộ phận phòng ngự của địch và ta có xe tăng dẫn bộ binh xung phong thì làm như thế được, nếu ta chưa có pháo và xe tăng nhiều thì đánh kiểu khác.
Bây giờ nhiều thứ ta chưa có, nhưng không phải là mãi mãi không có, ta phải nghiên cứu học tập trước nhiều vấn đề và phải biết có sở lý luận của nhiều vấn đề để tiến cho kịp với tình hình chung. Một số đồng chí không hiểu như thế nên cho rằng tập như vậy là không cần thiết.
Khoa học quân sự bắt nguồn ở lý luận Mác – Lê-nin nên phải chú ý nghiên cứu lý luận Mác – Lê-nin, lấy đó làm gốc.
2- Trước mắt phải căn cứ vào yêu cầu chiến tranh hiện đại mà rèn luyện quân đội cho có một tinh thần chiến đấu thật cao, một trình độ kỹ thuật cao, một tinh thần kỷ luật thép, rất cao. Đó là 3 yêu cầu của chiến tranh hiện đại.
Phải chống hiện tượng giảm sút ý chí chiến đấu, không ham học hỏi, bảo thủ, lười biếng, tự do tản mạn, xuề xoà.
Hiện giờ tinh thần chiến đấu, trình độ kỹ thuật, tinh thần kỷ luật của ta có nâng cao một bước nhưng so với yêu cầu chiến tranh hiện đại thì còn thấp, phải ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, trình độ kỹ thuật, tinh thần kỷ luật của bộ đội, trước hết là yêu cầu cán bộ phải ra sức nâng cao trình độ cho kịp.
3- Hiểu đầy đủ ý nghĩa việc xây dựng đất nước, có ý thức đầy đủ về xây dựng đất nước tức là hiểu vấn đề xây dựng hậu phương vững chắc để đảm bảo thắng lợi.
Về việc xây dựng đất nước có những việc bản thân bộ đội tham gia xây dựng như doanh trại, công trình, nông trường, tham gia vào công tác xây dựng kinh tế, v.v… lại có những việc khác như bảo quản vũ khí, công tác tiết kiệm, sản xuất hàng ngày, v.v… đều có dính dáng một phần vào việc xây dựng kinh tế, xây dựng hậu phương của ta, cho nên cần chỉ đạo bộ đội làm tốt những công tác đó.
Nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất là nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân. Nhiệm vụ quốc phòng phải bảo đảm nhiệm vụ chung đó về mặt quân sự. Vì vậy vấn đề khoa học quân sự cũng phải là một vấn đề được học tập nghiên cứu đầy đủ để có cơ sở tìm hiểu và giải quyết các vấn đề trước mắt, đồng thời nó cũng là nhiệm vụ học tập của các cán bộ quân đội để nâng cao trình độ và lòng tin tưởng của mình, là nhiệm vụ học tập chung của những người có nhiệm vụ xây dựng đất nước. Có như thế mọi công tác của ta mới toàn diện và tiến bộ một cách vững vàng được.
Ghi lại sau khi đọc các tài liệu:
- Chiến tranh,
- Khoa học quân sự,
- Nghệ thuật quân sự.
           trong Đại bách khoa toàn thư Liên Xô.

(Trích Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà văn, 2012)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét