Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2024

Chị Nguyễn Thị Phúc Hằng


Nhà văn Thanh Hương
Tôi gọi chị là chị mặc dù năm nay tính theo tuổi âm chị đã tròn 90 tuổi. Tôi đã ngoài 80, đã ở tuổi là em của chị. Hơn nữa với một người phụ nữ đi làm cách mạng từ năm 16 tuổi như chị thì hình như – xét về mặt lý tưởng, tâm hồn, phong cách – không có tuổi già.





         Mặc dù tóc đã bạc, lưng còng gập xuống, nhưng trong ngôi nhà cao tầng khang trang, rộng rãi mới được một ngân hàng lớn đầu tư xây dựng lại sau ngày anh Trần Độ mất (hiện nay ngân hàng ấy vẫn được sử dụng 7 tầng nhà phía dưới để giao dịch, kinh doanh) hàng ngày chị vẫn nhanh nhẹn đi lại, nấu nướng, dọn dẹp, khâu vá, đọc sách báo, khi có khách đến chơi thì niềm nở ân cần tiếp khách với đôi mắt còn tự xâu kim được, với nụ cười ấm áp và một trí nhớ tinh tường hiếm có ở một phụ nữ đã trải qua những tháng ngày hoạt động đấu tranh gian khổ, đã trải qua cảnh lao tù của chế độ thực dân Pháp và hiện ở độ tuổi cao như chị. Khi tôi ngỏ ý muốn nghe chị kể về cuộc đời trước đây của chị, chị mỉn cười hiền hậu:


- Thế cô muốn tôi kể bắt đầu từ khi nào?


- Xin chị kể cho em nghe về tất cả điều gì mà chị còn nhớ. Bắt đầu từ tuổi thơ của chị…


- Thế thì ta cứ ngồi đây. Chỗ này sáng mà thoáng gió.


Chị lại cười và kéo ghế ngồi lại gần tôi. Đã 90 tuổi đời, tai chị vẫn nghe được nhưng tất nhiên không còn tinh lắm.


Thời thơ ấu


Chị quê làng Liễu Khê, xã Song Liễu, làng được phong là làng Anh hùng đầu tiên, xã là xã văn hóa, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở bé, nhà rất nghèo. Bố làm tá điền đi ở cho nhà ông Lý Nghi, là lý trưởng nhưng ông này cũng là người hiền lành. Mẹ làm hàng xáo, mùa cấy mẹ còn đi cấy khoán ngày cấy được 4, 5 sào nhưng toàn đi làm trừ nợ. Bố đi làm ngày ba bữa cơm no, bữa cơm chiều thường cố ngậm miếng cuối cùng về mớm cho đứa con còn bé. Chị ở xóm Chùa, có bà cô họ ở xóm Mái, lên 8 tuổi bố mẹ đã cho đi ở cho bà cô. Còn bé quắt mà sáng dậy đã phải nấu một nồi cám to đùng, rồi vác giỏ đi cắt cỏ. Trưa thợ cày thả trâu thì chị đi chăn trâu. Chiều lại đi lấy bèo, rồi băm bèo, giã bèo. Nhà có bốn anh con trai, lớn lên có ba anh làm nghề lái xe, chị là con thứ tư. Chị có một cô em gái chết năm đói bốn lăm, mới mười chín tuổi!


Bắt đầu tham gia cách mạng


Chị kể ở quê chị, xóm Chùa là xóm kín đáo nhất. Do đó, các anh hoạt động cách mạng hay về. Trong xóm, đã có những người được các anh bắt liên lạc và giác ngộ cho về cách mạng. Năm 1937 chị 16 tuổi, lúc này chị không ở nhà bà cô nữa mà đã về nhà làm hàng xáo, đi cấy, đi gặt, có lúc lại đi bán ngô ở ga Phú Thụy (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Làm lụng luôn tay, vất vả là thế mà cuộc sống của gia đình vẫn vô cùng cơ cực, bữa rau bữa cháo. Thấy chị con nhà nghèo khổ, chăm lam chăm làm lại hiền lành, linh lợi, thông minh, các anh tìm cách giác ngộ cho chị và bước đầu giao công tác cho chị. Các anh bảo chị cố gắng tìm thêm cho đủ ba người, rủ họ làm thành một tổ gọi là tổ tương tế, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày, cùng nhau học cho biết chữ vì còn trẻ mà cầm tờ giấy không biết đọc thì không khác gì người mù. Nghe lời các anh, chị tìm được hai người bạn cùng xóm cũng con nhà nghèo như mình là chị Như và chị Củng. Những gì chị biết được qua những lời nói chuyện của các anh, chị đều kể lại với hai bạn và được hai người đồng ý họ cùng nhau lập ra tổ phụ nữ tương tế đầu tiên trong xã. Hồi đó, các anh ở tòa báo Le Travail cũng về đóng trong xóm chị. Các anh liên hệ với các chị, giúp các chị học chữ, giúp các chị hiểu thêm về “ba tầng áp bức”, về những việc phải làm để thoát ra khỏi ba tầng áp bức đó, giành lại tự do độc lập, giành lại cuộc sống no đủ cho người nông dân. Dưới sự chỉ dẫn của các anh, các chị hoạt động rất tích cực. Đi giao liên, đi đưa đón cán bộ về hoạt động. Tổ ba người các chị lúc này cũng không còn là tổ tương tế, tổ ái hữu nữa, mà đã trở thành tổ phụ nữ phản đế, làm cách mạng chống đế quốc và phong kiến.


Trong tờ báo Le Travail có nhà báo Nguyễn Thành Diên là người rất giỏi và vui tính, thường hướng dẫn công tác cho các chị. Một hôm anh hỏi:


- Bây giờ trên cần người đi thoát ly làm việc cho đoàn thể, các chị có ai đi không?


Chị không lưỡng lự, trả lời ngay:


- Có, em đi.


Anh nói:


- Đi thoát ly là phải rời xa gia đình, phải hoạt động bí mật, phải trốn tránh rất gian khổ. Còn có thể phải chịu tù đày, hy sinh cả tính mạng của mình. Cô có sợ không?


Chị trả lời rất dứt khoát:


- Không. Em không sợ.


Anh cười:


- Thế thì được.


Thời gian sau, anh Mai Vy về dẫn chị đi.


Anh Mai Vy đưa chị ra Bát Tràng, gửi ở nhà anh giáo Đản – anh Đản làm nghề dậy học. Chị ở đó và bắt đầu làm nhiệm vụ đi liên lạc cho cơ quan Xứ ủy Bắc kỳ. Chị thường đến làng Vân đưa giấy tờ, tài liệu. Ở làng Vân có rất nhiều cây trám, mọc thành bãi, đến bây giờ chị vẫn nhớ rõ các bãi trám ở làng Vân ấy. Nhưng ở đó chỉ được hai tháng, lại có người đến đưa chị đi Hà Đông, sau đó lại về làng La Cả, La Khê. La Khê là làng dệt. Chị ở nhà anh Triết, anh Triết có máy dệt, vợ chồng anh dệt, chị quay tơ. Lúc đó chị đã 17 tuổi nhưng người nhỏ bé, mọi người trong nhà gọi chị là “cô bé quay tơ”. Thời ấy, làng Vạn Phúc (Hà Đông) là trụ sở chính của Xứ ủy, có nhiều lần chị đã làm con thoi liên lạc giữa ông Hoàng Văn Thụ (nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng từ tháng 4-1940; bị thực dân Pháp xử bắn ngày 24-5-1944 tại Hà Nội) và ông Trần Tử Bình, ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách liên tỉnh C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) bị giặc Pháp quản thúc ở ga Bình Lục (Hà Nam). Lúc ấy, chị còn trẻ, đi hăng lắm, có nhiều khi đi bộ một giờ được 6 – 7 ki lô mét, mà đi cả ngày, không thấy mệt. Đi liên lạc ở làng Tây Mỗ (Từ Liêm, Hà Nội), chị đã gặp chị Hán, sau này có tên gọi là chị Lê Minh Hiền, thứ trưởng Bộ Lao động. Chị Hán lúc đó là con dâu trong nhà, có chồng tên anh Hiệt. Có những ngày chị đi liên lạc từ Vạn Phúc (Hà Đông) xuống Bình Lục (Hà Nam), đi qua Cự Đà, Khúc Thủy, đi qua làng Phú Diễn. Ở rìa làng Phú Diễn có một nhà hộ sinh là cơ sở cách mạng, có lần chị đã đưa anh Trần Quốc Hoàn (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an) đến gặp cơ sở cách mạng đó. Cô chủ nhà tên là cô Bơn, người thành phố, rất hăng hái tích cực và lại rất nhẹ nhàng lịch thiệp.


Đến tháng 3 năm 1940, tổ chức phân công chị và một anh tên là Ba ra thuê một cửa hàng bán cơm “đầu ghế” ở ga Văn Điển, dùng nơi này làm địa điểm liên lạc cho Xứ ủy Bắc kỳ và là chỗ cán bộ của Đảng như các ông Hoàng Văn Thụ, ông Trường Chinh (nguyên Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng), ông Hoàng Quốc Việt (nguyên ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) hay đi về. Đây là một ngôi nhà ngói ba gian đối diện ga Văn Điển, đằng sau nhà là cái ao. Chị chuyên bán cơm và chạy bàn. Cửa hàng được rất nhiều khách đến ăn, cả bọn mật thám gần đó cũng đến ăn. Trong bọn có thằng Xinh và thằng Giao. Bọn này hay gọi chị là “bé con” vì thấy chị bé nhỏ.


- Bé con, đưa cơm lại đây.


- Bé con, dọn bàn đi.


Đến tháng 10 năm 1940, cơ sở bị lộ. Anh Trần Quốc Hoàn bảo chị lấy vài bộ quần áo chuẩn bị dời đi. Anh Hoàn còn bảo anh Dung (lúc đó thường gọi là anh “Hoàng Mắt Lửa”) vào gặp bà chủ nhà nói xin phép cho cô em gái, tức là chị, về quê có việc gấp. Chị và anh Trần Quốc Hoàn ra đi về Phú Diễn từ 3 giờ sáng. Đến 5g sáng, mật thám vây bắt, anh Dung bơi qua ao thì bị bắt.


Sau khi trốn thoát, chị tiếp tục được tổ chức giao làm liên lạc cho báo Giải Phóng trên tuyến Hà Đông – Bình Lục. Tháng 11 năm 1940, anh Lưu Quyên phụ trách nhà in báo Tiền Phong TN Hà Nội có trụ sở bí mật ở số 2 Hàng Nón xin chị về và giao nhiệm vụ đi mua bán các loại vật tư cho báo như giấy, mực in và vận chuyển, bàn giao nhiều tài liệu, truyền đơn của cách mạng. Cơ sở lúc đó có các anh Lưu Quyên, anh Hoàng Minh Chính, Nguyễn Xuân Thành và chị. Các anh chị ở trên gác nhà số 2 Hàng Nón, phía dưới là cửa hàng thợ thêu. Cơ sở do anh Lưu Quyên phụ trách, anh Hoàng Minh Chính viết lách. Chị Hằng lo cơm nước và mua sắm các thứ cần dùng.


Những ngày thử thách


Đầu tháng 1 năm 1941, trong một lần đi rải truyền đơn trên tàu chở lính khố đỏ vào Nam Kỳ để vận động phản đối đàn áp nhân dân, chị và anh Thành ra khỏi ga Hàng Cỏ mỗi người một hướng. Chẳng may Thành bị bắt, bị tra tấn. Đến 9 giờ tối, Thành không chịu được đòn đã dẫn bọn mật thám về số 2 Hàng Nón. Nghe tiếng gõ cửa, trong nhà chị tưởng các anh về, chị Hằng ra mở, gặp ngay thằng Tây chánh mật thám La-néc. Nó túm ngay tay chị: “Cô bé Văn Điển đây rồi”. Nhìn quanh không còn thấy ai, nó đẩy chị ra cửa. Chị cầm được hòn than dấu trong tay khi ra cửa quay lại định cố đánh dấu cho các anh biết là cơ sở đã bị vỡ. Nó tưởng chị định nhảy, túm chặt điệu xuống xe đem về sở mật thám. Đến nơi đã thấy các anh Lưu Quyên, Hoàng Minh Chính ngồi đấy. Thì ra, lúc bọn mật thám đang khám xét trên nhà thì anh Lưu Quyên và Hoàng Minh Chính về đến nhà, chủ nhà ra hiệu cho hai anh biết, nhưng vừa quay xe ra thì xe đầm Cút-nít bắt luôn đưa về Sở Mật thám. Lựa lúc chúng nó sơ hở, anh Lưu Quyên bảo chị: “Cô cứ khai là con sen đi ở nấu cơm. Có hỏi về hồi ở Văn Điển thì cứ khai là đi ở”.


Chị bị đưa vào xà lim Sở Mật thám. Lúc đó là đầu năm 1941. Vào đó chị thấy có anh Trần Quốc Hoàn bị bắt trước chị. Xà lim Sở Mật thám khi đó ở chỗ trụ sở Bộ Công an hiện nay. Bọn mật thám bắt anh Trần Quốc Hoàn nhận diện chị, anh bảo: Tôi không biết cô này. Chúng còn đưa cả anh Hoàng Mắt Lửa từ nhà tù Sơn La về hỏi và bắt ông bà chủ ngôi nhà ở Văn Điển trước đây các anh chị mở hàng cơm đến nhận diện chị. Mọi người đều trả lời: chị là con ở và trước sau chị chỉ khai: Tôi chỉ đi ở nấu cơm, bán cơm. Hỏi chị làm gì ở cơ sở Hàng Nón, chị cũng một mực nói là đi ở nấu cơm, dọn dẹp. Thằng mật thám gầm lên: Sao lúc nào mày cũng chỉ đi ở cho Cộng sản? Sao mày ngu thế?


Hai tháng ở Sở Mật thám, chị ở một mình một xà lim, bị tra tấn rất dữ. Chúng lấy kim đâm, lấy điện dí vào các chỗ kín trên cơ thể chị, chúng bắt chị cởi trần truồng treo chân ngược lên xà nhà, đánh chị ngày này sang đêm khác, chết đi sống lại. Khắp chân tay, khắp người của chị tím bầm, một ngón chân cái của chị giờ đây đã thành tật. Lúc đó chị đã 18 tuổi nhưng người ngày càng bé quắt – Mỗi ngày cố nuốt hai nắm cơm với con cá mủn. Anh Tô Quang Đẩu trước khi đi căng nhờ người đưa đến cho chị cốc sữa và dặn: “Cố gắng chịu đựng, phải kiên trì”. Còn anh Trần Quốc Hoàn thấy chị còn bé mà bị tra tấn dã man quá, đi ngang qua xà lim nói nhỏ vào: Liệu có gì nhận được thì nhận đi cho đỡ đòn. Nhưng chị vẫn gan lì chịu đựng. Gương đấu tranh của chị được các anh truyền đi khắp nhà tù, các anh còn cho loan ra ngoài gương chịu đựng không khai báo của chị để tuyên truyền. Sau hai tháng giam cầm tra tấn các anh chị không có kết quả, chúng lập tòa án binh để xét xử. Bên này là bảy tên quan tòa mặc nhà binh, bên kia là các thày cãi. Các anh đều không nhận tội, còn chị chỉ một mực: “Tôi chỉ là con sen đi ở. Tôi chỉ biết nấu cơm”.


Hai tên chánh mật thám người Tây là La-néc và chánh mật thám người ta là Sinh phải thề trước tòa là người đàn bà này không khai báo nhưng nhà chức trách đã theo dõi từ lâu nhưng chưa bắt được, nay mới bắt được. Sau đó, tòa tuyên án anh Lưu Quyên 20 năm tù. Các anh Hoàng Minh Chính, Nguyễn Xuân Thành 15 năm tù. Chị Nguyễn Thị Phúc Hằng 5 năm tù khổ sai – 5 năm biệt xứ.


Ở trong tù


Chị Hằng bị dẫn vào nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) vào tháng 1 năm 1941. Năm đó chị vừa 20 tuổi, người vẫn nhỏ bé và là người ít tuổi nhất trong các chị em tù chính trị.


Cùng ở Hỏa Lò hồi ấy với chị có các chị Hoàng Thị Ái, Hoàng Ngân, chị Ban, chị Xuân, chị Dung “hoàng hậu”, chị Yến, chị Hoan, chị Bảo, chị Diệm (sau này chị Hoàng Ngân, chị Hoàng Thị Ái đều trở thành bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Trung ương, chị Diệm là đại biểu Quốc hội). Chị Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đồng chí Võ Nguyên Giáp, lúc đó cũng bị bắt đưa vào Hỏa Lò sau khi chị Nguyễn Thị Minh Khai bị bắn chết. Tù nữ chính trị ở Hòa Lò lúc ấy có quãng 10 người, cùng bị giam chung, dùng chung một nhà vệ sinh cùng hơn một trăm tù kinh tế. Tù chính trị cũng chia làm 2 loại, là tù cộng sản và tù thân Nhật. Áo mặc cũng có dấu hiệu riêng. Tù cộng sản trên áo có đính một miếng vải chéo màu xanh, tù thân Nhật cũng vải xanh nhưng hình quả trám và tù kinh tế thì hình chữ nhật. Tuy bị giam chung trong một tòa nhà nhưng các chị em tù cộng sản có sinh hoạt riêng, cùng nhau tổ chức học văn hóa, học tiếng Pháp và học chính trị. Người giỏi dạy người kém, người biết dạy người chưa biết. Diễn giả các vấn đề thời sự, vấn đề chính trị lúc ấy thường là các chị Trương Thị Mỹ, Nguyễn Thị Quang Thái, Hoàng Ngân. Chị Hằng chịu khó không bỏ một buổi sinh hoạt, học tập nào, được các chị lớn hơn rất yêu mến. Chị bé người nhưng khỏe mạnh và nhanh nhẹn, được các chị bầu làm tổ trưởng tổ y tế chăm nom thuốc men cháo lão cho các chị yếu mệt ốm đau. Chị còn chuyên trách khênh nước vào nhà tắm cho các chị lớn tuổi. Giường ngủ của các chị là những sạp gỗ ghép dài, kê gần sát đất và có các khe ở giữa. Tài liệu được các chị chôn ở dưới sàn nhà. Sáng nào, tối nào con đầm lai và một con đầm nữa tên là Tô Nô tính rất ghê gớm cũng vào đếm tù. Chúng điểm mặt từng người rồi lấy que chọc vào các khe gỗ để xem các chị có cất giấu gì ở dưới đó không. Một lần nó lấy que chọc vào người chị Dung “hoàng hậu” (tên gọi này lúc đầu do anh Hoàng Văn Thụ gọi vui, sau trở thành tên thật). Chị Dung giận dữ nắm lấy que của nó, nó vụt lên người chị lia lịa rồi bắt chị lên cùm. Mọi người tức lắm, nhưng không làm gì được nó. Nó còn đưa vải vào bắt các chị khâu quần áo, đưa lên vào bắt các chị đan. Chị Ban, nguyên là thợ đan áo nên đan rất giỏi, đan phần mình xong chị còn đan hộ cho chị em khác.


Ở trong tù bó buộc hết nằm lại ngồi, thiếu vận động, lại ăn uống quá kham khổ nên các chị đau ốm nhiều, thuốc men không có. Chị em chỉ biết chăm sóc nhau, dựa vào nhau mà sống. Chị Hằng không bao giờ quên được thời gian chị Nguyễn Thị Quang Thái bị ốm, vừa là bệnh thương hàn nhiễm phổi, vừa là bệnh tim. Ốm nặng là thế, vậy mà bọn cai ngục vẫn để cho nằm lết bết ngày này sang ngày khác bao nhiêu lần anh chị em kiến nghị lên, chúng vẫn không cho đi bệnh viện. Mãi sau cả tù nữ lẫn tù nam phải đấu tranh tuyệt thực, chúng mới cho đưa vào Bệnh viện Bạch Mai. Nhưng vì bệnh đã quá nặng, vào đó được mấy hôm thì chị Nguyễn Thị Quang Thái qua đời.


 Tiếp tục hoạt động và lập gia đình


Cho đến tháng 3 năm 1945, mới 24 tuổi, chị Hằng đã có “thâm niên” hoạt động bốn năm và 4 năm trong tù. Các đồng chí hoạt động bí mật hồi đó khi nhắc đến chị vẫn trìu mến gọi chị là “cô bé”, “cô bé quay tơ”, “cô bé liên lạc”, “cô bé gan góc” bị tra tấn dã man chết đi sống lại hai tháng trời ở xà lim Sở Mật thám mà vẫn chỉ một mực nhận mình là đứa bé đi ở nấu cơm, vẫn không một lời cung khai. Chị gan góc đến mức sự chai lì bất khuất của chị hồi đó được các đồng chí cùng bị bắt truyền ra ngoài như một tấm gương và sau này khi chị lấy chồng nghĩ đến những cực hình man rợ đối với phụ nữ mà chị đã trải qua có những anh như anh Xuân Thủy (nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) đã ngậm ngùi thốt lên: “Cô ấy lấy chồng là lấy cho vui chớ làm sao mà còn sinh đẻ được nữa”.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp lập nên chính phủ Trần Trọng Kim, chị Hằng và các tù chính trị trong nhà tù Hỏa Lò được thả. Sau hơn 4 năm mới được thấy ánh sáng tự do.


Với vài bộ quần áo cắp tay, từ Hỏa Lò chị đi bộ một mạch về đến ga Như Quỳnh và từ Như Quỳnh đi cắt cánh đồng dài quãng 2 ki lô mét là đến làng Liễu Khê, quê chị. Mẹ chị mừng quá, cứ nắm chặt cánh tay chị mà khóc. Chị vốn người nhỏ bé, lúc này lại càng bé, càng gầy. Năm đó là năm đói, nhà chị lại càng đói, chỉ ăn cháo, mà nào có đủ cháo mà ăn. Nồi cháo bưng ra, chỉ có bà chị dâu mới sinh con được ăn một bát. Làng chị là làng có nhiều người đi làm Cách mạng, lại nuôi nhiều cán bộ Cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ, sau này được phong danh hiệu Anh hùng, lại cũng là làng văn hóa mới. Nhưng vẫn là một làng nghèo, lúc đó lại quá nghèo.


Chị về nhà được một tháng, anh Trần Quốc Hoàn lại cử anh Mai Vi về đón chị đi lên An toàn Khu làm công tác đội. Tình cờ, anh Xuân Thủy gặp và điều chị về làm việc tại báo Cứu Quốc ở Tây Mỗ, huyện Từ Liêm một thời gian. Một hôm, trên đường gánh tài liệu cho cơ quan, chị nhặt được mấy gói lá chuối tươi do một người nhà lý trưởng của làng đánh rơi. Đem về cơ quan, mở ra, thấy toàn là bánh cuốn, chè kho, chị chia cho anh chị em và gói một gói phần cho anh Xuân Thủy. Sau đó ít lâu, chị được điều về công tác ở chiến khu 2 (Thái Nguyên). Hôm chị chuyển đi, anh Xuân Thủy có đọc tặng mấy câu thơ:


“Nhớ thay bánh cuốn nhân chè,


Nhớ thay người ấy đi về nơi nao.


Nhớ ai ai nhớ ai làm,


Nước non gánh nặng biết bao nhiêu tình”.


Và tại chiến khu 2, chị đã gặp anh Trần Độ.


Anh Trần Độ lúc ấy làm thư ký riêng cho anh Trường Chinh, kiêm công tác Đội, lại là Bí thư Chi bộ. Nghe tiếng chị đã lâu, nay nhìn thấy chị là một cô gái tuy dân dã quê mùa nhưng xinh xắn, trắng trẻo, có đôi mắt to thông minh hiền hậu, anh đã có thiện cảm. Anh bảo chị đưa giấy giới thiệu và các giấy tờ cho anh xem. Thấy chị được anh Hoàng Quốc Việt và anh Trần Huy Liệu (nguyên là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời; nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam) huấn luyện sơ qua về công tác dân vận, công tác quần chúng, anh có vẻ hài lòng. Tuy vậy anh vẫn hỏi chị một số vấn đề về Đảng, về công tác dân vận, thử xem trình độ của chị thế nào. Thấy chị trả lời một cách tự tin, trôi chảy, anh cười:


- Thôi, thế là chị đã biết nhiều thứ rồi, bây giờ cứ vừa công tác vừa học thêm thôi.


Anh Trần Độ quê làng Thư Điền, huyện Tiền Hải, Thái Bình. Là con trai độc nhất trong một gia đình có bốn người con. Người chị trên anh là bà Tạ Thị Câu. Bà là đảng viên cộng sản, bí thư chi bộ, tỉnh ủy viên Thái Bình năm 1941. Sau bà bị bắt và hy sinh trong nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Chính bà là người đã dìu dắt anh Trần Độ tham gia hoạt động cách mạng ở quê nhà. Anh tên thật là Tạ Ngọc Phách, bố làm thông phán ở Tòa Thống sứ. Anh rất thông minh, ham đọc sách, có khả năng lý luận, diễn thuyết rất hay. Anh đối xử với chị rất chu đáo, ân cần. Những gì chị chưa biết hỏi anh, anh hướng dẫn tận tình. Chị cũng rất thông minh, nghe gì, làm gì là nhớ rành rọt. Sau này chị nói : Không hiểu sao hồi ấy tôi nhớ giỏi thế, anh hỏi gì tôi nhớ được hết. Chị nói với anh: Tôi ở tù bốn năm, trong ấy tôi cũng được học. Một thời gian, anh đến gặp chị. Hai người ngồi nói chuyện, anh hỏi:


- Hằng người ở đâu?


- Tôi người Bắc Ninh.


Anh nói: - Tôi là em chị Câu.


Anh nói thế vì anh biết chị Hằng có biết chị Câu, đã đi liên lạc đưa thư từ mấy lần cho chị Câu. Cũng chính chị Hằng là người chăm sóc bà Tạ Thị Câu những ngày cuối cùng trong nhà tù Hỏa Lò năm 1944.


Một lúc im lặng, rồi anh hỏi:


- Đã có ai đặt vấn đề với Hằng chưa?


- Tôi chưa nghĩ đến chuyện ấy.


- Thì cứ nghĩ đi…


Chỉ có thế. Lần gặp sau vẫn chỉ có hai người. Lúc ấy anh đã về làm Chính uỷ Khu Hà Nội đóng ở trụ sở Bảo An binh (phố Hàng Bài, Hà Nội ngày nay). Còn chị Hằng đang ở Cổ Loa, huyện Đông Anh. Anh đi mô tô sang tìm gặp chị. Trò chuyện được mấy câu, bỗng anh nói đột ngột:


- Hằng ạ, tôi yêu Hằng. Hằng có đồng ý không?


Lúc ấy quả thực chị cũng đã có cảm tình với anh. Nhưng một mặt chị vẫn chưa muốn lập gia đình. Mặt khác chị cũng ít nhiều băn khoăn. Anh sinh năm 1923, chị 1921. Anh trẻ hơn chị, giỏi giang hơn chị nhiều. Hơn nữa, anh đang công tác ở Hà Nội, hàng ngày gặp gỡ giao tiếp với bao nhiêu là nữ sinh xinh đẹp, là người thành thị, sao anh lại muốn lấy chị là một cô gái nông thôn nghèo. Nghĩ vậy, chị trả lời:


- Bây giờ tôi chưa trả lời được. Tôi muốn công tác đã.


Anh cười:


- Sao Hằng không thể vẫn lấy chồng mà vẫn công tác. Thôi tôi không ép Hằng trả lời ngay bây giờ, nhưng Hằng đừng để tôi phải đợi lâu câu trả lời của Hằng nhé.


Sau đó chắc là anh Trần Độ có báo cáo chuyện hai anh chị với anh Trường Chinh, anh Lê Đức Thọ (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, nguyên cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) nên anh Thọ gặp chị, khuyên chị nên nhận lời anh Trần Độ. Được các anh chị góp ý và động viên, chị chủ động gặp anh Trần Độ và nhận lời. Ba tháng sau ngày Tổng Khởi nghĩa, có cuộc họp toàn thể cán bộ chiến khu 2 ở Chèm do anh Trường Chinh và anh Lê Đức Thọ triệu tập. Sau mấy ngày hội nghị, ở cuộc liên hoan bế mạc, anh Thọ vui vẻ đứng dậy tuyên bố:


- Hai đồng chí Trần Độ và Nguyễn Thị Phúc Hằng cùng công tác trong một ban, sau một thời gian tìm hiểu đã thông cảm với nhau và đặt vấn đề yêu nhau. Nhân dịp này tôi xin tuyên bố làm hôn lễ cho hai đồng chí ấy…


Mọi người vỗ tay hoan hỉ. Anh chị em cán bộ cách mạng từng qua các xà lim Sở Mật thám hồi đó ai cũng biết chị Hằng đã phải trải qua các đòn tra tấn quá đỗi man rợ ở trong xà lim Sở Mật thám, biết sự gan dạ đáng khâm phục của chị và cũng ít ai tin là sau những ngón đòn như vậy chị Hằng còn khả năng làm mẹ. Nhưng anh Trần Độ không quan tâm đến điều ấy. Anh yêu đôi mắt tinh anh và nhân hậu của chị. Và thấy chị là một cô gái thông minh gan dạ và giàu nữ tính, rất quan tâm chăm sóc mọi người. Anh tin chị sẽ là một người bạn đời chung thủy, một người vợ, người mẹ tốt.


Chuẩn bị tổng khởi nghĩa và khởi nghĩa


Lúc đó là quãng tháng 7 năm 1945, Mặt trận Việt Minh phát triển sâu rộng ở khắp nơi. Một không khí phấn chấn, sôi động trong khắp các hang cùng, ngõ hẻm. Chị đang làm liên lạc cho anh Xuân Thủy, cơ quan đóng ở làng Sấu Giá (thuộc xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây), ngoài việc đi đưa thư từ tài liệu, chị còn làm cả việc phát hành báo Cứu Quốc, mỗi khi báo ra lại cùng một số anh chị em khác gánh báo đưa về các cơ sở. Có người đến nhắn anh Lê Đức Thọ gọi chị về để phân công công tác mới. Chị lại đi bộ về Tây Mỗ, gặp anh Thọ. Anh Thọ bảo : Bây giờ tôi giới thiệu cô về Đông Anh gặp anh Thiệp Móm (tức anh Lê Đình Thiệp (1914 – 1988), cán bộ Ban Công tác Đội bảo vệ An toàn khu của Trung ương, sau này là Thứ trưởng Bộ Nội vụ). Ở đó đã có anh Trần Độ, ba người chia nhau chịu trách nhiệm đưa phong trào địa phương lên cao trào chuẩn bị tổng khởi nghĩa, phải củng cố các tổ chức thanh niên, phụ nữ, tổ chức nông hội, … 


Theo sự bố trí của anh Thọ, chịu trách nhiệm phong trào ở huyện Đông Anh lúc đó chỉ có ba người là anh Thiệp, anh Độ và chị Hằng. Anh Thiệp là người chịu trách nhiệm chính, mỗi người phụ trách một vùng. Họp phân công chị phụ trách từ Dâu, Văn Tinh, Xuân Canh, Xuân Trạch, làng Cói Đại Đà, làng Quậy, một dọc đê ra cầu Đuống (còn gọi là từ gốc gạo Ba Đê). Chị đi suốt đêm ngày về cơ sở, cho họp thanh niên, phụ nữ, họp các cụ phụ lão, nói chuyện về tình hình thế giới, trong nước, tình hình Nhật Pháp. Nơi nào chưa có tự vệ chiến đấu thì cấp tốc cho thành lập đội tự vệ, cho tập tành đợi chớp thời cơ.


Hôm tổng khởi nghĩa lại đúng vào dịp vỡ đê Cống Ao Cả ở Đông Anh. Nước sông to, tràn cả bờ đê. Dân tình nhốn nháo bỏ về chạy đồ đạc. Anh Thiệp phân công chị Hằng phụ trách huy động quân chúng trên cả chục làng chạy dài suốt từ gốc gạo Ba Đê đến cầu Đuống sát Hà Nội. Tập trung ở huyện Đông Anh, chị cầm súng lục ở tay cùng đi với quần chúng. Mười giờ sáng đã lên đến huyện. Huyện đường vắng tanh, chỉ có một người thừa phái ở lại. Người này được viên tri huyện giao cho cái tráp đựng ấn tín của huyện. Ông ta trao cả cái tráp cho Ban lãnh đạo khởi nghĩa. Huyện đường đã lấy xong nhưng còn một toán khá đông lính Nhật đóng trong nhà máy xe lửa. Anh Độ và chị nhận trách nhiệm cùng hai đồng chí tự vệ mang súng trường vào thương lượng với Nhật. Anh Độ nói: Các ông cứ giao súng ống cho chúng tôi, chúng tôi sẽ bảo vệ cho các ông về đến Hà Nội an toàn. Bọn Nhật không nghe bắn súng ra. Ta hy sinh một đồng chí là anh Môn, bí thư Chi bộ làng Xuân Trạch. Trong nhà máy xe lửa lúc đó còn có đến 300 công nhân. Chị cầm súng chạy vào kêu gọi anh em ủng hộ cuộc khởi nghĩa. Các anh nói: “Chúng tôi cứ theo chị, chúng tôi goi chị là chị đội trưởng”. Chị cùng anh em men đường vào chỗ lính Nhật. Nó bắn ra thì mọi người nằm rạp xuống. Nó bắn xối xả. Phía ta cũng có súng, nhưng không đủ đạn để bắn trả. Rồi tiếng súng thưa thớt dần. Chắc bọn lính Nhật cũng hết đạn. Chị hô hào anh em công nhân đem rơm và dầu ném vào chỗ toán lính Nhật cố thủ. Trận ấy cả toán lính Nhật bẩy tên đều chết, ta cũng hy sinh 7 người. Coi như thiệt hại ngang nhau. Chính quyền huyện Đông Anh đã hoàn toàn vào tay Cách mạng.


Khởi nghĩa xong, anh Độ đứng lên tuyên bố thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Đông Anh. Nhưng anh Độ được điều đi công tác khác không tham gia ủy ban, anh Lê Đình Thiệp được trên cử làm Chủ tịch, chị Hằng được cử làm phó Chủ tịch Ủy ban lâm thời huyện. Sau đó các anh chị được anh Thọ gọi đến gặp. Anh Thọ rất vui, anh cầm cái quạt gõ vào đầu anh Độ nói: Lệnh khởi nghĩa chưa có, chúng tôi chưa có ý kiến gì mà ở nhà dám khởi nghĩa, may mà thắng lợi.


Người cán bộ liêm khiết, người vợ người mẹ hiểu biết và tận tụy


Trái với lời dự đoán của anh Xuân Thủy là chị Hằng “lấy chồng chỉ cho vui chứ còn sinh nở gì”. Sau khi xây dựng với anh Trần Độ, chị Hằng sinh một cháu trai đầu lòng vào năm 1947 đặt tên là Toàn Thắng. Sau đó vào những năm 1954, 1957, 1959 sinh liền ba cháu trai là Vinh Quang, Trần Điền và Trần Hải (quê anh Trần Độ - làng Thư Điền, huyện Tiền Hải). Từ tháng 3 năm 1950, anh Trần Độ được Bộ Tổng Tư lệnh điều về trung đoàn Sông Lô giữ vai trò Chính ủy, từ Chính ủy Trung đoàn, lên Chính ủy Đại đoàn rồi sau này là Chính ủy Quân khu. Anh liên tục có mặt ở các chiến trường. Chị Hằng ở nhà vừa tham gia công tác, vừa một mình nuôi dạy các con khôn lớn. Hầu hết những lần chị sinh con anh đều vắng nhà. Thậm chí trong hai lần sinh hai cháu Thắng và Quang, chị đều phải tự đỡ đẻ cho mình. Đẻ cháu Thắng ở thị trấn chợ Chu (huyện Định Hóa, Bắc Cạn) xong tối hôm trước thì sáng hôm sau chị đã trùm khăn ra hầm trú ẩn trước nhà tìm chỗ có nước trong ngồi giặt quần áo cho mình và tã lót cho con. Cháu Quang ra đời ở Thanh Cù (xã Vũ Yẻn, huyện Thanh Ba, Phú Thọ). Hồi ấy chị là cửa hàng trưởng Cửa hàng Lương thực Thanh Cù, bán vải, thuốc, dụng cụ gia đình. Chị lần lượt qua nhiều công tác trong ngành thương nghiệp, quyền Chủ nhiệm Công ty Bách hóa Phú Thọ, cửa hàng trưởng Cửa hàng lương thực Gia Lâm, Cửa Bắc, Hàng Chiếu, rồi về làm phó Chủ nhiệm Công ty Ăn uống Hà Nội. Chịu trách nhiệm về tổ chức nhiều cửa hàng ăn uống, nhiều nhà ăn tập thể, quản lý hàng ngàn nhân viên. Sau đó làm Bí thư Đảng ủy, Thư ký Công đoàn ngành ở Sở Thương nghiệp Hà Nội. Suốt cả 10 năm trời trước khi về hưu, thời còn bao cấp, làm ở ngành thương nghiệp lại là cán bộ phụ trách các cửa hàng ăn uống, lương thực ai cũng nghĩ chị sẽ có một cuộc sống dư thừa rủng rỉnh. Trong tay năm, sáu ngàn nhân viên thì thiếu gì kẻ đón người đưa. Vậy mà trên thực tế cuộc sống của chị lại hoàn toàn thanh bạch, liêm khiết. Chị nhớ thời làm phó Chủ nhiệm Công ty ăn uống Hà Nội, trụ sở ở phố Hàng Bông, đời sống chung và riêng còn quá khó khăn, chị đã tổ chức cho nhân viên và bản thân chị cũng cùng với anh chị em mượn xe đẩy đêm đến đi xe gạo, xe bia cho các cửa hàng để kiếm dăm mươi đồng thêm vào đồng lương ít ỏi nuôi các con. Bốn con trai chị lúc còn bé lần lượt được gửi nuôi ở các trại trẻ của quân đội và của Hội Phụ nữ. Nhưng mỗi chủ nhật về nhà các chau đều được đùa vui nũng nịu quanh mẹ và được mẹ chăm sóc chu đáo, nấu cho các món ăn tuy đạm bạc nhưng được các cháu ưa thích, khâu lại cho từng đường may sứt chỉ, từng khuy áo bị đứt khi đùa nghịch. Lớn lên đến tuổi đi học học, ba cháu nhỏ đi sơ tán theo các trường khác nhau, cha thường đi vắng, lại vẫn là mẹ lo cho ăn uống học hành, lo bảo ban dạy dỗ, tuần tự đi thăm nom, tiếp tế. Được cái cả bốn cháu đều tự hào và biết nghe lời cha mẹ. Mỗi lần có lỗi các cháu biết là mẹ sẽ không la rầy quở mắng mà chỉ nhỏ nhẹ bảo ban khuyên nhủ, mặc dầu vậy các cháu đều bảo nhau cố gắng tránh không làm điều gì khiến mẹ phải phiền lòng. Cả bốn cháu lớn lên đều thành đạt, đều có gia đình hạnh phúc và nhất là đều là những công dân tốt và cương trực. Những ai từng làm cha làm mẹ đều biết là trong điều kiện đất nước có chiến tranh, chồng luôn ở chiến trường xa, một mình vừa công tác vừa nuôi dạy được bốn con, nhất lại đều là con trai, trưởng thành tốt đẹp như chị Hằng không phải là việc dễ. Điều đó đòi hỏi nhiều đức tính kiên trì, tận tụy, hy sinh, đòi hỏi một trình độ hiểu biết về tâm lý, về cách giáo dục con, cách ứng xử với con của người mẹ. Đồng thời người mẹ đó phải có một tình yêu vô hạn đối với chồng con. Gan dạ bất khuất trước kẻ thù, kiên trì mẫu mực trong công tác, dịu hiền tận tụy với chồng con, đó chính là những điều đã làm nên giá trị và hạnh phúc hôm nay của chị Nguyễn Thị Phúc Hằng, người vợ hiền của anh Trần Độ, khi bước vào lứa tuổi vàng chín mươi hiếm hoi và quý giá.


Phần kết


Tôi có may mắn được biết chị Hằng và được đến thăm chị nhiều lần. Bao giờ chị Hằng cũng ra đón tôi từ cửa thang máy và lúc tôi ra về gần như lần nào chị cũng xuống tiễn tôi ra tận cổng. Lưng chị đã còng, tóc bạc trắng nhưng nụ cười vẫn tươi vui ấm áp, đôi mắt khá tinh và đặc biệt chị có trí nhớ theo tôi là phi thường. Chị nhớ từng tình tiết những ngày đi giao liên, đưa đón các cán bộ cách mạng từ năm mới 16 tuổi. Chị nhớ tên từng đồng chí cùng hoạt động trong từng vụ việc, tên các cán bộ cơ sở, tên từng tên mật thám, đặc vụ từng bắt giữ chị, tra tấn chị. Chị kể thằng Sinh là Chánh mật thám ta, ác nhất là thằng Chánh mật thám Tây, thằng La-néc, đến tên những tên mật thám hay đến ăn cơm “đầu ghế” của chị hồi chị còn là cô bé cơ sở bán cơm ở ga Văn Điển, là thằng Xinh, thằng Vi, chị vẫn còn nhớ. Rồi còn lý trưởng Lý Nghi ở xóm ngoài cùng làng chị, con trai nó sau này cũng làm lý trưởng, tên là Lý Hào, … Kể chuyện với tôi, chị như sống lại những ngày hoạt động khi xưa: sôi nổi và tươi tắn. Thật khó tin năm nay chị đã tròn tuổi 90. “Chị ơi, thế những lúc các cháu đi vắng cả, ở nhà một mình, chị làm gì?” tôi hỏi. Chị lại mỉm cười, chỉ vào chồng sách báo để trên bàn: “Tôi đọc báo này, rồi tôi khâu, để tôi cho cô xem những yếm áo trẻ con tôi vẫn khâu nhé”. Chị đứng dậy, còng lưng, vừa tủm tỉm cười vừa đi vào phòng ngủ. Rồi đưa ra cho tôi xem một rổ khâu be bé đựng toàn áo trẻ sơ sinh may bằng đủ thứ vải mới tinh nhưng có cái chắp nối bằng hai ba thứ vải khác màu nhau, nhìn cái nào cũng xinh xinh thật đáng yêu. “Có cô làm thợ may, cô ấy toàn đem đến cho tôi những mảnh vải thừa khi may cho khách ấy mà – chị cầm một chiếc áo bé màu hồng dịu giơ cao lên cho tôi xem, cô nhìn có thích không?”. Tôi cười: “Đẹp lắm chị ạ. Nhưng những chiếc áo này chị đem cho ai?”. “Ôi nhiều người xin lắm. Họ bảo xin về cho cháu mới sinh mặc lấy khước của cụ. Khâu suốt ngày mà cũng không đủ cho người ta đâu cô ạ”. “Thế chị còn sinh hoạt chi bộ không?” – tôi hỏi. “Tôi vẫn đi, vừa rồi chi bộ còn cử tôi lên họp trên phường”. Chị nói, lại cười. Thật là khó tin chị Phúc Hằng đã ở tuổi 90 và đã qua một cuộc sống khắc nghiệt, gian lao từ tấm bé. Nhìn chị, tôi có cảm giác chị giống một bà tiên trong truyện cổ tích. Một bà tiên đã làm được bao kỳ tích, theo tầm vóc của mình và bây giờ đã vào lúc được nghỉ ngơi vẫn muốn đem lại thật nhiều niềm vui cho những người sống quanh mình.


8/2010

     
(Trích Bà Nguyễn Thị Phúc Hằng, Nxb Phụ Nữ, 2013)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét