Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Vấn đề xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện


Như tên gọi, chúng ta nghiên cứu vấn đề xây dựng văn hoá trong một vùng dân cư có một phạm vi địa lý hành chính là một huyện. Quy mô huyện ở đây được quan niệm như trong Nghị quyết hội nghị của Trung ương Đảng lần thứ 2 (khoá IV) tháng 8 năm 1977 như sau:


Ở đồng bằng khoảng vài vạn héc ta và từ 15 đến 20 vạn dân.
Ở trung du, khoảng từ 2 đến 5 vạn héc ta và từ 10 đến 15 vạn dân.
Ở miền núi khoảng từ 4 đến 5 vạn héc ta và từ 5 đến 7 vạn dân.
Vai trò của huyện thì được quan niệm theo Chỉ thị 33 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 01 năm 1978:
“Huyện là địa bàn quan trọng để tổ chức lại sản xuất, là nơi trực tiếp với cơ sở, có điều kiện phối hợp mọi lực lượng trong huyện, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng, đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện 3 cuộc cách mạng và phấn đấu cho 2 mục tiêu vừa cơ bản, vừa cấp bách: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân”.
Xây dựng văn hoá có ý nghĩa tương đối rộng hơn công tác văn hoá, nhưng nó cũng bao gồm phần quan trọng là các công tác văn hoá. Xây dựng văn hoá là xây dựng những con người và những cộng đồng (tập thể) xã hội được phát triển toàn diện có lối sống xã hội chủ nghĩa, có khả năng sáng tạo những giá trị tinh thần tốt đẹp. Xây dựng văn hoá còn bao gồm cả xây dựng cảnh quan văn hoá, những công trình vừa làm đẹp cảnh quan vừa chứa đựng những giá trị và những hoạt động văn hoá của con người với cả truyền thống lịch sử và trình độ hiện đại.
Xây dựng văn hoá huyện nằm trong khuôn khổ của sự nghiệp xây dựng huyện vững mạnh toàn diện, do đó xây dựng văn hoá huyện là một mặt của xây dựng huyện toàn diện, nó gắn chặt với các mặt xây dựng khác như xây dựng kinh tế, xây dựng quốc phòng, v.v…
Mục đích của chủ nghĩa xã hội là vì hạnh phúc của nhân dân, xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất ở huyện, hay xây dựng văn hoá ở huyện cũng là nhằm mục đích ấy. Xây dựng kinh tế phải “có văn hoá”. Toàn bộ sự nghiệp sản xuất, lưu thông, phân phối, thương nghiệp, dịch vụ phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ở bất cứ không gian nào, thời gian nào của cuộc sống, làm cho con người luôn luôn cảm thấy được dễ chịu, được yêu thương, được kính trọng và luôn luôn có những niềm vui, không thể chỉ coi con người như những phương tiện hay công cụ lao động thể hiện bằng những con số người lao động và đồng thời phải coi trọng con người là đối tượng phục vụ, là chủ thể xây dựng xã hội.
Với quan niệm như vậy, xây dựng văn hoá không phải chỉ có một số công tác văn hoá mà nó nhập vào các lĩnh vực của kinh tế - xã hội để tạo nên một cuộc sống, xã hội có văn hoá cao.
Công trình nghiên cứu này có các nguồn tư tưởng, quan điểm và tư liệu như sau:
- Những tư tưởng chỉ đạo và xây dựng huyện toàn diện về văn hoá trong các Nghị quyết và Văn kiện của Đảng,
- Một phần các quan niệm về văn hoá và xây dựng văn hoá trong kho tàng lý luận và kinh nghiệm của thế giới (các nước xã hội chủ nghĩa anh em),
- Những thành tựu và kinh nghiệm của nước ta qua gần chục năm xây dựng huyện.
Công trình này không phải chỉ có tổng kết những kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của các công tác văn hoá mà có nhiệm vụ trình bày những quan niệm, những phương hướng có tính quy luật trong việc xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện.
Nó không chỉ có ý nghĩa tổng kết kinh nghiệm giúp ích cho ngành văn hoá, mà nó còn có ý nghĩa cung cấp cho cán bộ các cấp có trách nhiệm xây dựng huyện có những nhận thức và quan niệm rộng rãi và linh hoạt hơn để chỉ đạo xây dựng huyện trong quy hoạch, kế hoạch và hoạt động có hiệu quả hơn.
Vì vậy tài liệu này có sự tham gia của các cơ quan như : Ban xây dựng huyện của Trung ương Đảng và Hội đồng Bộ trưởng, Ban Nông nghiệp Trung ương, các cơ quan của Bộ Văn hoá, các cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh và huyện của các miền khác nhau. Tài liệu này sẽ trình bày mấy phần:
1. Xây dựng huyện toàn diện và xây dựng huyện về văn hoá.
2. Những cơ sở để xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện, mục tiêu của xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện.
3. Nội dung cụ thể của việc xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện.
4. Một số vấn đề về tổ chức và biện pháp thực hiện.
* * *
I. Xây dựng huyện toàn diện và xây dựng huyện về văn hoá.
Phạm vi của vấn đề nghiên cứu ở đây đòi hỏi phải làm sáng tỏ vài điều chung quanh khái niệm huyện.
Trong hệ thống tổ chức hành chính của ta có cấp dưới tỉnh và thành phố: Huyện, quận và thị xã (hoặc thành phố thuộc tỉnh). Trong cả nước ta có đến hơn 20 quận và hơn 10 thị, nhưng khi ta đề ra chủ trương xây dựng huyện, ta chỉ nói đến Huyện mà không nói đến quận và thị xã. Ta chỉ nói đến huyện vì chủ trương xây dựng huyện là một chủ trương chiến lược đề ra trong khuôn khổ của chủ trương chiến lược đối với nông nghiệp, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV được cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 (khoá IV) tháng 8 năm 1977.
Như vậy, việc xây dựng huyện gắn liền với chủ trương phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới mà phương hướng phát triển nông nghiệp nằm trong nhiệm vụ chiến lược bao trùm của thời kỳ quá độ là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
Cho nên nghị quyết Đại hội IV của Đảng đã ghi: “xây dựng huyện vững mạnh, thật sự trở thành đơn vị nông – công nghiệp, lấy huyện làm địa bàn để tổ chức và phân công lại lao động một cách cụ thể và kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, kinh tế toàn dân với kinh tế tập thể, công nhân với nông dân…”.
Và sau đó, trong tất cả các văn kiện chỉ đạo khác của Đảng và Nhà nước đều nêu bật phương hướng xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp. Ở miền có rừng “nông – lâm – công nghiệp”, ở vùng có nghề cá thì “nông – ngư – công nghiệp”. Huyện là nơi thể hiện cụ thể cơ cấu nông – công nghiệp trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh và của cả nước.
Huyện là nông thôn, huyện gắn chặt với nông nghiệp, nhưng xây dựng nông thôn mới là xây dựng một nông thôn có công nghiệp, trên đường công nghiệp hoá nông thôn không phải đơn giản đồng nghĩa với nông nghiệp và người ở nông thôn không phải chỉ là nông dân, càng không phải chỉ là nông dân lạc hậu.
Xây dựng nông thôn mới là từng bước đô thị hoá nông thôn. Những điều trên sáng rõ trong phương hướng chỉ đạo của Đảng, nó hoàn toàn có thể giải đáp một ý kiến lo ngại vô căn cứ như sau:
Văn hoá xã hội chủ nghĩa là văn hoá của công nhân, vậy mà xây dựng văn hoá lại có quan tâm đến nông thôn, huyện, chẳng hoá ra là ta xây dựng  văn hoá nông dân à?
Phải nói rằng đó là cách nghĩ thiển cận và máy móc.
Về mặt văn hoá cụ thể thì có nhiều điểm của huyện khác với quận và thị xã. Quận và thị xã là những địa bàn đô thị gắn chặt với đời sống công nghiệp, đời sống tập trung đô thị. Lần nghiên cứu này chỉ lấy huyện là đối tượng xem xét, không nhắc đến quận, thị xã. Nhưng nội dung vấn đề cũng rất có ích cho quận, thị xã. Những vấn đề của quận và thị xã sẽ phải được xem xét trong một dịp khác.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 (khoá IV) cũng chỉ rõ: “Huyện là địa bàn thích hợp để tổ chức lại sản xuất nông, lâm nghiệp, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.
“Mỗi huyện là một tiểu vùng sản xuất nông, lâm nghiệp và công nghiệp trong một tỉnh…, kết hợp sản xuất với chế biến, mở mang nhiều ngành nghề thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp, nhiều xí nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với quy mô thích hợp, sử dụng có hiệu quả các loại máy nông nghiệp”.
“Huyện là địa bàn kết hợp sản xuất với lưu thông, phân phối, phát triển văn hoá và xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn”…
“Huyện là địa bàn để tăng cường an ninh chính trị và củng cố quốc phòng, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng”.
Nghị quyết còn nói rõ thêm:
“Tổ chức sản xuất và tổ chức đời sống trên địa bàn huyện một cách toàn diện nhằm giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân và làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước”.
Chỉ thị số 33 ngày 24-1-1978 của Bộ Chính trị (khoá IV) về xây dựng huyện còn nói rõ thêm về nội dung xây dựng kinh tế và về yêu cầu nghỉ ngơi giải trí của nhân dân, về các công trình phúc lợi công cộng và nhà ở, mạng lưới các cơ sở y tế, giáo dục và văn hoá nghệ thuật.
Xây dựng huyện toàn diện có ý nghĩa lớn và có một nội dung lớn.
Huyện là cấp trực tiếp thực hiện việc “phát triển củng cố, sắp xếp, liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau nhằm khai thác tốt nhất lao động, đất đai, rừng, biển, ngành nghề trên địa bàn của huyện” (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng).
Huyện là cấp trực tiếp với các cơ sở sản xuất kinh doanh với các điểm dân cư, các cơ sở bảo đảm đời sống đến từng con người trong nhân dân, có quy mô vừa phải thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống. Do đó, huyện là một đơn vị đầy tính năng động để có thể tích cực góp phần xây dựng đất nước về mọi mặt. Ta có thể xuất phát từ điểm cơ bản: Mục đích của chủ nghĩa xã hội là vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân mà nội dung khái quát của nó là “thoả mãn ngày càng cao nhu cầu vật chất và nhu cầu văn hoá của nhân dân”, để chúng ta có thể phân tích nội dung xây dựng toàn diện sáng rõ hơn.
Khi nói về con người, chúng ta lại phải nắm vững quan điểm con người vừa là sản phẩm của xã hội vừa là chủ thể sáng tạo xây dựng xã hội. Và như vậy chúng ta thấy được rõ hơn mối quan hệ giữa các nội dung xây dựng huyện toàn diện và quan hệ giữa xây dựng huyện toàn diện và xây dựng huyện về văn hoá.
Xây dựng huyện toàn diện có một cơ cấu nội dung gồm ba mặt:
- Mặt kinh tế (bao gồm sản xuất, phân phối lưu thông, giao thông vận tải, …),
- Mặt đời sống (bao gồm những nhu cầu của nhân dân về ăn, mặc, học hành, ở, sức khoẻ, sự giao tiếp giải trí và hoạt động nghệ thuật),
- Mặt an ninh - quốc phòng (bao gồm việc bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi điều kiện cho chiến tranh chống quân xâm lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa).
Trong các nội dung đó thì sản xuất là nội dung có nhiều ý nghĩa quyết định. Vì sản xuất mới mang lại của cải cho xã hội, tính chất của sản xuất quy định việc phân bố lao động, việc tổ chức sản xuất và quy định cả việc xây dựng các kết cấu hạ tầng cho sản xuất như giao thông vận tải, phân bố năng lượng, v.v…
Nhưng nội dung có ý nghĩa mục đích cao cả lại là đời sống nhân dân với những nhu cầu các mặt của nó. Nội dung này cùng với nội dung sản xuất quy định sự phân bố tổ chức các điểm dân cư, các cơ sở dịch vụ, mạng lưới giao thông, v.v…
Ở nơi này hay nơi khác, ta có thể bắt gặp sự hiểu biết chưa đầy đủ về nội dung và ý nghĩa của sự nghiệp xây dựng huyện toàn diện. Vì thế ta có thể bắt gặp những quy hoạch gọi là tổng thể, nhưng thực ra chỉ mới quy hoạch kinh tế và quy hoạch kinh tế cũng chỉ nói rõ được quy hoạch sản xuất, quy hoạch sản xuất cũng mới chỉ ra được mục tiêu sản xuất: cây gì, con gì? Có nơi nêu 3 cây, 2 con; có nơi nêu 3 cây, 3 con (ví dụ: lúa, khoai, đay và heo, cá, trâu).
Đối với con người, ta chỉ mới thấy đó là yếu tố lao động, ta chỉ tính toán như là số liệu lao động, quan niệm đầu tư cho xây dựng cơ bản thì cũng chỉ mới tính được đầu tư cho các cơ sở vật chất - kỹ thuật và nguyên vật liệu, chưa ai tính rằng con người là nơi cần phải đầu tư, đầu tư cho những con người lao động như là chủ thể của sản xuất (đáp ứng các nhu cầu vật chất và văn hoá để giữ và phát triển sức lao động cho sản xuất) hoặc thấy rõ đầu tư cho việc con người (nuôi trẻ, mẫu giáo, trường học, bệnh viện, công trình văn hoá) cũng là một sự đầu tư cơ bản cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Ta nhìn nhận con người như là chủ thể và sản phẩm của xã hội. Vậy đối với con người là chủ thể sáng tạo, ta phải chăm lo cho những con người làm chủ đó có đủ tư cách, điều kiện để làm chủ ngày càng tốt hơn, không thể chỉ nhìn như một yếu tố lao động, một loại năng lượng nào đó, một thứ tài nguyên nào đó như đất đai chẳng hạn và vì vậy ta chỉ cần duy trì sự tái sản xuất giản đơn sức lao động trong các con người - yếu tố lao động đó. Ta phải chăm lo con người chủ thể trong tất cả các yêu cầu vật chất và văn hoá trong điều kiện lịch sử cụ thể.
Còn nếu ta nhìn nhận con người sản phẩm thì nhiệm vụ của ta là phải nâng cao từng bước chất lượng trình độ của con người sản phẩm đó, làm cho con người ngày càng đẹp đẽ về hình thể, khoẻ về thể chất, cao về tinh thần và tri thức, năng lực lao động và sáng tạo.
Tóm lại bất cứ trường hợp nào ta cũng phải coi con người đứng trên quan điểm mục đích của chủ nghĩa xã hội, mà không nên giản đơn hoá hoặc hạ thấp vai trò con người trong sự nghiệp xây dựng huyện toàn diện. Vì xây dựng huyện toàn diện, thực chất là ta xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa thu nhỏ với tất cả mục tiêu và yêu cầu của nó.
Nếu có một quan điểm đầy đủ như vậy thì khi tính toán các nội dung sản xuất, kinh tế, v.v… phải nghĩ đến nhiều mặt, đặc biệt khi tính toán đến việc phân bố dân cư hay phân bố lao động phải tính vừa bảo đảm khai thác hết tài nguyên thiên nhiên và truyền thống ngành nghề vừa phải tính các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của mỗi con người như: các vấn đề nhà ở, giao thông, trường học, chỗ chữa bệnh, bưu điện, v.v…
Khi tính toán đến các mặt đời sống thì cân nhắc đủ mọi mặt yêu cầu vật chất và văn hoá của con người. Trong mỗi điều kiện vật chất và tài chính có thể nghĩ đến điều đó như nghĩ đến một sự đầu tư cơ bản để xây dựng xã hội. Không nên coi nó là vấn đề phúc lợi, cho nên có hay không cũng được và không nên giải quyết nó như giải quyết một sự ban ơn, bố thí hay làm phúc. Đầu tư tốt cho con người thì thế nào hiệu quả sản xuất cũng lớn. Rất nhiều kinh nghiệm của các đơn vị sản xuất, công nghiệp hay nông nghiệp đã chứng minh điều đó.
Ta thường gặp một quan niệm “tất cả cho sản xuất” một cách đơn giản. Quan niệm đó tập trung lo cho sản xuất, chỉ tập trung lo những tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ rồi đến vật tư, nguyên liệu. Không mấy ai nghĩ rằng người là yếu tố quan trọng của sản xuất, nếu không phải là yếu tố hàng đầu. Đầu tư cho sản xuất phải đầu tư cho con người mà đầu tư cho con người thì phải biết đến nhu cầu vật chất và nhu cầu văn hoá của con người. Cho nên đầu tư cho con người không thể chỉ có mỗi số liệu là hơn 10 cân gạo 1 tháng. Tất nhiên không phải một lúc ta có thể đáp ứng ngay lập tức đồng thời mọi nhu cầu. Vấn đề quan trọng là những người có trách nhiệm với xã hội luôn luôn có con mắt nhìn con người, suy nghĩ về con người toàn diện và đầy đủ hơn thì nó sẽ bật ra được những tính toán cần thiết. Ví dụ: khi ta làm một con đường, ta không nghĩ nó chỉ để chuyên chở thóc gạo, phân bón và các loại vật tư sản xuất kể cả vật tư sinh hoạt, mà còn là để nhân dân đi lại thăm viếng nhau, giao lưu tình cảm và mở rộng tầm mắt. Khi ta tính đến phương tiện vận tải người ta không tính tấn, tạ, mét khối mà chỉ tính mỗi người khi di chuyển đường xa có được những điều kiện tiện nghi, dễ chịu hay không. Thực ra ở ta, chỉ yêu cầu có những điều kiện “chịu đựng được”. Hiện nay ở nhiều điểm dịch vụ công cộng, nhất là ở các điểm mua bán và giao thông, người được phục vụ đều phải chịu đựng những hiện tượng làm mất phẩm giá, mà người được phục vụ cứ lại phải nhẫn nhục chịu đựng. Ta nghĩ đến cái chợ không phải chỉ là nơi để buôn bán, ai mua thì mua, mua thế nào thì mua. Chợ không phải chỉ là thế giới riêng của những người tư thương. Chợ là nơi thoả mãn nhiều nhu cầu của dân cư. Trách nhiệm của chính quyền phải quan tâm đến chợ. Xây dựng và tổ chức chợ sao cho chợ đáp ứng nhu cầu nhân dân một cách tốt nhất, đẹp nhất, là nơi tạo ra những mối quan hệ văn minh lịch sự, là nơi mỗi người được thoả mãn các nhu cầu của mình một cách vui vẻ. Đó thực sự là những vấn đề văn hoá trong kinh tế, là những vấn đề xây dựng văn hoá rất cấp bách và thiết thực.
Trong các nội dung xây dựng huyện toàn diện, nội dung kinh tế và nội dung xã hội – văn hoá (đời sống) xen kẽ vào nhau, nhập vào nhau một cách rất cụ thể và rất trực tiếp đến đời sống con người.
Riêng về mặt kinh tế, trong mỗi huyện có nhiều loại cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Có loại “quốc doanh” của Trung ương, của tỉnh nằm trong địa bàn huyện, có loại của bản thân huyện. Ở huyện có rất nhiều cơ sở kinh tế tập thể từ nông nghiệp, thủ công nghiệp đến thương nghiệp (hợp tác xã mua bán) tín dụng. Nhiệm vụ của huyện làm sao liên kết được các cơ sở khác nhau ấy lại tạo nên một sức mạnh tổng hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp đó làm cho huyện ngày một giàu mạnh và phồn vinh.
Mỗi huyện thường có những nguồn tài nguyên thiên nhiên và có cả những nguồn sức mạnh xã hội, sức mạnh văn hoá. Đó là những nghề nghiệp truyền thống, những kỹ năng sở trường, những sức mạnh tinh thần cổ truyền của nhân dân về mặt tâm lý và tình cảm và với mức độ nào đó về trình độ học vấn. Muốn xây dựng huyện tốt, những người có trách nhiệm phải nắm được hết các nguồn tài nguyên và sức mạnh đó, phải có những công trình điều tra, khảo sát tự nhiên và xã hội. Thường sự điều tra để nắm các nguồn sức mạnh về xã hội, về văn hoá, về con người còn được ít quan tâm.
Xây dựng huyện bao giờ cũng đi đôi với tăng cường cấp huyện như các Văn kiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Hội đồng Bộ trưởng nhiều lần chỉ ra. Vì xây dựng huyện phải bao gồm việc xây dựng một lực lượng lãnh đạo và điều hành cho mạnh và giỏi. Chính lực lượng lãnh đạo và điều hành này là yếu tố quyết định, có khai thác hết được tài nguyên và sức mạnh trong huyện hay không, có đủ trình độ kiến thức và năng lực hành động để tổ chức các lực lượng trong huyện, điều hành các lực lượng đó, tạo ra vật chất và sức mạnh để cho huyện mạnh và giàu được hay không ? Các lực lượng lãnh đạo và điều hành đó là một Đảng bộ mạnh với một cấp uỷ mạnh và đồng chí Bí thư xứng đáng, đó là một bộ máy chính quyền mạnh và một Chủ tịch có đủ kiến thức, năng động, mạnh mẽ để điều hành công việc. Có thể cho rằng xây dựng lực lượng lãnh đạo và điều hành của huyện cũng là một cơ cấu nội dung của xây dựng huyện. Đó là ta tạo nên lực lượng tự giác năng động có trình độ cao để tác động toàn diện vào các mặt xây dựng huyện. Lực lượng này phải gắn bó máu thịt với nhân dân, là một bộ phận của nhân dân chứ không thể là một lớp người đứng trên nhân dân có những quyền lợi riêng biệt và xa lạ với cuộc sống nhân dân. Lực lượng này là điều kiện tiên quyết, là yếu tố quyết định và là linh hồn của toàn bộ sự nghiệp xây dựng huyện.
Xây dựng huyện toàn diện phải là xây dựng tất cả các cơ sở hành chính, dân cư kinh tế, văn hoá, quốc phòng (các xã, các hợp tác xã, các cơ quan, xí nghiệp, cửa hàng, trường học, v.v…) trong huyện đều mạnh. Mỗi cơ sở đều phải làm tốt nhiệm vụ của mình trong huyện, đều phải mạnh và tốt. Việc xác định các cơ sở và tổ chức cho các cơ sở xây dựng mối liên hệ giữa các cơ sở phải thật hợp lý, thuận lợi và đều có lợi cho các cơ sở thì mới phát huy được sức mạnh của nó. Về mặt này, ở huyện đang nảy sinh vấn đề phân các tiểu vùng, có các cụm kinh tế - xã hội (trước đây gọi là các cụm kinh tế - kỹ thuật). Cụm không phải là một tổ chức hành chính, mà chỉ là sự hình thành của hình thái phân bố dân cư.
Xây dựng huyện toàn diện bao gồm việc xây dựng huyện về văn hoá. Sự bao gồm này có 2 mặt là sự xây dựng văn hoá, nghĩa là tạo nên sự tiến bộ, sự lành mạnh, cái đẹp trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người trong huyện, mặt khác là bao gồm một số mặt xây dựng và hoạt động văn hoá nằm trong cơ cấu nội dung của việc xây dựng huyện. Quan niệm như trên cần được nhận thức sâu sắc và đầy đủ trong các cán bộ văn hoá và trong các cán bộ có trách nhiệm chung và các ngành, để có thể tạo nên sự liên kết giải quyết các việc chung tốt đẹp và tránh được hiện tượng cục bộ ngành, tránh được sự ganh tỵ giằng co giữa các ngành này và ngành khác. Cấp uỷ Đảng và Uỷ ban nhân dân chỉ làm việc điều hoà phối hợp cho tốt, cho đẹp, khỏi phải luôn luôn xử kiện mà không thoả mãn được các bên kiện nhau.
Như vậy việc xây dựng huyện toàn diện và việc xây dựng huyện về văn hoá có mối quan hệ tự nhiên, hữu cơ và hợp lý của nó. Xây dựng huyện về văn hoá không phải chỉ có đặt sự phát triển các mặt công tác văn hoá bên cạnh các mặt của kinh tế. Nó còn được quan niệm linh hoạt hơn, và nó vẫn có phần phải nói kỹ về các mặt cụ thể của văn hoá ở phần sau. Khi ngành văn hoá đặt vấn đề xây dựng văn hoá ở huyện có nêu lên “xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện”. Đó là một ý kiến đúng đắn, chính xác và hợp lý. Vì khi nói văn hoá ở huyện, người ta đã chỉ nhận thấy việc xây dựng phòng văn hoá và các cơ sở văn hoá ở thị trấn huyện (như thư viện, cửa hàng, v.v…) mà không thấy văn hoá là ở trong cuộc sống, trong dân cư. Xây dựng huyện toàn diện và xây dựng huyện về văn hoá đều là phải xây dựng trên toàn địa bàn huyện, đều nhằm vào mục đích xây dựng con người mới, xã hội mới.
II. Những cơ sở (tiền đề căn cứ) để xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện
Khi ta đặt vấn đề xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện, ta phải dựa vào cái gì, căn cứ vào đâu để suy nghĩ biện pháp tổ chức thực hiện.
Ở đây xin nêu 2 vấn đề quan trọng nhất.
Thứ nhất: Phân loại các huyện.
Việc phân loại các huyện có thể được tiến hành theo nhiều cách. Có cách phân loại các huyện về mặt địa lý địa hình, có cách phân loại các huyện về mặt kinh tế hoặc về mặt dân tộc, dân cư. Về mục đích của phân loại cũng có nhiều cách. Có cách phân loại các huyện của cơ quan chỉ đạo cao, để có căn cứ định ra những chính sách, những quy định thích hợp với từng loại huyện. Thậm chí mỗi ngành có những yêu cầu chỉ đạo và có cách phân loại của mình. Ví dụ: phân loại của y tế có những yêu cầu khác với phân loại của giao thông vận tải, phân loại của các ngành trồng trọt khác với phân loại của ngành chăn nuôi hay của ngành công nghiệp và thủ công nghiệp, v.v… Ngành văn hoá cũng cần có những yêu cầu phân loại của mình.
Ở đây đặt vấn đề phân loại là tự phân loại, thực chất là tự nêu lên những nội dung và phương pháp để các huyện tự tìm những đặc điểm của mình kết hợp với sự hiểu biết các loại huyện bạn, để xác định những đặc điểm của huyện mình lấy đó làm căn cứ mà suy nghĩ các vấn đề xây dựng văn hoá. Tìm đặc điểm của mình rồi phải tự xếp loại mình vào một loại hình chung các huyện có đặc điểm như mình để tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của cấp trên, tham khảo kinh nghiệm các huyện bạn có đặc điểm loại hình như mình để giải quyết các vấn đề của mình một cách thích hợp và đúng đắn. Như vậy mỗi huyện không thể chờ ai đó xếp loại cho mình rồi sẵn sàng chấp nhận loại hình đó mà phải tự mình xác định những đặc điểm của mình, tự phân loại mình, lấy đó làm căn cứ để suy nghĩ những vấn đề của mình.
Để phân loại được cần phải xem xét các mặt như sau:
Mặt quan trọng nhất là xác định các đặc điểm và địa lý bao gồm cả vị trí, diện tích, địa hình và các kết cấu hạ tầng về kinh tế đã có như đường xá, bến bãi, các đặc điểm về phân bố dân cư và thành phần dân cư.
Mặt thứ hai, là xác định các đặc điểm kinh tế - xã hội như đặc điểm đất đai, tài nguyên, trồng trọt chăn nuôi, ngành nghề, đặc điểm về giao thông, phân phối lưu thông, trình độ canh tác, trình độ ngành nghề, trình độ và mức sống xã hội.
Tình hình phân bố các cơ sở kinh tế, xã hội, văn hoá của tỉnh và Trung ương nằm trong huyện.
Mặt thứ ba, là xác định các đặc điểm về văn hoá như:
- Các đặc điểm về truyền thống lịch sử, truyền thống về phong tục, tập quán, đặc điểm về các di sản văn nghệ dân gian. Những nét đặc điểm về lịch sử dân tộc và lịch sử đấu tranh cách mạng,
- Các đặc điểm về dân tộc (tộc người), có những tộc người gì, phân bố trong huyện thế nào?
- Các đặc điểm về tôn giáo, tín ngưỡng có những tôn giáo, tín ngưỡng gì, số người theo các tôn giáo và tín ngưỡng.
Như vậy phân loại huyện không phải chỉ theo các dấu hiệu địa lý – kinh tế như là có huyện đồng bằng, huyện trung du, huyện miền núi, huyện miền biển; cũng không phải chỉ theo các dấu hiệu đặc điểm dân cư huyện dân tộc ít người, huyện công nhân, v.v…
Mà mỗi huyện kết hợp trong mình nhiều đặc điểm. Có huyện có dân tộc ít người mà không có tôn giáo hoặc ngược lại. Có huyện có cả dân tộc ít người lại có các tôn giáo tín ngưỡng khác nhau. Về đặc điểm truyền thống lịch sử, tình hình lại càng phong phú và đa dạng hơn.
Ta có thể tìm thấy một số huyện cùng một loại, tức là những huyện có đặc điểm các mặt tương tự như nhau.
Ta tìm đặc điểm chứ không phải kể lể tình hình. Đặc điểm là sự khái quát nét đặc sắc nhất nổi bật nhất. Có thể có tình hình gần giống nhau, nhưng phân tích đặc điểm khác hẳn nhau. Cũng có thể có một tình hình, nhưng có nhiều cách phân tích rút ra đặc điểm khác nhau. Nhận xét đặc điểm thế nào thì định hướng cho việc xử lý công việc theo như thế.
Tốt nhất là mỗi huyện có sự ghi chép đầy đủ các tình hình cơ bản của mình về mọi mặt có kèm theo sự diễn biến lịch sử của nó để ta có thể lần hết đến cội nguồn, đặc điểm các di tích lịch sử, các sự tích, các địa danh. Ta thường gọi đó là làm địa chí. Mỗi huyện có một địa chí cuối Thế kỷ thứ XX, địa chí sẽ là vốn hiểu biết rất cần thiết cho các cán bộ lãnh đạo và cho thanh niên. Từ những tư liệu địa chí mà phân tích đặc điểm thì những đặc điểm rút ra ấy có cơ sở vững chắc và khá chính xác.
Thứ hai: Quy hoạch tổng thể của huyện.
Quy hoạch tổng thể vốn đã bao gồm quy hoạch văn hoá nhưng trong quy hoạch tổng thể có những yếu tố rất quan trọng làm căn cứ cho quy hoạch văn hoá. Và quy hoạch văn hoá là căn cứ trực tiếp cho việc xây dựng văn hoá qua các kế hoạch năm năm và một năm.
Một quan điểm quan trọng có ý nghĩa văn hoá, chi phối rất nhiều quy hoạch tổng thể, nhất là các quy hoạch các mặt cụ thể của kinh tế. Đó là quan điểm lấy cuộc sống con người, hạnh phúc con người làm mục tiêu cao nhất của các hoạt động kinh tế và văn hoá xã hội.
Con người với tư cách là sức lao động là một yếu tố để tính toán quy hoạch và kế hoạch. Nhưng mọi mặt cuộc sống của con người, các nhu cầu vật chất và văn hoá của con người là mục tiêu quan trọng để đặt các quy hoạch và kế hoạch để tính toán các loại đầu tư, có chính sách đầu tư chính xác. Trước hết cần khắc phục quan niệm cho rằng đầu tư cho sản xuất, như các công cụ, vật tư, nguyên liệu, thực ra kinh nghiệm rất nhiều đơn vị cho ta thấy đầu tư cho sản xuất cần phải coi trọng đầu tư cho con người, đầu tư vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất văn hoá của con người lao động và gia đình họ. Không nên chỉ coi con người như những công cụ lao động, chỉ là những số liệu nằm trong các số liệu đầu tư cho sản xuất mà sản phẩm vật chất là mục tiêu cuối cùng và duy nhất. Phải quan niệm mỗi con người lao động và gia đình họ với tất cả nhu cầu vật chất văn hoá của họ vừa là sức mạnh của sản xuất vừa là sản phẩm của sản xuất. Và mỗi khi nghĩ đến con người lao động phải nghĩ đến gia đình của họ với tất cả các nhu cầu sống, ăn, nhà ở, mặc, đi lại, học hành cho con cái, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ, giải trí vui chơi và các hoạt động sáng tạo.
Phải nói là rất nhiều quy hoạch còn quan tâm quá ít đến mặt này, nhiều nhất cũng chỉ mới nghĩ đến nhu cầu “ăn” và nhu cầu “ở” với những điều kiện quá thấp kém không chấp nhận được.
Một trong những tinh thần quan trọng của Đại hội 27 Đảng Cộng sản Liên Xô là tinh thần “Tất cả vì con người, vì hạnh phúc của con người” và ta cần coi đó là một kinh nghiệm quan trọng.
“Chiến lược đó (chiến lược kinh tế của Đảng) nhằm tiến hành cải tạo với quy mô thực sự lịch sử, thực hiện cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật mới, chuyển nền kinh tế sang con đường phát triển theo chiều sâu, đưa nền kinh tế lên trình độ cao nhất của tổ chức và hiệu quả. Và tất cả những cái đó là vì con người, vì hạnh phúc của con người.
Lĩnh vực xã hội được chú ý nhiều hơn. Đảng ta cần có một chính sách xã hội mạnh mẽ bao quát toàn bộ không gian cuộc sống con người. Từ điều kiện lao động và sinh hoạt, sức khoẻ, nghỉ ngơi cho đến các mối quan hệ giai cấp – xã hội và dân tộc. Lê-nin cũng đã nhắc nhiều đến vấn đề khoa học về văn hoá, coi đó là một chính sách tốt nhất”.
(Goóc-ba-chốp – Báo cáo tại Hội nghị toàn thể Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, 10-1985. Trích lược của tạp chí “Thông tin lý luận” thuộc Viện Mác – Lê-nin, số 12-1985, tr. 33).
Viện sĩ Liên Xô Ô-leg Bô-gô-mô-lốp trong bài trả lời báo L’Expansion của Pháp tháng 10 năm 1985, có câu:
“ …Trước đây các nhiệm vụ kinh tế được đề ra không có sự liên hệ với các vấn đề xã hội và chính trị. Bây giờ mối liên hệ ấy được đặc biệt nhấn mạnh. Chúng tôi muốn sử dụng triệt để các sáng kiến kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội của chúng tôi và ngược lại đẩy mạnh việc giải quyết các vấn đề kinh tế bằng cách tận dụng các khả năng trong lĩnh vực xã hội…”
Tất nhiên Liên Xô sẽ giải quyết vấn đề trên cơ sở trình độ kinh tế và xã hội của Liên Xô, nhưng mối quan hệ kinh tế và xã hội sẽ diễn biến như một quy luật ta không thể không nhận thức sâu sắc.
Trên tinh thần đó, quy hoạch tổng thể là quy hoạch kinh tế xã hội, là quy hoạch mang ý nghĩa văn hoá rất lớn, tinh thần chung của quy hoạch văn hoá là nằm trong quy hoạch tổng thể, không thể chỉ là cái “đuôi” của quy hoạch tổng thể, không phải chỉ có một chiều quan hệ là quy hoạch kinh tế quy định quy hoạch văn hoá, mà có nhiều vấn đề, quy hoạch kinh tế phải tôn trọng văn hoá như việc bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá quan trọng, việc quan tâm đến môi trường sống của con người trước mắt và trong tương lai lâu dài.
Quy hoạch văn hoá về một mặt nào đó đã có nhiều nội dung nằm trong quy hoạch tổng thể một cách nhất quán. Nhưng đồng thời phải có quy hoạch cụ thể về văn hoá bao gồm những ý định dài ngày về các mặt công tác văn hoá như dự kiến các thiết chế cần xây dựng ở huyện và trong các cơ sở dân cư trong huyện, các mức hoạt động của các phong trào ở các cơ sở, mức hưởng thụ văn hoá và các loại thiết bị và tổ chức để bảo đảm mức hưởng thụ đó. Những dự kiến này nằm trong các dự đoán và phát triển kinh tế xã hội. Có quy hoạch là có dự đoán một cách có căn cứ để xác định những mục tiêu đạt được và từ đó vẽ ra một bức tranh toàn cảnh, một bộ mặt văn hoá ta định đạt được trong một tương lai nào đó, ví dụ trong vòng từ 15 đến 20 năm.
Quy hoạch là định ra mục tiêu và phương hướng trong hoạt động hàng năm hay trong các kế hoạch ngắn hạn 5 năm, 1 năm, ta căn cứ vào mục tiêu dài hạn và phương hướng để định được công việc từng bước đi cụ thể, thực hiện được nhiều bước đi cụ thể ấy để đạt tới mục tiêu dài hạn.
Nếu không có quy hoạch, hàng năm cứ gặp đâu làm đấy, thích làm gì làm cái nấy, thì sau một số năm, tình hình sẽ trở nên lộn xộn, cái nọ gây trở ngại cái kia, cái nọ phá vỡ cái kia, nơi thì “thái quá”, nơi bất cập, thậm chí có những cái làm lên xong phải phá đi làm lại, có những phong trào phải uốn nắn sửa chữa từ đầu, v.v… Chúng ta sẽ mất công mất sức mà không có hiệu quả hoặc có những hậu quả có hại.
Quy hoạch tổng thể của huyện là sự thể hiện quy hoạch tổng thể của tỉnh và cả nước trong một bộ phận, nó phải nằm trong cơ cấu của sự quy hoạch tổng thể chung. Nó phải chứa đựng được những ý định chung của tỉnh và của Trung ương trên các miền khác nhau, nó phải chứa đựng các mối quan hệ không gian, giữa huyện này với các huyện khác, với các ngành của tỉnh và của Trung ương. Những mối quan hệ này lại nằm trong sự thể hiện những ý đồ chung của cả nước do Trung ương hoạch định. Chỉ có sự chứa đựng các nội dung và các mối liên hệ như vậy, quy hoạch huyện mới bảo đảm được sự chính xác. Không thể cắt quy hoạch của huyện riêng ra thành một hệ thống các ý định chủ quan và riêng rẽ của huyện được.
Xây dựng văn hoá ở huyện phải có sự nhìn bao quát sự tác động qua lại giữa các ngành kinh tế - xã hội, sự tác động qua lại giữa sự phát triển trong huyện, sự phát triển của tỉnh và của toàn quốc, dự đoán sự phát triển nội dung và dự đoán được kết quả các sự tác động của mối quan hệ trong quá trình phát triển. Đồng thời có những mục tiêu ổn định được xác định để luôn luôn nhằm tới mà tiến bước. Có quy hoạch thì như người đi đường có đích rõ rệt và thấy rõ con đường đi tới đích vững bước tiến lên.
Quy hoạch văn hoá phải bao gồm ý định đạt được sau một thời gian dài và dự kiến những bước đi, mỗi bước đi đạt được từng phần của ý định.
Nhưng ý định đó phải có những ý định về:
- Mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được phân bố hợp lý các khu vực dân cư và có tính đến các loại khu vực dân cư, nơi thưa, nơi dày, nơi hẻo lánh. Mức hưởng thụ cho tới nay đã được thể hiện trong một hệ thống chỉ tiêu:
+ Lượt xem phim,
+ Lượt xem văn nghệ,
+ Số sách tính theo đầu người,
+ Số sách có trong thư viện,
+ Số sách có trong gia đình,
+ Số sách tiêu thụ (mua hàng năm),
+ Số báo chí phát hành trong huyện,
+ Số văn hoá phẩm bán trong huyện.
- Mức độ và trình độ tổ chức, lực lượng về phong trào bao gồm tổ chức các cấp quản lý văn hoá. Tổ chức các cơ quan, thiết chế văn hoá của Nhà nước. Tổ chức các lực lượng tham gia hoạt động sáng tạo.
- Mức độ xây dựng cảnh quan văn hoá bao gồm:
+ Hệ thống giao thông.
+ Hệ thống các công trình kinh tế nông nghiệp, được công bố hợp lý trong địa bàn huyện,
+ Hệ thống các công trình văn hoá được hình thành theo sự phân bố dân cư – bao gồm các thiết chế văn hoá: Nhà văn hoá, thư viện, bảo tàng, các cửa hàng dịch vụ, các loại tượng đài kỷ niệm truyền thống và các công trình mỹ thuật, các công viên, điểm giải trí, v.v…
- Tính toán yêu cầu đầu tư và cân đối với khả năng đầu tư do sự phát triển kinh tế tạo ra và yêu cầu, đồng thời vận dụng quan điểm đầu tư cho văn hoá bằng đầu tư cho con người, bằng đầu tư cho sản xuất, cho phát triển kinh tế.
Trên đây không phải là mẫu biểu và phương pháp quy hoạch mà là những nội dung có tính chất lý luận của sự quy hoạch văn hoá. Muốn nắm được đầy đủ nội dung này cần có sự nhận thức rõ hơn về mục tiêu xây dựng văn hoá ở địa bàn huyện.
Mục tiêu chung và bao trùm của việc xây dựng văn hoá huyện là đạt được việc xây dựng con người mới có thể lực, trí tuệ, tình cảm và đạo đức xã hội chủ nghĩa tốt đẹp. Những con người mới đó phải được sống trong một lối sống mới xã hội chủ nghĩa, một lối sống lao động có kỷ luật và năng suất cao, tập thể, dân chủ, đầy tình thương và lẽ phải và luôn luôn có các hoạt động nâng cao sự phát triển toàn diện của con người. Có những phong tục tập quán tiến bộ và đậm đà bản sắc dân tộc. Muốn thế, bên cạnh các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, phải có một đời sống văn hoá ở cơ sở sôi nổi phong phú và có trình độ ngày càng nâng cao.
Ba mặt này quan hệ tác động lẫn nhau xoay quanh mục tiêu trung tâm là hoàn thiện con người xã hội chủ nghĩa. Có thể quan niệm là ta cần xác định ba mục tiêu của xây dựng văn hoá ở huyện là con người, lối sống và đời sống văn hoá.
Ba mục tiêu này gồm nhiều mục tiêu cụ thể và nhiều chương trình cụ thể:
- Chương trình giáo dục phổ thông,
- Chương trình y tế, thể dục thể thao và riêng văn hoá văn nghệ cần có các mục tiêu và chương trình cụ thể của mình xoay quanh các mặt công tác:
- Thông tin cổ động – Thông tin đại chúng,
- Giáo dục truyền thống - bảo tồn, bảo tàng,
- Xây dựng nếp sống mới, phong tục mới,
- Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật,
- Phong trào hưởng thụ và sáng tạo văn nghệ.
Để thực hiện được các mục tiêu và chương trình như trên lại phải giải quyết một loạt vấn đề về phương thức hoạt động, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về tài chính và nhất là về tổ chức cán bộ, từ việc phát triển, đào tạo, bồi dưỡng đến việc bố trí sử dụng, quản lý theo dõi để tiếp tục đào tạo bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cao hơn.
Tóm lại, muốn có một nhận thức đầy đủ về xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện, cần phải nắm thật vững mục tiêu xây dựng con người mới trên ba mặt: con người, lối sống và đời sống văn hoá. Mục tiêu xây dựng con người mới cần phải được thực hiện trên cơ sở quy hoạch tổng thể (kinh tế - xã hội) của huyện và trên cơ sở những đặc điểm địa lý, lịch sử, kinh tế và xã hội của huyện. Tất cả những điều vừa nói phải là một quan điểm xuất phát cho mọi suy nghĩ về phát triển văn hoá và cả cho những suy nghĩ về phát triển kinh tế - xã hội nữa.
Tuy nhiên để đi vào từng mặt cụ thể trong trách nhiệm của ngành văn hoá, ta cần đi sâu vào những nội dung cụ thể của vấn đề ở mục sau.
III. Nội dung xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện
Khi ta nói đến xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện, là ta nói đến nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực. Xây dựng văn hoá của một địa bàn huyện không phải chỉ riêng một ngành nào xây dựng mà thành.
Ngành “văn hoá thông tin” đang giữ một vị trí quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ công việc xây dựng văn hoá ở huyện, ở nông thôn. Bởi vì bản thân nó phải đảm trách nhiều lĩnh vực nhất : văn hoá nghệ thuật, văn hoá giáo dục ngoài nhà trường ; văn hoá nếp sống và văn hoá môi trường. Nó có khả năng sử dụng rất nhiều “binh chủng”, phương tiện, loại hình hoạt động để chuyển tải và giao lưu hết thảy mọi giá trị văn hoá, đáp ứng hết thảy mọi loại nhu cầu văn hoá tinh thần của con người trên khắp địa bàn huyện. Đặc biệt hơn nữa, hoạt động của ngành văn hoá đã chiếm lĩnh khoảng thời gian dài nhất trong đời sống con người, thời gian ngoài nhà trường, qua từng chặng đường từ khi mới sinh cho đến khi chết, tác động tới hết thảy mọi lớp người không phân biệt lứa tuổi, nghề nghiệp học vấn, sức khoẻ, v.v… khiến cho tất cả mọi thành viên ở huyện đều là công chúng của ngành văn hoá – thông tin và thời gian ngoài lao động phần lớn là thời gian hoạt động của ngành văn hoá – thông tin. Thực tế xã hội đòi hỏi một nội dung xây dựng văn hoá hoàn chỉnh trên địa bàn một huyện.
1. Trước hết, cần xây dựng cho được các hoạt động văn hoá phong phú, sôi nổi của quần chúng, nhằm bảo đảm đáp ứng toàn diện nhu cầu đời sống tinh thần của mỗi con người và của xã hội. Như chúng ta biết, nhu cầu tinh thần của con người bao gồm nhiều mặt, từ nhu cầu nhận thức, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu định hướng giá trị cho đến nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu xã hội, v.v… Để đáp ứng toàn diện các loại nhu cầu tinh thần đó, ngành văn hoá từ lâu đã đặc biệt chú ý sáu mặt hoạt động chuyên ngành cần xây dựng trên địa bàn huyện. Cách phân định thành sáu mặt hoạt động văn hoá và việc đặt tên gọi cho mỗi mặt hoạt động có thể còn có chỗ cần được tiếp tục nghiên cứu, song trong thực tế hoạt động của ngành đã quen áp dụng, đã thành nếp, nên ở đây vẫn tiếp tục vận dụng cho thích hợp. Nhưng có điều rất quan trọng là cần thống nhất quán triệt về nội dung và phương thức vận hành của mỗi mặt hoạt động đó. Ở đây có hai điểm đáng chú ý.
Một là trong mỗi mặt hoạt động đó hàm chứa rất nhiều loại hình. Phương pháp và biện pháp hoạt động khác nhau do nhiều loại thiết chế văn hoá cùng thực hiện chứ không phải cứng nhắc mỗi mặt hoạt động chỉ do một loại thiết chế văn hoá nhất định đảm nhiệm hay chỉ ứng riêng với một chuyên ngành cụ thể nào đó, mặc dù trong đó tỷ trọng thực hiện của mỗi loại thiết chế có mức độ ít nhiều khác nhau.
Hai là mỗi mặt hoạt động văn hoá nào ở trên địa bàn huyện cũng đều được thực hiện từ ở cả hai chiều – đưa các hoạt động văn hoá chuyên nghiệp từ trên xuống và tự tạo các hoạt động văn hoá tích cực, chủ động từ cơ sở bảo đảm cả nhu cầu hưởng thụ và nhu cầu sáng tạo văn hoá văn nghệ của quần chúng.
Sau đây giới thiệu khái quát sáu mặt hoạt động văn hoá cần xây dựng trên địa bàn huyện:
- Thứ nhất là hoạt đông thông tin cổ động (hay tuyên truyền cổ động).
Nhiệm vụ chủ yếu của mặt hoạt động này là đáp ứng nhu cầu thông tin của quần chúng, đồng thời tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đường lối của Đảng cho quần chúng và cổ động quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng đề ra. Mặt hoạt động này được tiến hành bằng nhiều loại hình và biện pháp, sử dụng nhiều loại phương tiện: ngôn ngữ nói, hiện vật, sách báo, phương tiện truyền thanh, truyền hình, chiếu sáng, các loại tranh, ảnh, phim, các loại nghệ thuật, v.v… do nhiều loại thiết chế và đơn vị hoạt động văn hoá chuyên nghiệp của tỉnh, huyện đưa xuống và của các thiết chế và đơn vị hoạt động văn hoá không chuyên nghiệp của quần chúng ở cơ sở tạo ra, dưới sự chỉ đạo chuyên môn của các cơ quan nghiệp vụ cấp trên và sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và chính quyền cấp tương ứng. Nhiều loại cơ quan văn hoá ở huyện và ở xã có khả năng đảm trách mặt hoạt động này như : thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá, đài truyền thanh, đội chiếu bóng, đội văn nghệ, đội thông tin lưu động, nhà thông tin triển lãm, v.v… Trong số này, hiện nay các đài truyền thanh, phát thanh, các tụ điểm truyền hình, các đội thông tin lưu động, nhà thông tin triển lãm của huyện và xã là những cơ quan giữ vai trò chủ yếu chuyên trách một phần lớn trong mặt hoạt động thông tin cổ động. Các mạng lưới truyền thanh ở các xã và đài truyền thanh ở huyện giữ vai trò chủ đạo. Trong xu thế phát triển tương lai, các nhà văn hoá và các đội tuyên truyền văn nghệ cũng sẽ giữ vai trò ngày càng quan trọng trong lĩnh vực này.
- Thứ hai là hoạt động văn nghệ.
Nhiệm vụ chủ yếu của mặt hoạt động văn nghệ là đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ nghệ thuật của nhân dân trên địa bàn huyện, thông qua đó mà giáo dục tinh thần độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy truyền thống yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản, tuyên truyền đường lối và những nhiệm vụ chính trị của Đảng cho mọi thành viên trong huyện. Hoạt động văn nghệ quần chúng cần được tiến hành theo “phương thức dân gian” với ý nghĩa là khai thác triệt để cảm hứng và nguồn năng khiếu trong nhân dân lao động để tạo ra những giá trị văn học, nghệ thuật của nhân dân. Cần khắc phục lối “học đòi chuyên nghiệp” và lối gọi là “tự biên” giả. Hoạt động văn nghệ tiến hành dưới nhiều hình thức hoạt động. Có thể quy thành năm hình thức sau đây:
+ Tổ chức đưa các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp (kể cả điện ảnh, sân khấu, nhạc, múa, hội hoạ) từ trên xuống biểu diễn và trưng bày để phục vụ nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật cho nhân dân trong huyện,
+ Tổ chức việc nghiên cứu, khai thác các di sản văn học, nghệ thuật dân gian và truyền thống trên địa bàn huyện, phát động nhân dân hoạt động sáng tạo, biểu diễn, hội thi theo các thể loại và hình thức quen biết có truyền thống trong địa phương,
+ Xây dựng các đơn vị sáng tác và trình diễn nghệ thuật không chuyên nghiệp (thuộc tất cả các thể loại nghệ thuật truyền thống và hiện đại),
+ Xây dựng phong trào quần chúng múa, hát, diễn kịch, chơi đàn, kể vè, sáng tác thơ, ca, hò, vè, các trò chơi, các cuộc thi tài, v.v…
+ Giáo dục và bồi dưỡng kiến thức nghệ thuật, kiến thức mỹ học và mỹ thuật ứng dụng trong đời sống hàng ngày cho nhân dân trong huyện, đặc biệt đi dần vào việc phổ cập kiến thức một số loại hình nghệ thuật cho thanh thiếu niên, học sinh nông thôn.
Trên địa bàn huyện, có nhiều cơ quan văn hoá đảm trách mặt hoạt động này: rạp hát, rạp chiếu bóng, sân bãi biểu diễn, chiếu phim, nhà triển lãm, đài truyền thanh, các tụ điểm văn hoá truyền hình, vi-đê-ô – cát-sét và nhất là các nhà văn hoá, câu lạc bộ với tính cách những trung tâm văn hoá tổng hợp có khả năng đảm trách tất cả năm hình thức kể trên trong phạm vi huyện và cơ sở.
- Thứ ba là hoạt động câu lạc bộ, nhà văn hoá.
Do tính chất tổng hợp, đa năng và tính quần chúng, tính xã hội to lớn của nó, mặt hoạt động này có nhiệm vụ đáp ứng toàn diện các loại nhu cầu văn hoá tinh thần cho nhân dân trong huyện, nhờ đó nó góp phần đắc lực nhất vào việc giáo dục con người mới và phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng. Với nội dung thật đầy đủ mọi mặt hoạt động nhà văn hoá, câu lạc bộ trên địa bàn huyện phải thực hiện tổng hợp các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đường lối của Đảng và cổ động thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng nói chung và những nghị quyết của Đảng bộ địa phương,
+ Đào tạo và bồi dưỡng các loại kiến thức, học vấn, kỹ năng cho nhân dân sau thời gian lao động,
+ Xây dựng các loại tổ đội, nhóm câu lạc bộ theo sở thích, theo năng khiếu, theo nhu cầu xã hội, …
+ Nghiên cứu xây dựng và phát huy các khuôn mẫu, nghi thức văn hoá, các hành vi ứng xử theo lối sống mới xã hội chủ nghĩa, tổ chức các loại lễ, hội và tiến hành những biện pháp loại trừ nếp sống cũ lạc hậu, phản động.
+ Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá và nghỉ ngơi vui chơi, giải trí có văn hoá cho nhân dân trong thời gian rỗi thông qua hình thức văn nghệ, trò chơi, thể thao, thưởng ngoạn phong cảnh, giải trí xem sách báo, tranh ảnh, hiện vật trưng bày, thưởng thức ăn uống, v.v…
Để đáp ứng hoàn chỉnh những nhiệm vụ nói trên, đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp nhiều loại hình hoạt động với mọi loại phương tiện văn hoá có thể có và sáng tạo nhiều biện pháp năng động phù hợp từng nơi, từng lúc, từng đối tượng và từng điều kiện cụ thể. Hơn nữa để đảm trách mặt hoạt động này không phải duy nhất chỉ có một kiểu loại thiết chế nhà văn hoá theo quan niệm cứng nhắc, mà phải là do một tổng thể nhiều loại nhà văn hoá khác nhau. Đó là các nhà văn hoá, câu lạc bộ, các trung tâm văn hoá tổng hợp, các tụ điểm văn hoá, công viên văn hoá, các hội trường, các nhà diễn giảng, nhà rông, các kiểu nhà “thư, câu, cưới, họp”, v.v… Đã và sẽ có trên địa bàn huyện được hoạt động dưới sự hướng dẫn phương pháp của nhà văn hoá huyện.
- Thứ tư là hoạt động đọc sách và mua sách.
Nhiệm vụ chủ yếu của mặt hoạt động này là đáp ứng nhu cầu đọc sách và nhu cầu mua sách của nhân dân trong huyện, thông qua đó mà thực hiện được vai trò truyền bá kiến thức, thoả mãn nhu cầu nhận thức, thông tin, khai trí, đồng thời tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin và đường lối của Đảng cho quần chúng, thúc đẩy hiệu quả lao động sản xuất.
Có nhiều cơ quan văn hoá đảm trách mặt hoạt động này. Đó là các cửa hàng bán sách, cho thuê sách, đại lý sách, tổ dịch vụ văn hoá với nhiệm vụ phân phối sách có thu tiền cho nhân dân trong huyện để sử dụng riêng ở gia đình, đồng thời còn có những hoạt động thư viện, phòng đọc, tủ sách, tụ điểm đọc sách cố định hoặc lưu động, được xây dựng như một thiết chế văn hoá riêng hoặc xây dựng ghép thành một bộ phận trong các thiết chế văn hoá – xã hội khác, với tính cách là những cơ quan phục vụ việc đọc sách công cộng không mất tiền cho nhân dân trong huyện. Trong đó, thư viện đại chúng tổng hợp huyện là trung tâm phục vụ đọc sách, hướng dẫn phương pháp công tác thư viện và phong trào đọc sách trên địa bàn huyện.
- Thứ năm là hoạt động giữ gìn và giáo dục truyền thống.
Nhiệm vụ của hoạt động này nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu truyền thống cách mạng và khảo cứu địa phương, qua đó mà xây dựng cho nhân dân trong huyện có tinh thần tự hào và hiểu biết quê hương mình, phát huy sức mạnh của truyền thống để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở quê hương mình. Nội dung của mặt hoạt động này bao gồm nhiều loại hoạt động cụ thể, do nhiều cơ quan ở huyện tiến hành dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của nhà hay phòng bảo tồn bảo tàng huyện. Có thể khái quát thành mấy loại hoạt động như sau:
+ Hoạt động nghiên cứu, biên soạn và truyền bá kiến thức về lịch sử cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của huyện,
+ Hoạt động khảo cổ và khai thác di vật văn hoá trên phạm vi địa bàn huyện,
+ Hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử, di tích kiến trúc và danh lam thắng cảnh trong huyện,
+ Hoạt động trưng bày các di vật văn hoá - lịch sử, trên cơ sở xây dựng các loại nhà bảo tàng, nhà hay phòng truyền thống, lưu niệm, chứng tích, trong đó tiêu biểu nhất là nhà bảo tàng khảo cứu địa phương đại chúng tổng hợp của huyện, nhằm phục vụ nhu cầu tham quan và khảo cứu của nhân dân đối với truyền thống của huyện.
- Thứ sáu là hoạt động xây dựng nếp sống mới.
Đây là mặt hoạt động văn hoá quan trọng nhất ở cơ sở, nhằm xây dựng nền tảng văn hoá để hình thành con người mới ở nông thôn. Nội dung xây dựng nếp sống mới ở nông thôn là xây dựng những phong tục, tập quán mới theo các chuẩn mực của lối sống xã hội chủ nghĩa, trong đó hàm chứa cả những yếu tố đạo đức, khoa học, thẩm mỹ, truyền thống dân tộc, sắc thái từng vùng. Nếp sống, phong tục, tập quán được xuyên thấm vào lối nghĩ, lối hành động trong mọi lĩnh vực cuộc sống của cá nhân gia đình và xã hội từ việc ăn, mặc, ở, nói năng, đối nhân xử thế, cho đến lao động sản xuất, vui chơi giải trí, giao lưu xã hội, cũng như trong việc đối xử với các lực lượng tự nhiên vô tri vô giác,… Bởi vậy, phải coi việc xây dựng nếp sống mới xã hội chủ nghĩa ở nông thôn như một sự xây dựng toàn diện đời sống văn hoá của con người, chứ không phải chỉ đơn giản tiến hành “dứt điểm” một số công việc trước hết như ma chay, cưới xin, mê tín dị đoan, vệ sinh, trật tự, v.v… là xong hết.
Để điều hành quá trình xây dựng nếp sống mới xã hội chủ nghĩa trên địa bàn huyện, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật hình thành của nếp sống, nắm vững những chuẩn mực nếp sống mới xã hội chủ nghĩa, biết vận dụng phù hợp vào điều kiện chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nông thôn nước ta hiện nay, đồng thời nắm vững và vận dụng sáng tạo những biện pháp xây dựng nếp sống mới đặt ra phù hợp với yêu cầu trọng tâm, trọng điểm từng nơi, từng lúc.
Xây dựng nếp sống mới trên địa bàn huyện là nhiệm vụ của nhiều ngành, giới, nhiều cấp tổ chức ở huyện, trong đó ngành văn hoá – thông tin giữ vai trò như một cơ quan thường trực, chủ động đề xuất và phối hợp quá trình vận hành trên lĩnh vực này. Với sức mạnh và sự phong phú của các phương tiện và các hình thức hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin, cổ động, ngành văn hoá có khả năng chủ động trong việc tuyên truyền giáo dục nếp sống mới, phê phán nếp sống cũ, lạc hậu. Mặt khác, thông qua các hoạt động của nhà văn hoá, câu lạc bộ, trường học và một số thiết chế văn hoá khác của huyện, ngành văn hoá có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất và đưa ra nhiều khuôn mẫu, nghi thức văn hoá mới để truyền bá thành phong tục tập quán mới cho nhân dân trong huyện. Hơn nữa, ngành văn hoá còn có điều kiện chủ động phối hợp với nhiều ngành, giới khác để liên kết tiến hành những biện pháp hành chính, cưỡng chế, gây áp lực xã hội, vận động và tổ chức đời sống để đảm bảo kết quả đấu tranh xây dựng nếp sống mới trên địa bàn huyện.
2. Để đảm bảo xây dựng được 6 mặt hoạt động nêu trên, đòi hỏi phải xây dựng hợp lý một mạng lưới và các thiết chế văn hoá và công trình văn hoá xã hội chủ nghĩa trên địa bàn huyện.
Nên có sự phân biệt giữa thiết chế văn hoá và công trình văn hoá. Có thể coi thiết chế văn hoá xã hội chủ nghĩa như một cơ quan hay một tập thể hoạt động văn hoá có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng, có cơ sở vật chất, có hệ thống phương pháp chuyên môn riêng trực tiếp tới đối tượng công chúng văn hoá của mình, trên cơ sở đó nó thực hiện được vai trò làm phương tiện xã hội hoá và giáo dục con người theo hướng xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn, nhà thư viện, nhà văn hoá, nhà bảo tàng, v.v… Còn công trình văn hoá thì có thể coi như một số điều kiện vật chất được xây dựng lên thành tác phẩm văn hoá nhằm mục đích tác động đến đối tượng công chúng hưởng thụ văn hoá, không cần có chủ thể nhân sự điều hành và không có hệ phương pháp chuyên môn trực tiếp thường xuyên với quần chúng. Chẳng hạn, các công trình kiến trúc, danh thắng, các cụm pa-nô, tượng đài, v.v…
Xây dựng hợp lý mạng lưới các thiết chế văn hoá và công trình văn hoá trên địa bàn huyện cần được thể hiện ở các phương tiện:
a) Phải dần từng bước đi vào xây dựng hoàn chỉnh các loại thiết chế văn hoá và công trình văn hoá theo mô hình phát triển sự nghiệp văn hoá xã hội chủ nghĩa được nâng lên theo trình độ phát triển văn hoá của nhân dân và quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - văn hoá – xã hội trong tương lai của huyện.
Mạng lưới hoàn chỉnh các thiết chế và công trình văn hoá xã hội chủ nghĩa ở huyện phải gồm đủ các thành phần :
- Các cơ quan lãnh đạo và quản lý văn hoá ở huyện. Đó là Ban Tuyên huấn, Ban Văn hoá – văn nghệ, Phòng Văn hoá – thông tin hay Phòng văn – xã của chính quyền các cấp ở huyện, Hội đồng văn hoá – tư tưởng và một số Hội đồng văn hoá chuyên ngành các cấp ở huyện.
Các cơ quan giáo dục – văn hoá gồm : Nhà văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, bảo tàng, nhà thông tin triển lãm, đài truyền thanh, đội thông tin cổ động hay bãi biểu diễn ngoài trời. Có nơi đưa thư viện, bảo tàng hay đưa nội dung thông tin, cổ động vào hoạt động chung trong thiết chế nhà văn hoá. Có nơi thì xây dựng đội thông tin, cổ động kết hợp với một số đội văn nghệ quần chúng mạnh làm thành đội tuyên truyền văn nghệ của huyện. Có những huyện lại xây dựng ngay trên địa bàn mình hai nhà văn hoá cấp huyện, hai thư viện cấp huyện, chứ không phải mỗi loại chỉ có một thiết chế cấp huyện, v.v…
Hay đối với các cơ quan doanh nghiệp văn hoá, không nhất thiết huyện nào cũng thành lập đủ các loại công ty riêng biệt theo từng lĩnh vực doanh nghiệp của ngành, mà có huyện chỉ cần thành lập một hoặc hai công ty doanh nghiệp văn hoá tổng hợp là đủ, v.v…
b) Điều quan trọng nhất ở đây là phải bảo đảm làm sao mỗi thiết chế văn hoá sử dụng hết công suất của mình, đem lại hiệu quả cao, nhưng đồng thời cũng không được làm triệt tiêu hoặc trùng lặp vai trò chuyên môn của mỗi lĩnh vực công tác riêng biệt. Thiết chế văn hoá nào không có công chúng của mình và không vận hành đúng chức năng chuyên môn trong xu thế phát triển của mình đều không có lý do để tồn tại như chính bản thân thiết chế mình. Hơn nữa, những huyện nào vì lý do đơn giản tổ chức và giảm biên chế, định xoá bỏ phòng văn hoá với tư cách cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn huyện để thay vì những cơ quan dịch vụ văn hoá mang tính chất doanh nghiệp văn hoá đều không đúng với quy luật và đặc thù của hoạt động văn hoá. Hoạt động văn hoá không thể y hệt hoạt động kinh tế. Hoạt động văn hoá có doanh nghiệp, nhưng không phải là hoạt động kinh tế.
c) Xây dựng mạng lưới các thiết chế văn hoá và công trình văn hoá còn phải chú ý đến việc phân bố hợp lý nó trên địa bàn toàn huyện. Không phải chỉ chú trọng xây dựng các thiết chế văn hoá và công trình văn hoá cấp Huyện ở huyện lỵ, thị trấn mà bỏ rơi các xã và các vùng xa huyện lỵ. Song lại cũng không thể dàn đều, dập khuôn xây dựng một mô hình giống nhau cho tất cả các xã trong huyện, cũng như không thể xây dựng ở các xã giống như ở thị trấn. Những xã đã bao gồm thị trấn huyện hoặc nằm kề thị trấn huyện, không nhất thiết phải xây dựng các thiết chế riêng của xã.
Cần phải xây dựng tốt các trung tâm văn hoá cấp huyện ở thị trấn huyện lỵ để làm nơi hội tụ và triển khai các hoạt động văn hoá về tận các cơ sở trong toàn huyện. Đây chính là nơi phân phối và chuyển tải những giá trị văn hoá, hướng dẫn nghiệp vụ, tiến hành các hoạt động mẫu, tổ chức bồi dưỡng hạt nhân cho sáu mặt hoạt động văn hoá ở cơ sở. Các trung tâm văn hoá ở huyện lỵ xây dựng không mạnh thì các mặt hoạt động văn hoá không thể phát triển được và ngược lại ở cơ sở các hoạt động văn hoá yếu và thiếu thì các cơ quan văn hoá cấp huyện không làm tròn vai trò trung tâm và chỉ còn lại như những cơ sở phục vụ hạn hẹp cho một số đối tượng công chúng ở một số thị trấn mà thôi.
Mặt khác, cần gạt bỏ quan niệm cho rằng ở cấp huyện, cấp tỉnh có xây dựng những loại thiết chế và công trình văn hoá gì thì ở cấp xã cũng cần xây dựng cho mình đủ những loại thiết chế và công trình văn hoá đó. Ở mỗi xã với số dân trên dưới 4000 – 5000 người thực ra chỉ nên xây dựng một trung tâm hoạt động văn hoá tổng hợp (nhà văn hoá), một sân bãi biểu diễn nghệ thuật và chiếu bóng, một vườn chơi nhỏ bên cạnh đài liệt sĩ, trường học, trạm xá, vườn thuốc, … của xã là đủ. Không nên xây dựng dàn đều đủ các thứ thiết chế và công trình văn hoá riêng biệt sinh ra tốn kém, lãng phí nhiều cán bộ, không sử dụng hết công suất của nó.
Hiện nay do yêu cầu của cuộc sống đặt ra, đã xuất hiện một kinh nghiệm khá hay là xây dựng các tổ hợp (hoặc trung tâm) văn hoá từng cụm xã. Điều này đẻ ra từ tình hình quy hoạch kinh tế - xã hội của huyện. Mỗi huyện đều cần thiết phải chia ra những vùng, có nơi gọi là tiểu vùng gồm một số xã. Mỗi vùng đó đòi hỏi có một tổ hợp các cơ sở kinh tế - kỹ thuật (trạm máy kéo, kho vật tư, kho phân, trạm sửa chữa, v.v…) để đủ phục vụ cho một vùng gồm nhiều xã một cách thuận lợi. Các tổ hợp này thường nằm ở một địa điểm giao thông thuận lợi và ở trung tâm của nhiều xã, nó là cái chi nhánh của các cơ sở ở huyện. Những chỗ này trở thành những trung tâm quan hệ đến đời sống của nhân dân trong vùng và ở nhiều nơi xuất hiện thêm trường trung học phổ thông, bệnh viện vùng của huyện hoặc phòng khám đa khoa của bệnh viện huyện, vì thế về sau nó có tên là trung tâm (hay cụm) kinh tế - xã hội của vùng (hay tiểu vùng). Đó là thực tiễn đời sống đòi hỏi có sự phân bố các cơ sở kinh tế - kỹ thuật, các cơ sở xã hội sao cho vừa tầm với sự hoạt động của nhân dân, thuận lợi cho nhân dân. Chính đời sống văn hoá cũng đặt ra vấn đề như vậy. Nếu một huyện có một trung tâm văn hoá ở thị trấn huyện thì thông thường trung tâm này chỉ thu hút sự tham gia hưởng thụ và hoạt động của nhân dân từ 3 đến 5 xã ở chung quanh thị trấn. Và khu vực ấy chỉ chiếm 1/10 hoặc 1/3 hoặc 1/4, hoặc 1/5 số xã trong huyện. Nhân dân ở các xã khác ở cách xa trung tâm huyện thì tự tạo cho mình những thiết chế văn hoá của xã mình với quy mô nhỏ hơn, tính chất đơn giản thô sơ và nhiều khi không đủ các mặt được. Nếu trong một huyện quy hoạch thành ra một số vùng (thông thường hiện nay các huyện chia thành ít nhất ba vùng, nhiều nhất bảy vùng). Mỗi vùng gồm có từ 3 đến 5 xã hoặc nhiều, ít hơn một ít, có một số dân độ vài ba vạn với một cự ly đi lại từ chỗ xa nhất đến trung tâm từ 3 đến 5 km. Những vùng như vậy thường trùng hợp với các vùng kinh tế - xã hội và sự trùng hợp ấy là nên có và cần thiết. Trong số xã của vùng, tìm một xã có đường giao thông thuận lợi, ở vào vị trí trung tâm, đã có những cơ sở kinh tế - xã hội của vùng rồi, chọn xã đó làm nơi xây dựng tổ hợp văn hoá cho vùng. Nghĩa là xã đó sẽ xây dựng những thiết chế văn hoá cho xã mình nhưng xây dựng với quy mô lớn hơn một chút, chất lượng cao hơn một chút (có thể hình dung nó như những thiết chế của một thị trấn) để nó có thể phục vụ nhân dân của cả vùng gồm các xã chung quanh với những hoạt động văn hoá chất lượng cao hơn, số lượng nhiều hơn, loại hình phong phú hơn, có điều kiện để thu hút những đơn vị nghệ thuật trình độ cao, những phim hay phim tốt, từ đó mà nâng dần trình độ thưởng thức và thoả mãn ở mức độ cao nhu cầu và thị hiếu của nhân dân, kích thích khả năng sáng tạo của nhân dân ở trình độ khá hơn bình thường.
Trong một huyện có nhiều vùng, mỗi vùng có một tổ hợp (hoặc trung tâm) và trung tâm văn hoá huyện ở thị trấn huyện là một trong những trung tâm (hay tổ hợp) đó, nghĩa là trung tâm văn hoá huyện ở thị trấn huyện làm cả nhiệm vụ một tổ hợp ở một vùng của huyện. Có nơi (như ở Nghĩa Bình) các đồng chí lãnh đạo địa phương có dụng ý tạo nên cảnh quan thị trấn (đô thị) cho nơi trung tâm của vùng bằng cách xây dựng các chợ - chợ được xây dựng bao gồm khu nhà chợ và những dãy nhà buôn bán, dịch vụ chung quanh khu nhà chợ. Các nhà này do chính quyền quy hoạch cho người dân trong xã đang cần làm nhà, cho nên nó được mọc lên và hình thành rất nhanh. Việc xây dựng chợ, nâng cao và cải thiện các chợ ở nông thôn là một việc rất cần thiết và rất hay, nó không phải chỉ có ý nghĩa kinh tế mà nó có ý nghĩa văn hoá và nếp sống rất tốt. Nên khắc phục tư tưởng sợ xây chợ vì cho rằng như thế sẽ khuyến khích phát triển tiểu thương. Có chợ tốt và thương nghiệp xã hội chủ nghĩa hoạt động tốt chính là cách làm cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa chiếm lĩnh thị trường và cải tạo tư thương tốt nhất. Đây là một việc thiết thực tạo những điều kiện thuận lợi, thoải mái cho đời sống nhân dân.
Xã nào đứng ra “đăng cai” là trung tâm của vùng cần có khả năng đầu tư khá và phải đầu tư nhiều hơn. Huyện cần thuyết phục động viên và giúp đỡ chút ít, đồng thời huy động sự tham gia tự nguyện của các xã xung quanh. Nhưng sự tham gia này sẽ dễ dàng hơn khi ở trung tâm đã có một vài thiết chế hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho các xã. Ví dụ: có một rạp chiếu bóng hay rạp hát ngoài trời có nhiều phim và đoàn nghệ thuật hay, có một hiệu ảnh có trình độ nghệ thuật và kỹ thuật đáng tin cậy hay có một công viên có nhiều trò vui chơi giải trí hấp dẫn. Lúc ấy, người dân các xã chung quanh sẽ sẵn sàng đóng góp công của nhiều hơn. Trong khi chưa có sự đóng góp thì xã “đăng cai” thực ra cũng không thiệt vì các thiết chế hoạt động có bán vé lấy tiền, người các xã khác đến dự phải mua vé và xã “đăng cai” là người chủ có quyền bán vé thu tiền và quyền sử dụng tiền đó vào những mục đích có ích, chứ không phải mỗi xã “đăng cai” phải “bao cấp” cho các xã khác.
Trung tâm cụm (hay vùng) không phải là một cấp trung gian. Cần quan niệm về cơ bản là nó thuộc về cái cơ sở (xã) “đăng cai” và đồng thời nó làm chức năng là các chi nhánh các thiết chế của huyện. Không cần có tổ chức biên chế gì thêm. Chỉ cần là cơ quan quản lý văn hoá của huyện điều hành được kế hoạch hoạt động tất cả các xã và các trung tâm vùng, các thiết chế văn hoá cấp huyện có sự chi viện giúp đỡ bằng cách hướng dẫn nghiệp vụ và tăng cường lực lượng các trung tâm vùng những khi cần thiết. Các trung tâm vùng cũng nằm trong mạng lưới các thiết chế trong địa bàn huyện.
Việc xây dựng mạng lưới các thiết chế văn hoá còn cần phải tuân theo một nguyên tắc nữa là cần có một quy chế xác định quy trình việc chuẩn bị bao gồm có việc đề nghị và phê chuẩn những thiết chế được xây dựng. Xã muốn được xây dựng thiết chế gì cần phải trình bày được rõ nhu cầu và nguyện vọng thực sự của nhân dân trong xã. Đủ điều kiện vật tư và tài chính trong xã, quy hoạch của xã, cán bộ phụ trách thiết chế và bộ máy cán bộ nhân viên nghiệp vụ, tất cả đã có chưa? Thêm vào đó các điều kiện thủ tục về xây dựng cơ bản như địa điểm, nhiệm vụ thiết kế, v.v… và phải được Ủy ban nhân dân huyện ký giấy cho phép, huyện cần xem xét đề nghị của xã và đối chiếu với quy hoạch tổng thể của huyện để quyết định cho chính xác.
Huyện muốn xây dựng cái gì cũng phải có một quy trình như thế đối với tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh cũng phải xem xét và phê duyệt, quyết định cho phép theo một quy trình hợp lý.
Cần hết sức tránh tình trạng tự phát xây dựng theo cảm hứng, theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”, cứ đua nhau làm và đua nhau làm to hơn, sang hơn, đẹp hơn để lấy tiếng, không tính toán đến hiệu quả thiết thực của nó và hiệu quả là gây nên những lãng phí, phá vỡ quy hoạch chung về sau rất khó chữa.
3. Xây dựng một lực lượng văn hoá vững mạnh trên địa bàn huyện
Muốn xây dựng sự nghiệp văn hoá nhất thiết phải có một đội ngũ đông đảo những người làm văn hoá. Giới công tác văn hoá của huyện là một bộ phận quan trọng và là lực lượng chủ yếu của công việc xây dựng nền văn hoá trên địa bàn huyện. Nhìn vào số lượng và chất lượng trình độ của đội ngũ cán bộ trên mặt trận tư tưởng và văn hoá ở huyện, người ta có thể đánh giá được trình độ nền văn hoá huyện ấy.
Lực lượng văn hoá xã hội chủ nghĩa của huyện rất đông. Hiện nay mỗi huyện trung bình có đến từ 4000 đến 5000 người, gồm đủ các ngành: giáo dục trong nhà trường, giáo dục ngoài nhà trường, văn nghệ, thể thao, thông tin đại chúng, y tế, tuyên huấn, v.v… Kể cả chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, thuộc nhiều hệ thống quản lý khác nhau. Riêng trong ngành văn hoá – thông tin huyện nào yếu nhất hiện nay cũng có trên 200, huyện nào mạnh nhất thì có đến từ 600 đến 700 người làm công tác văn hoá, văn nghệ. Dần dần theo đà phát triển chung, những năm tới lực lượng văn hoá, văn nghệ ở huyện sẽ ngày càng tăng thêm đông, trung bình mỗi huyện trong nước, cứ 1000 dân thì có 1 người làm văn hoá chuyên nghiệp và khoảng 5 người làm văn hoá không chuyên nghiệp.
Cần phải quan niệm cho rõ các loại lực lượng văn hoá ở huyện. Tình hình thực tiễn đã chỉ rõ là có 2 loại lực lượng:
1. Lực lượng chuyên nghiệp bao gồm các thứ cán bộ quản lý, nghệ thuật, kinh tế, nghiệp vụ, … là những người trong biên chế bộ máy văn hoá ở huyện và ở các đơn vị cơ sở và cơ sở dân cư.
2. Lực lượng không chuyên nghiệp, lực lượng này gồm 2 loại 
- Những người có trình độ tri thức chuyên môn, có kinh nghiệm sống, yêu thích hoạt động văn hoá nghệ thuật, là những cộng tác viên tích cực của các cơ quan văn hoá, các thiết chế văn hoá. Đó là những giáo viên, những kỹ sư, bác sĩ, các cán bộ về hưu, các nghệ nhân các ngành nghệ thuật và mỹ nghệ,
- Những người khác, thông thường là công nhân, nông dân, học sinh mà chủ yếu là những người còn trong lứa tuổi thanh niên, ưa thích và đầy nhiệt tình hoạt động văn hoá nghệ thuật, những lực lượng hạt nhân của phong trào.
Có nhiều khi phải tính đến cả những cán bộ và nhân viên hoạt động ở cơ sở như đội trưởng văn nghệ phụ trách thư viện, nhà văn hoá, đội trưởng thông tin, nhân viên đài truyền thanh, v.v…
* * *
Đối với mỗi loại lực lượng, yêu cầu và phương hướng xây dựng có nhiều điểm khác nhau. Đối với đội ngũ cán bộ của ngành văn hoá, cần phải xây dựng và bồi dưỡng trên cơ sở những quan niệm sau đây:
Mọi người đều biết ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ cấp nào mọi thành bại đều do cán bộ quyết định. Công cuộc xây dựng văn hoá ở huyện cũng thế. Đó là điều hiển nhiên. Nhưng ở đây, ta thử bàn vấn đề cán bộ dưới ánh sáng của những yêu cầu của cuộc sống mới và thực tiễn cách mạng mới mà không lặp lại những khuôn khổ “đức”, “tài” cũ nữa.
Những yêu cầu của người cán bộ trong giai đoạn này, có thể tóm tắt là nhiệt tình, kiến thức và năng động.
Nhiệt tình trong văn hoá là lòng say mê văn hoá và trước hết là say mê văn học, nghệ thuật. Người có nhiệt tình, vừa tìm thấy ở văn học, nghệ thuật một vũ khí đấu tranh cách mạng, vừa thấy ở đó những vẻ đẹp kỳ diệu, những cuộc sống muôn màu muôn vẻ, những sự cảm hứng đặc biệt đối với cuộc sống với con người và từ đó thấy ở văn học, nghệ thuật một lẽ sống của mình.
Kiến thức trong văn hoá yêu cầu rất rộng. Người cán bộ văn hoá giỏi là người “thông kim, bác cổ” phải hiểu biết lịch sử văn học, các nghệ thuật, các mặt đời sống con người, khoa học kỹ thuật, thiên văn, địa lý, … Nhưng trước hết và tối thiểu là phải hiểu những vấn đề cơ bản về lý luận văn hoá, lý luận mỹ học Mác – Lê-nin, nghệ thuật học, các môn nghiệp vụ và kỹ thuật liên quan đến văn hoá. Đối với từng loại cán bộ, yêu cầu kiến thức khác nhau. Cán bộ quản lý kiến thức chung phải rộng, đủ để hiểu các vấn đề chuyên môn không cần phải chuyên sâu như cán bộ chuyên môn, nhưng lại phải có tài tổ chức, điều hành, quan hệ với mọi người. Người cán bộ chuyên môn ngành gì phải hiểu thật sâu nghề nghiệp của mình, nhưng cũng phải có vốn kiến thức chung kha khá.
Năng động là một đức tính nói lên tính tích cực, lòng hăng hái, năng lực hành động và tinh thần trách nhiệm, tinh thần cầu tiến. Tính năng động đối lập với tính lờ đờ, thụ động, lười biếng, bảo thủ. Trước đây ta hay nói “năng nổ” chính là cách nói nôm na “tính năng động”.
Tính năng động là một đức tính nhưng nó cũng là hệ quả của nhiệt tình cộng kiến thức. Chỉ có nhiệt tình và kiến thức mới có thể năng động được.
Tất cả những điều trên đây đều gắn liền với những khái niệm cơ bản về phẩm chất của một người cán bộ : tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, tức là có một phẩm chất chính trị vững chắc, cần phải có lối sống trung thực và ý thức tổ chức kỷ luật. Những điều này đối lập với lối sống giả dối, cơ hội chủ nghĩa, tự do chủ nghĩa, vô kỷ luật, vô trách nhiệm, tự cao, tự đại, coi thường mọi người, hay ganh ghét, kèn cựa, v.v…
Lựa chọn cán bộ là một việc có ý nghĩa rất lớn và là trách nhiệm chủ yếu của cấp uỷ Đảng và Ủy ban nhân dân và cơ quan tham mưu tin cậy là cơ quan tổ chức. Cơ quan tổ chức khi tìm chọn cán bộ cho ngành văn hoá cần phải hiểu rõ quan niệm cơ bản về văn hoá và công tác văn hoá, hiểu rõ những đặc trưng đặc thù của văn hoá nghệ thuật của lao động nghệ thuật và của các giá trị văn hoá.
Cán bộ văn hoá có mấy loại:
- Cán bộ quản lý,
- Cán bộ nghệ thuật (nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn hoặc vận động quần chúng sáng tác và biểu diễn),
- Cán bộ nghiệp vụ văn hoá,
- Cán bộ kỹ thuật.
Khó lựa chọn nhất là cán bộ quản lý. Ở một xã nọ, trưởng ban văn hoá bị thay đổi nhiều lần, không ổn định, khi hỏi một cán bộ lãnh đạo xã: tại sao? thì được trả lời như sau:
“Tìm cán bộ văn hoá rất khó, phải là người tài hoa và gương mẫu. Gặp người tài hoa thì lại kém gương mẫu, rất khó cấu tạo vào cấp uỷ Đảng và Ủy ban nhân dân. Được người gương mẫu thì lại không có tài hoa, không biết làm gì về văn hoá cả, công việc không phát triển được”.
Đó là tình hình mâu thuẫn có thực. Nhưng cũng là sự phản ánh những quan niệm về “gương mẫu” và “tài hoa” đầy mâu thuẫn và chưa phù hợp với những quan niệm đầy đủ về văn hoá.
Thực ra kinh nghiệm ở nhiều nước anh em và kinh nghiệm ở nước ta cũng cho thấy là cán bộ quản lý cho lĩnh vực văn hoá nghệ thuật thường là có hai nguồn:
- Những cán bộ chính trị được rèn luyện nhưng có chút ít năng khiếu và nhất là có nhiệt tình, yêu mến văn hoá nghệ thuật,
- Những cán bộ văn hoá - nghệ thuật (những nghệ sĩ) có thể là không có tài năng đặc biệt có kiến thức một cách hệ thống, có tâm hồn nghệ sĩ, lại được bồi dưỡng về chính trị tương đối cơ bản, được rèn luyện đấu tranh và đã tham gia công tác lãnh đạo trong các cấp uỷ của Đảng.
Dù cán bộ được xuất thân từ nguồn nào đi nữa cũng không thể nào trong thời gian ngắn có thể trở thành cán bộ quản lý văn hoá tốt ngay được. Cần phải có thời gian bồi dưỡng kiên trì nhiều lần, nhiều ngày, được rèn luyện thử thách nhiều bề. Cán bộ chính trị cần được đặc biệt bồi dưỡng về kiến thức văn hoá nghệ thuật, cán bộ nghệ thuật cần bồi dưỡng về kinh nghiệm lãnh đạo quản lý. Mỗi loại cán bộ nói trên đều có thể có những nhược điểm nhất định và nó hay có mâu thuẫn giữa mặt “gương mẫu” và mặt “tài hoa” như kiểu diễn đạt của một cán bộ xã nói trên.
Không thể ảo tưởng và ngay lập tức có thể có cán bộ quản lý văn hoá với mọi điều kiện lý tưởng được. Phải có sự chọn lựa trên cơ sở những quan niệm sâu sắc về văn hoá và về yêu cầu của cán bộ, rồi ổn định tình hình tương đối cho cán bộ có điều kiện phát triển, không nên nôn nóng. Phải biết nhìn được triển vọng của người cán bộ chứ không nên vì nể. Vì có thể chọn một lần không đúng ngay. Nhưng muốn có cán bộ có thể chuyên môn hoá ở mức cao thì cần phải ổn định điều kiện công tác cho cán bộ - nhất là cán bộ quản lý.
Không nên kéo dài tình trạng: “cán bộ văn hoá là thứ cán bộ ai làm cũng được và điều ra làm việc gì ở ngành nào cũng được” và vì thế mà cứ thay đổi xoành xoạch.
Đối với cán bộ nghệ thuật, nghiệp vụ, kỹ thuật – vì có hệ thống đào tạo ở các trường có hệ thống, nên việc chọn lựa đỡ phức tạp hơn, nhưng dù sao cũng cần phải am hiểu đặc thù của văn hoá, nghệ thuật và lao động nghệ thuật để đánh giá cán bộ cho công bằng và chính xác. Có một đồng chí cán bộ chính trị lâu năm chuyển sang lãnh đạo văn nghệ phát biểu cảm tưởng:
“Trước đây tôi ở ngoài lĩnh vực văn nghệ nhìn vào tôi cứ e ngại lĩnh vực này phức tạp và tôi tưởng công việc văn nghệ cũng là công việc nhẹ nhàng, chơi bời. Nhưng đi vào lãnh đạo anh em tôi mới thấy anh em rất nhiều tâm huyết và lĩnh vực văn nghệ có nhiều khó khăn đặc biệt. Tôi thấy rõ lao động nghệ thuật là một thứ lao động đặc biệt, có nhiều khó khăn cực nhọc riêng và nhất là nó là những việc không phải ai ai muốn làm cũng làm được cả”.
Cảm tưởng này phản ánh một chân lý của cuộc sống cần quan tâm.
Xuất phát từ những ý kiến bàn luận như trên thì vấn đề cán bộ văn hoá ở huyện đòi hỏi:
- Cần có sự lựa chọn kỹ càng lúc đầu, xuất phát từ những quan niệm đúng đắn và sâu sắc về văn hoá, nghệ thuật,
- Cần kiên trì ổn định đội ngũ, tạo điều kiện cho anh em được chuyên môn hoá ngày càng cao,
- Muốn thế tổ chức phải chăm lo bồi dưỡng liên tục cho anh chị em bằng nhiều hình thức linh hoạt như phải đi dự lớp (các lớp ngắn ngày và cả những lớp chính quy tại chức), cho đi tham quan, mời chuyên gia về diễn giảng, tổ chức sơ kết, tổng kết trao đổi kinh nghiệm, khuyến khích tự học, v.v…
Bản thân anh chị em phải ý thức sâu sắc được sự cần thiết, sự quan trọng của việc nâng cao trình độ. Tuyệt đối khắc phục bệnh lười biếng, bảo thủ và tự mãn.
Có như thế mới có thể có đội ngũ cán bộ ngày càng chuyên môn hoá càng cao và có đầy đủ các yêu cầu nhiệt tình, kiến thức, năng động, làm những động lực thúc đẩy sự nghiệp xây dựng văn hoá ngày càng tiến bộ.
* * *
Các lực lượng không chuyên nghiệp cũng có những điều khác nhau.
Đối với lực lượng “cộng tác viên” thì thực sự là các hoạt động văn hoá phải khai thác vốn hiểu biết và trí tuệ của họ. Chính họ là người tham gia việc bồi dưỡng kiến thức, năng lực cho những người hoạt động văn hoá. Các cơ quan văn hoá cần phải tổ chức những cuộc họp mặt để giới thiệu các yêu cầu và chương trình hoạt động của mình, để mời các cộng tác viên tham gia vào những hoạt động thích hợp và do đó mà gợi ý cho họ những ý kiến, những sáng kiến để họ góp phần cho các hoạt động phong phú và chất lượng cao.
Nhưng đối với các lực lượng “hạt nhân” thì tình hình lại khác.
Lực lượng này bao gồm những người trước hết là có nhiệt tình và ưa thích hoạt động văn hoá. Cũng cần có những người có năng khiếu hoặc đã có năng lực đến một trình độ nào đó, nhưng nói chung là chưa có vốn kiến thức hay nghề nghiệp được đào tạo có hệ thống.
Đặc điểm hoạt động của các lực lượng này là tự nguyện theo nguyên tắc hoạt động xã hội. Họ có thể tham gia vào các tổ chức, nhưng với tính chất tự nguyện và không có một chế độ tổ chức chặt chẽ. Họ có thể tham gia các đội văn nghệ, các tổ biên tập, các tổ thông tin, các tổ chức hoạt động nếp sống mới. Họ cần được huấn luyện, được bồi dưỡng.
Đặc điểm khác trong hoạt động của họ là không ổn định, luôn luôn có người mới bổ sung vào lực lượng và luôn luôn có người thôi hoạt động. Có người đang hoạt động tích cực, nhưng đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự, đi học đại học hoặc đi xây dựng vùng kinh tế mới, các cô gái thì có người đi lấy chồng xa, có người có gia đình, có con không còn điều kiện hoạt động, v.v… Ngược lại, do sự biến động dân cư, các địa phương lại luôn luôn có các lực lượng mới được bổ sung: lớp thiếu niên lớn lên, những người con gái ở nơi khác về làm dâu, các anh bộ đội hết nghĩa vụ quân sự về, v.v…
Việc huấn luyện bồi dưỡng cho các lực lượng này cần luôn luôn đặt ra một cách thường xuyên và linh hoạt.
Trong những người hoạt động nghiệp dư này, có người do có điều kiện, nhiệt tình cao có thể tham gia hoạt động tương đối thường xuyên, cũng có người tham gia hoạt động ít thường xuyên hơn, thậm chí có người chỉ có thể hoạt động từng đợt, từng việc. Do đó những người hoạt động tương đối thường xuyên, thông thường có tham gia các tổ chức trở thành cái gọi là lực lượng hạt nhân. Số người tham gia lực lượng hoạt động này càng lớn, càng chứng tỏ trình độ phát triển văn hoá cao, là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình và hiệu quả của công tác văn hoá.
Việc huấn luyện, bồi dưỡng cho các lực lượng này không thể tính đến những chương trình kế hoạch đào tạo chính quy, có hệ thống, cơ bản và lâu dài được. Những yêu cầu chính quy chỉ có thể được đặt ra trong tương lai, khi kinh tế - xã hội phát triển tới một trình độ nào đó.
Trước mắt, cần có ý thức đầy đủ về sự cần thiết phải tổ chức sự huấn luyện và bồi dưỡng các lực lượng này một cách thường xuyên liên tục, bằng những hình thức linh hoạt và phong phú: các lớp tập huấn ngắn ngày ở xã, ở huyện; các cuộc mời người giảng dạy, nói chuyện chuyên đề; các cuộc hội diễn, hội thi; các cuộc mời đạo diễn, tác giả, cấp trên về dàn dựng, tập huấn; các hội nghị sơ kết, tổng kết từng mặt hoạt động, các cuộc tham quan trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ sở trong huyện và đối với huyện bạn.
Tất nhiên không loại trừ một số địa phương có điều kiện chịu kinh phí đài thọ cử người đi học các lớp nghệ thuật, chuyên môn sơ cấp, trung cấp hoặc cao hơn nữa, nhưng không thể coi đó là biện pháp chủ yếu.
Coi trọng việc bồi dưỡng các lực lượng hạt nhân sẽ tạo nên được sự náo nhiệt sôi động thêm của các hoạt động văn hoá ở huyện và nâng cao chất lượng hoạt động.
Bên cạnh những hoạt động tổ chức như trên, cần hết sức chú trọng tổ chức các cuộc thi động viên mà thu hút đông đảo lực lượng tham gia sáng tác kiểu dân gian, có chấm thi, có giải thưởng, có chế độ thù lao thích đáng, cũng là một cách tốt để nâng cao trình độ hoạt động văn hoá ở cơ sở và bồi dưỡng lực lượng.
Xây dựng và bồi dưỡng lực lượng là một điều có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ việc xây dựng văn hoá và công tác văn hoá.
IV. Xây dựng kinh tế trong sự nghiệp văn hoá huyện
Đây là một vấn đề mới, nhưng ngày nay đang trở thành những nội dung quan trọng và thiết thực trong công cuộc xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện.
Quá trình hoạt động văn hoá là quá trình của nền sản xuất tinh thần, trong đó có cả cái kinh tế và cái tinh thần. Ở huyện, nó là quá trình hoạt động nhằm sản xuất, phân phối, khai thác, lưu giữ và tiêu thụ những giá trị tinh thần của nhân dân trên địa bàn huyện. Tiếp thu tinh thần Nghị quyết 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V), ở huyện cũng cần nghiên cứu vận dụng phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa và tiến hành các hoạt động văn hoá của mình theo phương hướng xoá bỏ bao cấp, hạch toán kinh tế, tự túc một phần ngân sách. Trong thực tế, nếu giải quyết tốt những vấn đề kinh tế trong văn hoá thì tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho văn hoá của huyện phát triển nhanh.
Xây dựng sự nghiệp văn hoá xã hội chủ nghĩa ở huyện là một bộ phận trong toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của huyện, cho nên nó cũng phải được quản lý, được tiến hành kế hoạch hoá. Toàn bộ hoạt động văn hoá ở huyện cần được đưa vào kế hoạch Nhà nước của huyện. Tuy không phải đặt ngành văn hoá xếp vào hàng những ngành kinh tế quốc dân để quản lý, kế hoạch hoá nó như đối với một ngành kinh tế thực thụ, nhưng chúng ta cũng phải biết quản lý nó theo phương thức quản lý kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Trong khi quản lý văn hoá ở huyện, chúng ta cần tránh cả hai xu hướng thiên lệch : hoặc chỉ thuần đứng trên mặt lợi ích kinh tế mà không nhìn thấy mặt lợi ích tinh thần, để dẫn đến tình trạng dùng văn hoá nghệ thuật để làm phương tiện kinh doanh thương mại. Hoặc ngược lại, chỉ thiên nặng về mặt lợi ích tinh thần mà không cần đếm xỉa đến hiệu quả kinh tế của mỗi hoạt động văn hoá, dễ dẫn đến tình trạng làm văn hoá “bằng bất kỳ giá nào”, bỏ nhiều tiền của Nhà nước ra “bao” cho văn hoá mà thu về hiệu quả thiết thực không được mấy, không đáng đồng tiền bỏ ra.
Để xây dựng kinh tế trong sự nghiệp văn hoá huyện được tốt, cần chấn chỉnh cơ chế quản lý các cơ quan văn hoá của huyện. Cần phân loại, xác định rõ tính chất, chức năng, nhiệm vụ và khả năng thu chi, các mức độ hạch toán kinh tế cao thấp khác nhau của từng cơ quan văn hoá, kể cả các cơ quan hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp văn hoá, để từ đó có những chính sách đầu tư và thu nộp ngân sách thích đáng. Lại còn phải xác lập cho được hệ thống chỉ tiêu nhà nước (trung ương và địa phương) đối với toàn bộ các hoạt động văn hoá ở huyện, kể cả sự nghiệp và doanh nghiệp văn hoá.
Chung quy lại, công việc kế hoạch hoá, quản lý kinh tế đối với tất cả các loại cơ quan văn hoá của huyện (từ nhà in, xưởng giấy, trạm vật tư, hiệu ảnh, hiệu sách, chiếu bóng, … cho đến nhà văn hoá, nhà thông tin, thư viện, bảo tàng, nhà hát, công viên, v.v…) đều phải tập trung thống nhất chịu sự quản lý trực tiếp của Phòng văn hoá thông tin huyện. Cần tránh tình trạng như một số nơi đã mắc phải là Phòng văn hoá huyện chỉ được quản lý các cơ quan sự nghiệp như thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá, nhà thông tin, đội thông tin lưu động, còn các công ty, xí nghiệp, cửa hàng văn hoá thì trực tiếp do Phòng Tài chính hoặc do Ủy ban nhân dân huyện quản lý. Chỉ có trong điều kiện quan niệm đúng rằng các cơ quan doanh nghiệp văn hoá, công ty văn hoá cũng đều là những cơ quan thuộc ngành văn hoá chứ không phải thuộc các ngành kinh tế quốc dân và chỉ trong điều kiện tất cả các cơ quan đó thuộc ngành văn hoá trực tiếp quản lý thì việc xây dựng kinh tế cho văn hoá mới thuận tiện và phát triển sự nghiệp văn hoá trên địa bàn huyện mới tốt hơn. Đương nhiên, muốn được như vậy, cơ quan quản lý ngành văn hoá ở huyện phải được xây dựng đủ mạnh, đủ khả năng quản lý toàn diện.
V. Vấn đề bảo tồn kế thừa và phát triển văn hoá
Việc bảo tồn, kế thừa và phát triển văn hoá, không phải chỉ có việc bảo tồn, bảo tàng. Nó là toàn bộ một việc lớn bao gồm việc nhận thức cho rõ vốn văn hoá của dân tộc, phân tích nó, nhận thức đầy đủ yêu cầu mới của sự phát triển xã hội để có ý thức chỉ đạo tất cả các mặt xây dựng văn hoá, đạt được mục tiêu xây dựng một nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc.
Công tác bảo tồn bảo tàng đã nói đến trong các mặt công tác ở trên, thông thường tập trung vào một yêu cầu giáo dục truyền thống, giáo dục tình cảm yêu nước. Tất nhiên việc giữ gìn và tôn tạo các di tích cũng có nhiều ý nghĩa văn hoá rộng lớn hơn.
Những quan niệm bảo tồn văn hoá, đi liền với việc kế thừa, phát triển còn nằm trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng văn hoá, chi phối cả những ý đồ lâu dài về xây dựng kinh tế - xã hội.
Bảo tồn, kế thừa và phát triển văn hoá có nhiều vấn đề nhất là trong các hoạt động văn nghệ, xây dựng nếp sống mới, phong tục tập quán mới và cả trong phương hướng phát triển ngành nghề trong kinh tế.
Mỗi địa phương, mỗi huyện có một phạm vi lưu giữ rất nhiều vốn văn hoá dân tộc: các giá trị văn học, nghệ thuật dân gian, các tình cảm và phong tục tập quán đẹp đẽ, các khả năng lao động với kỹ năng tinh xảo được truyền nối nhiều đời.
Việc xây dựng văn hoá ở huyện đòi hỏi các cấp, các ngành có trách nhiệm phải có ý thức và chế độ cụ thể để sưu tầm, tập hợp và tạo cho mình được một sự hiểu biết sâu sắc các vốn giàu có trong huyện mình về mặt văn hoá. Còn phải có những chủ trương và phát động phong trào yêu quý giữ gìn các vốn đó trong nhân dân.
Chỉ có sự bảo tồn trong cuộc sống của nhân dân mới là sự bảo tồn vững bền nhất. Ví dụ: các điệu dân ca, các trò vui chơi, các tập quán tốt đẹp về ứng xử như tình cảm xóm giềng, thái độ mến khách, sự tôn trọng tổ tiên, các kiểu trang phục đẹp, các món ăn ngon, chỉ có thể giữ gìn trong từng gia đình và truyền nối có ý thức từ đời này sang đời khác.
Bảo tồn hoàn toàn không có nghĩa là nệ cổ, phục cổ. Bảo tồn phải được thực hiện trên cơ sở tìm hiểu, phân tích những vốn văn hoá cổ truyền.
Hiện nay ở các địa phương, thường xuất hiện trong các đồng chí có trách nhiệm hai mối lo trái ngược:
a) Lo mất dần đi những vốn quý về văn hoá như các môn nghệ thuật, các phong tục đẹp và các ngành nghề tinh xảo,
b) Cho là tất cả các thứ tồn tại của xã hội cũ đều là cổ hủ, lạc hậu, thậm chí phản động, cứ sống dai dẳng và cản trở sự phát triển của xã hội.
Hai mối lo này tuy trái ngược nhưng đều là những mối lo chính đáng và những hiện tượng gây nên mối lo trên đều là có thật.
Đây là một vấn đề khó khăn phức tạp, cần phải có nhiều hoạt động lý luận trong phạm vi chung và những hoạt động kiên trì, phong phú ở tất cả các địa phương mới giải quyết vấn đề kế thừa và phát triển văn hoá như thế nào? Trong phạm vi huyện, cần có những việc làm thiết thực sau:
1. Trước hết cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề kế thừa và phát triển văn hoá, khắc phục hai nhận thức giản đơn một cách cực đoan:
- Cho tất cả những cái gì cũ đều là phản động, lạc hậu, cần xoá bỏ triệt để,
- Hoặc cho tất cả những vốn cũ đều là tuyệt vời phải tuyệt đối bảo tồn, phục hồi, từ chối mọi sự phát triển.
2. Phải có ý thức sưu tầm, tập hợp và phân tích mọi vốn văn hoá trong địa phương mình, ghi chép một cách đầy đủ và có sắp xếp. Quan trọng nhất là phải phân tích kỹ lưỡng nhiều lần, để những người có trách nhiệm nhận thức được ngày càng đúng đắn và sâu sắc diện mạo văn hoá vốn có của địa phương mình. Cần khắc phục một thiếu sót là khi điều tra các yếu tố để lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chỉ quan tâm đến các số liệu về đất đai, lao động, cây con, v.v… mà không có sự điều tra các mặt xã hội và lịch sử địa phương.
3. Hết sức quan tâm thực hiện Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh” nhằm giữ gìn trân trọng các di tích quý giá, có ý thức và kế hoạch tôn tạo, sử dụng một cách có quy hoạch hợp lý để phát huy cao ý nghĩa giáo dục và văn hoá của các di tích. Cần tuân theo quy định của Nhà nước về mặt này.
4. Trong quá trình sưu tầm phân tích và nhận thức phải có ý thức vận dụng ngay vào trong sự chỉ đạo hoạt động của các mặt văn hoá, giáo dục, xã hội và những hoạt động kinh tế, đặc biệt là đối với các ngành nghề truyền thống và các khả năng lao động đặc biệt.
Quá trình trên được tiến hành một cách chủ động tích cực và sôi nổi thì bản thân cuộc sống sẽ đem lại cho chúng ta những giải pháp cụ thể cho những mặt cụ thể của văn hoá: nên giữ cái gì, nên cải cách hay canh tân thế nào, nên phát triển thế nào và phát triển cái gì mới.
Những câu giải đáp ấy sẽ thúc đẩy và thực hiện việc xây dựng văn hoá trong huyện (cũng như trong cả nước) được phát triển đúng hướng tốt đẹp theo đúng đường lối của Đảng.
VI. Những vấn đề tổ chức thực hiện
Quản lý văn hoá gồm nhiều vấn đề, trong đó một vấn đề có ý nghĩa lớn nhất là vấn đề quản lý các nội dung hoạt động văn hoá, quản lý nghệ thuật sao cho phù hợp với tư tưởng chính sách của Đảng và Nhà nước để đảm bảo cho sự phát triển văn hoá tốt đẹp. Điều này yêu cầu nhiều cấp và nhiều cơ quan có trách nhiệm cùng lo lắng và việc có ý nghĩa quyết định là phải có được một hệ thống chính sách văn hoá, nghệ thuật phát triển một cách nhất quán những tư tưởng đã được vạch ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng, làm cho văn hoá của ta được phát triển mạnh theo hướng nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Phải làm cho văn hoá được phát triển mạnh, đó cũng là một nội dung của tư tưởng các chính sách.
Nội dung xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện đòi hỏi một quá trình phấn đấu lâu dài, khó khăn, với những cố gắng chuẩn bị có suy nghĩ tính toán trước. Để góp phần vào sự chuẩn bị đó, dưới đây xin nêu lên một số vấn đề biện pháp tổ chức thực hiện công việc xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện.
1. Trước hết, để giúp các địa phương xây dựng được những mô hình văn hoá huyện phù hợp, cần tổ chức công việc nghiên cứu phân loại các loại hình huyện khác nhau trong nước. Công việc này có thể giao cho nhiều cơ quan nghiên cứu trong và ngoài ngành phối hợp nghiên cứu, dưới sự chủ trì của Bộ Văn hoá - Thông tin.
Mục đích của việc nghiên cứu này không phải để xác định loại cho từng huyện cụ thể trong cả nước, mà là để nhằm nêu lên những tiêu chí, dấu hiệu xác định cho từng loại huyện theo yêu cầu của việc xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện. Những tiêu chí, dấu hiệu đó có thể không giống với những tiêu chí, dấu hiệu xác định các loại huyện theo yêu cầu xây dựng kinh tế, quốc phòng hay khu vực địa lý.
Những kết quả nghiên cứu này phải được kết luận, đưa ra công bố ở các hội nghị thành văn bản và tổ chức những cuộc hướng dẫn, tập huấn cho các địa phương. Trên cơ sở đó, các địa phương nghiên cứu vận dụng để phân loại các loại huyện theo yêu cầu xây dựng văn hoá trong tỉnh, thành phố mình.
Đồng thời với việc nghiên cứu phân loại huyện, còn cần tiến hành cả công việc nghiên cứu xác định mô hình các thiết chế văn hoá và cơ cấu quản lý văn hoá phù hợp với từng loại huyện. Công việc này có thể giao cho nhiều cơ quan chuyên môn chung quanh Bộ Văn hoá - Thông tin cùng phối hợp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cũng được kết luận, đưa công bố thành văn bản và tổ chức những cuộc tập huấn, hướng dẫn giúp địa phương thực hiện.
2. Tiến hành kịp thời việc xây dựng quy hoạch phát triển văn hoá trên từng địa bàn huyện đến năm 2000 và kế hoạch 5 năm 1986 – 1990. Công việc này chủ yếu do ngành văn hoá huyện trực tiếp tiến hành dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện và sự hướng dẫn của Sở Văn hoá tỉnh, thành phố.
Để có căn cứ xây dựng quy hoạch phát triển văn hoá đến năm 2000 của huyện cần tiến hành trước công việc điều tra và dự báo của huyện. Cần nghiên cứu kỹ những địa điểm xây dựng văn hoá ở huyện mình, nghiên cứu kỹ nội dung và mô hình xây dựng văn hoá ở huyện, đồng thời khai thác tư liệu trong sơ đồ phát triển văn hoá đến năm 2000 của Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành.
Quy hoạch phát triển văn hoá ở huyện là một bộ phận hữu cơ trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội đến năm 2000 của huyện. Ngành văn hoá phải biết chủ động tiến hành, làm tham mưu và thuyết phục các cấp lãnh đạo của huyện xây dựng được một quy hoạch phát triển văn hoá hợp lý ở huyện, bảo vệ thành công bản quy hoạch đó trở thành quy hoạch pháp lý chung của huyện và là trách nhiệm thực hiện của tất cả các ngành, giới ở huyện.
Chỉ sau khi có được quy hoạch phát triển văn hoá đến năm 2000 của huyện thì mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch năm năm sắp tới và giúp cho những người quản lý văn hoá hôm nay hay ngày mai của huyện nhìn thấy mô hình và từng bước đi của con đường xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện mình.
3. Chú trọng đặc biệt và kịp thời việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hoá cho huyện.
Chúng ta vẫn nhận thức được rằng “cán bộ quyết định hết thảy” và trên lĩnh vực xây dựng văn hoá ở huyện cũng vậy, khâu cán bộ là một trong những yếu tố quyết định quan trọng trong sự thành công hay thất bại. Lực lượng cán bộ văn hoá hiện nay ở hầu hết các huyện đều còn rất thiếu và rất yếu về mặt đào tạo chuyên môn. Cho nên ngành văn hoá từ Trung ương đến địa phương cần đưa ra nhiều biện pháp tổ chức việc đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này phù hợp với tính chất và đặc điểm tình hình cán bộ văn hoá của huyện và cơ sở hiện nay.
Cấp thiết trước nhất là cần tổ chức việc bồi dưỡng thường xuyên liên tục đội ngũ cán bộ văn hoá chuyên nghiệp và lực lượng nòng cốt hoạt động văn hoá ở huyện và cơ sở, bằng nhiều hình thức linh hoạt. Đối với cán bộ quản lý văn hoá cấp huyện chẳng hạn có thể tổ chức bồi dưỡng theo nhiều hình thức: mở lớp bồi dưỡng từ 2 đến 3 tháng, tổ chức những cuộc hội thảo chuyên đề, tổ chức những cuộc kiểm tra chéo, tổ chức tham quan ở tỉnh bạn ở nước ngoài, v.v… Việc mở các lớp bồi dưỡng có hệ thống cho cán bộ quản lý văn hoá huyện lúc đầu có thể do Bộ Văn hoá - Thông tin đứng ra tổ chức, nhưng do nhu cầu ngày càng mở rộng, Bộ không thể với xuể, nên tiến tới cần có tổ chức thành các trung tâm bồi dưỡng cán bộ theo huyện từng khu vực. Rồi dần tiến tới nữa, có thể giao hẳn việc mở lớp bồi dưỡng cán bộ văn hoá cấp huyện cho các trường Trung cấp văn hoá nghệ thuật của tỉnh, thành phố. Điều quan trọng là Bộ Văn hoá - Thông tin cần chỉ đạo thống nhất chương trình, cung cấp giáo trình và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cho các lớp đó. Nội dung chương trình các lớp bồi dưỡng ấy có thể là chương trình tổng hợp nhiều môn về văn hoá và công tác văn hoá, học trong thời gian vài tháng, hoặc cũng có cả chương trình chuyên đề một số môn cần thiết học trong thời gian từ 5 đến 7 ngày.
Đối với cán bộ quản lý văn hoá cấp cơ sở, cũng cần được tổ chức bồi dưỡng thường xuyên liên tục bằng những hình thức mở lớp bồi dưỡng từ một đến hai tháng, tổ chức thăm quan, kiểm tra chéo, v.v… Việc mở các lớp bồi dưỡng này ngay hiện nay có thể giao Trường văn hoá nghệ thuật của Sở Văn hoá tỉnh, thành phố hoặc giao cho các nhà văn hoá huyện.
Đối với cán bộ nghiệp vụ thư viện, bảo tàng, thông tin cổ động, nếp sống mới, câu lạc bộ, v.v… thì do cơ quan nghiệp vụ cấp trên của mình tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, hội thảo chuyên đề, v.v… một cách thường xuyên liên tục để nâng cao trình độ chuyên môn trong khi chưa có điều kiện đi đào tạo chính quy.
Còn đối với các lực lượng nòng cốt hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng ở cơ sở thì chủ yếu do nhà văn hoá huyện chịu trách nhiệm mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn làm mẫu, v.v… một cách thường xuyên, liên tục.
Nhưng đồng thời với việc tổ chức thường xuyên, liên tục bồi dưỡng như vậy, cũng không thể quên việc đào tạo chính quy dài hạn cho đội ngũ cán bộ văn hoá ở huyện để đáp ứng theo yêu cầu quy hoạch phát triển văn hoá tương lai của huyện.
Hiện nay và còn lâu dài, huyện không thể đảm nhiệm được việc đào tạo chính quy đại học hay trung học cho các cán bộ văn hoá huyện. Nhưng theo yêu cầu phát triển sự nghiệp văn hoá ở huyện không thể không có một tỷ lệ nhất định số lượng cán bộ bậc đại học và bậc trung học, để nâng cao chất lượng công tác văn hoá huyện kịp với yêu cầu xã hội. Cho nên vẫn phải đặt ra không chậm trễ việc đào tạo khá nhiều cán bộ đại học và trung học về văn hoá cho huyện. Và đó chính là nhiệm vụ của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp của Bộ và Sở.
Việc đào tạo chính quy cho đội ngũ cán bộ văn hoá ở huyện gồm nhiều loại: cán bộ quản lý văn hoá cấp huyện có trình độ đại học, cán bộ đại học và trung học các nghiệp vụ thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá, nếp sống mới, phát hành sách, thông tin, cổ động, chỉ đạo văn nghệ quần chúng, âm nhạc, sân khấu, v.v… Để đáp ứng kịp thời hơn việc đào tạo chính quy này, cũng cần được tiến hành nhiều hình thức: đào tạo, chuyên tu, tại chức, đặc cách. Trong thực tế hiện nay, hình thức chuyên tu và hình thức tại chức đang được phát triển khá tốt, được nhiều địa phương “đăng cai” tổ chức để chủ động cung cấp cán bộ đại học và trung học văn hoá cho địa phương mình.

(Trích Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà văn, 2012)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét