Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Văn hoá văn nghệ dưới ánh sáng Đại hội VI của Đảng


Đại hội lần thứ VI của Đảng ta có những tư tưởng lớn. Những tư tưởng đó nếu được hiểu đúng và đi vào cuộc sống sinh động sẽ tạo nên sức sống mới cho tình hình phát triển xã hội, làm cho xã hội ta vượt qua được những khó khăn phức tạp, tạo nên những thành tựu trong mọi lĩnh vực, tạo nên những biến chuyển lành mạnh đưa xã hội ta tiến lên.

Một tư tưởng lớn bao trùm là tư tưởng đổi mới. Yêu cầu đổi mới là một yêu cầu cấp bách. Đó là yêu cầu ta nghiêm khắc tự phê bình phân tích được những thiếu sót, sai lầm trong nhận thức, quan niệm về mọi mặt, xác định được những quan niệm đúng đắn hợp quy luật có tính khoa học và cách mạng để tạo ra sự chuyển biến trong mọi lĩnh vực. Yêu cầu đổi mới là yêu cầu toàn diện : về tư duy, về phong cách và về tổ chức cán bộ. Yêu cầu đổi mới trước hết tập trung vào 4 bài học lớn mà Đại hội đã nhất trí chỉ ra. Và trước hết là yêu cầu đổi mới tư duy nghĩa là đổi mới cách suy nghĩ, đổi mới nhiều nội dung suy nghĩ, để suy nghĩ được cho thật đúng và để hành dộng cho đúng.
Lĩnh vực văn hoá, văn nghệ là một lĩnh vực yêu cầu nhiều nhận thức và quan niệm vừa phong phú vừa tinh tế. Trong Báo cáo chính trị của Đại hội, không có một phần riêng, chương riêng về văn hoá, văn nghệ. Nhưng trong nhiều phần, vấn đề văn hoá, văn nghệ đã được đề cập đến với những quan điểm, quan niệm mới mẻ so với những cách đề cập từ trước. Vấn đề văn hoá, văn nghệ được đặt ra trong khuôn khổ các chính sách xã hội mà các chính sách xã hội đó được Đại hội rất coi trọng, lại được đặt ra trong công tác tư tưởng, trong nhiệm vụ xây dựng con người mới với những quan niệm về vai trò, chức năng một cách toàn diện, phong phú và chính xác.
Những quan điểm và quan niệm về văn hoá, văn nghệ nêu lên trong Đại hội VI là những quan điểm, quan niệm vừa cơ bản vừa tiên tiến, vừa phù hợp với những nguyên lý kinh điển, vừa gần gũi với những phát triển lý luận mới của thế giới xã hội chủ nghĩa.
Để có thể hiểu thêm các quan điểm và quan niệm đó, cần phải bàn nhiều mặt, nhiều vấn đề và nhiều lần nữa. Ở đây xin bàn đến một số vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất để mở rộng và cụ thể hoá những điều đã được nói đến trong Đại hội :
- Về chính sách xã hội và vai trò của con người ;
- Về phương hướng xây dựng văn hoá ;
- Về nhiệm vụ công tác văn hoá và hiệu quả xã hội của nó ;
- Về sự đổi mới và phát triển văn hoá, nghệ thuật ;
- Về Đảng lãnh đạo văn hoá, văn nghệ và nâng cao trình độ lãnh đạo.
 Chương I
Về chính sách xã hội và vai trò của con người
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra một luận điểm hết sức quan trọng là đặt ngang các chính sách xã hội với các chính sách kinh tế, chứ không coi các chính sách xã hội chỉ là những chính sách phúc lợi ban ơn đối với nhân dân.
Báo cáo chính trị tại Đại hội VI viết :
“Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người : điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, … Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Tạp chí Cộng sản tháng 1-1987. Số đặc biệt về Đại hội VI của Đảng, tr.56).
Và “Trong việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động, cần có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu giai cấp của xã hội mới, cụ thể hoá và thực hiện đúng chính sách dân tộc và chính sách tự do tín ngưỡng.
Cùng với việc tiến tới xoá bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của sự bất công xã hội, phải đấu tranh kiên quyết chống những hiện tượng tiêu cực, làm cho những nguyên tắc công bằng xã hội và lối sống lành mạnh được khẳng định trong cuộc sống hàng ngày của xã hội ta” (Đã dẫn, tr.57).
Nghị quyết Đại hội VI ghi : “Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất. Coi nhẹ chính sách xã hội cũng là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” (Đã dẫn, tr.122).
Từ các đoạn văn kiện trên đây, có thể rút ra một số ý như sau :
- Chính sách xã hội bao trùm lên mọi mặt của cuộc sống con người, nó thống nhất với chính sách kinh tế ; các vấn đề xã hội cần phải được đặt ra và giải quyết ngay trong từng mục tiêu kinh tế.
- Khi đặt ra các chính sách xã hội phải nhằm vào cái đích là phát huy mọi khả năng của con người, với tính cách là chủ thể tích cực sáng tạo, tham gia vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ không phải con người làm thuê, cần được ban ơn, làm phúc.
- Nội dung của các chính sách xã hội phải được coi con người là mục tiêu của cách mạng, là đối tượng cần phục vụ. Như vậy, phục vụ con người là mục đích cao nhất của mọi hoạt động xã hội, kể cả các hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối, giao thông, cũng như các hoạt động dịch vụ đáp ứng các nhu cầu xã hội và nhu cầu tinh thần của con người. Trước đây ta thường nêu khẩu hiệu : “Tất cả cho sản xuất”, nay cần nhấn thêm : “sản xuất để phục vụ con người”. Tư tưởng trên đây cũng rất nhất quán với khẩu hiệu : “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, nó cũng hoàn toàn nhất trí với tư tưởng “lấy dân làm gốc”.
Tư tưởng về chính sách xã hội và vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng xã hội là một tư tưởng lớn của Đại hội VI. Đây cũng là một quan điểm lớn về văn hoá.
Về đại thể, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lê-nin khi xem xét vấn đề con người thường đặt nó vào trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội. Tự nhiên, xã hội, con người là ba yếu tố cơ cấu của thế giới hiện thực, trong đó con người đang sống. Thế giới tồn tại và phát triển được là nhờ con người từng bước ý thức được các mối quan hệ giữa nó với tự nhiên và nhất là các mối quan hệ giữa nó với xã hội.
Tự nhiên là cái có trước, nó là điều kiện cho sự hình thành con người sinh thể và liền ngay đó là con người xã hội. Dù muốn hay không, con người vẫn phải dựa vào tự nhiên để tồn tại như một sinh thể. Điều khác nhau cơ bản giữa con người và sinh thể là ở chỗ nó không chỉ sống dựa vào tự nhiên một cách thụ động, mà còn biết thích ứng tích cực với tự nhiên, khai thác và không ngừng cải tạo tự nhiên để nâng cao điều kiện sống của mình. Động tác cải tạo tự nhiên đầu tiên của con người là sự chế tạo ra công cụ lao động. Ăng-ghen đã xem quá trình chế tạo công cụ lao động là tác nhân quan trọng và quyết định để chuyển biến từ vượn thành người. Và, khi trở thành người, lập khác nó là con người xã hội.
Tóm lại, con người thống nhất trong bản thân nó hai bản thể : gọi là thực thể sinh học vì con người là một cơ thể sống, gọi là thực thể xã hội vì nó mang bản chất xã hội.
Khác với tự nhiên, xã hội ra đời cùng với sự ra đời của con người xã hội. Đến đây, quy luật sinh học chỉ còn giữ vai trò thứ yếu, thay vào đó quy luật xã hội vận hành như một động lực thúc đẩy lịch sử xã hội của loài người phát triển. Từ đây, mọi công cụ lao động và sản phẩm do con người làm ra đều mang dấu ấn xã hội, ngay cả ngôn ngữ, các giác quan, ý thức của con người cũng là sản phẩm xã hội. Chính vì vậy, Mác đã nói : “Xã hội đã sản xuất ra con người”. Xã hội, theo quan điểm Mác – Lê-nin, không phải là cái trừu tượng, bất biến, mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội thích hợp với một phương thức sản xuất nhất định ; khi phương thức sản xuất biến đổi thì hình thái kinh tế - xã hội biến đổi theo. Nhân tố quyết định cho phương thức sản xuất biến đổi là sự phát triển của lực lượng sản xuất, bao gồm con người và công cụ lao động. Như vậy, không phải cái gì khác mà chính là con người cùng với những công cụ lao động do nó tạo ra là nhân tố quyết định làm biến đổi bộ mặt xã hội.
Vậy nếu xã hội đã sản xuất ra con người “với tính cách là con người như thế nào, thì con người cũng sản xuất ra xã hội như thế” (Các Mác : Bản thảo kinh tế, triết học 1884. NXB Sự thật, Hà Nội, 1962, tr.130).
Luận điểm nổi tiếng của Mác trên đây giúp ta hiểu mối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Xã hội sẽ sản xuất ra những con người hợp với nhu cầu của nó. Và con người chỉ có thể sản xuất ra xã hội bằng cái vốn mà xã hội đã trang bị cho nó. Cái vốn ấy chỉ có thể là kết quả của sự tác động tích cực của một chính sách xã hội đúng đắn dựa trên một quan niệm hoàn chỉnh về con người và một sự coi trọng thích đáng đến yếu tố con người.
Để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện lịch sử cụ thể hiện thời của đất nước, Đảng ta chủ trương phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng : cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt.
Ba cuộc cách mạng này có mối liên hệ tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ. Mỗi thành tựu bất cứ về mặt nào đều là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng ấy.
Trong cách mạng tư tưởng và văn hoá, Đảng ta lại đặt nhiệm vụ trung tâm là xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, vận dụng một nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, văn kiện Đảng phân tích : con người vừa là chủ thể tích cực của xã hội, vừa là sản phẩm của xã hội ấy.
Từ đó, có thể suy ra : con người Việt Nam vừa là chủ thể tiến hành và thúc đẩy ba cuộc cách mạng, lại vừa là sản phẩm của ba cuộc cách mạng ấy. Đây là một luận điểm rất đúng đắn và chính xác.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước ta từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn, bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và phức tạp. Thực tế đòi hỏi chúng ta phải tạo ra được sự biến đổi từ gốc đến ngọn, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở kinh tế đến cấu trúc thượng tầng, từ các lĩnh vực tư tưởng, kinh tế, chính trị, dẫn đến tư tưởng, đạo đức, văn hoá và con người. Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phải vượt qua muôn ngàn khó khăn như thế, đòi hỏi Đảng phải vận dụng linh hoạt quan điểm cơ bản của triết học Mác – Lê-nin, phân tích sự tác động biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả về con người, với tư cách là chủ thể có ý thức của xã hội, vừa là sản phẩm của xã hội. Nói cách khác, Đảng phải phát huy tính năng động chủ quan của con người để tác động mạnh mẽ và có hiệu quả vào toàn bộ tiến trình biến đổi cách mạng đó. Ở đây, khi vận dụng tính năng động chủ quan, cần phải nắm vững và làm chủ các quá trình khách quan, biểu hiện dưới dạng những mối quan hệ qua lại phức tạp giữa các mặt trong đời sống kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội và văn hoá – xã hội, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội.
Mọi người đều thừa nhận : làm cách mạng xã hội là nhằm thay đổi tận gốc những quan hệ sản xuất xã hội, mở đường giải phóng cho lực lượng sản xuất phát triển. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là mục đích của cách mạng là sản xuất. Đưa sản xuất – xã hội lên những trình độ ngày càng cao hơn cũng không phải là mục đích tự nó. Sản xuất là do con người tiến hành vì lợi ích của mình. Như vậy, chính con người mới là mục đích của sản xuất, cũng tức là mục đích của cách mạng.
Khẳng định con người là mục đích của cách mạng sẽ khắc phục được quan niệm thô thiển xem con người chỉ như các phương tiện, công cụ, thực chất là hạ thấp vị trí và vai trò của con người trong cách mạng. Hiện nay, quan sát toàn bộ các hoạt động hết sức phong phú và phức tạp của đời sống xã hội, chúng ta nhận thấy ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, cách đặt vấn đề con người chưa ăn khớp với nguyên lý coi nó vừa là chủ thể, vừa là mục đích của cách mạng. Trong một số cán bộ quản lý đã hình thành một ý thức tự nhiên, đôi khi biến thành tiềm thức, thành nếp nghĩ quen thuộc về sự xem nhẹ yếu tố con người. Ý thức đó biểu hiện ở tính chất không đồng bộ, thiếu cân đối trong việc xây dựng các hệ thống chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, trong việc bố trí cơ cấu ngân sách dành cho lĩnh vực các chính sách xã hội. Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích một số điểm như sau :
a) Trong đời sống hiện thực của xã hội thường được phân chia thành hai khu vực : khu vực sản xuất vật chất và khu vực không sản xuất vật chất, gọi tắt là khu vực phi sản xuất. Nhưng trong khu vực phi sản xuất lại bao hàm nhiều việc quan trọng, có tác động trực tiếp đến tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất vật chất. Đây là một điểm cần hết sức lưu ý, phần dưới sẽ phân tích kỹ.  
b) Khi đã định danh là khu vực phi sản xuất thì tức là quy nó thuộc khu vực tiêu dùng, mà đã là tiêu dùng thì không có tích luỹ và ngược lại với tích luỹ. Hiển nhiên là không có tích luỹ thì không có tiêu dùng, không sản xuất ra của cải vật chất thì không có gì để tiêu dùng cả. Nhưng ai sản xuất ra của cải vật chất ? Mọi người đều thấy rõ là con người. Khoa học kỹ thuật phát triển sẽ làm gia tăng năng lực của con người, nhân lên nhiều lần khả năng của con người. Tuy vậy, xét đến cùng con người vẫn là yếu tố quyết định, là chủ thể tích cực trong sản xuất.
c) Từ sự phân tích trên, vấn đề đặt ra là : có khía cạnh con người trong khu vực sản xuất vật chất và con người trong khu vực “phi sản xuất”. Con người khu vực sản xuất được coi là “nhân lực”, là yếu tố lao động của sự sản xuất vật chất. Còn con người hoạt động ở khu vực phi sản xuất thì phải chăng là những con người tiêu dùng và hưởng thụ phúc lợi ?
Thực ra, con người hoạt động ở khu vực sản xuất vật chất có những quan hệ không thể cắt rời với con người trong khu vực phi sản xuất vật chất. Đó là đời sống của cha mẹ, con cái của những người sản xuất và những người ấy chỉ có thể có trạng thái tinh thần minh mẫn và điều kiện sức khoẻ tốt để hoạt động sản xuất, khi mà cha mẹ họ được nuôi dưỡng tốt, con cái họ được học hành tốt, tóm lại là đời sống gia đình họ được bảo đảm tốt.
Đẻ con và nuôi dạy con cho tốt còn là chức năng “tái sản xuất thế hệ lao động mới” của người lao động sản xuất. Thế hệ sau phải được phát triển cao hơn thế hệ trước về thể lực, trí tuệ, tình cảm và các năng lực khác.
Rõ ràng phải có những con người hoạt động ở khu vực “phi sản xuất vật chất” để đảm bảo tái sản sinh ra thế hệ tương lai. Đó là các thày giáo, các bác sĩ, các người nghiên cứu khoa học, văn nghệ sĩ và nhiều người khác nữa. Gần đây, các tài liệu văn hoá học ở Liên Xô gọi họ là những người sản xuất tinh thần (Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C. Mác đã chia ra : Sự sản xuất vật chất và sự sản xuất ra ý thức, ở đây chính là sản xuất tinh thần). Để nâng cao năng suất lao động thì phải nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, dạy học, chữa bệnh và đào tạo, nâng cao đời sống tinh thần cho người sản xuất và cho toàn xã hội. Thực tế cuộc sống đòi hỏi như vậy.
d) Vậy nên, khi xây dựng chỉ tiêu kế hoạch trong khu vực sản xuất vật chất cần phải tính toán đầy đủ các nhu cầu của con người sản xuất. Có nhiều trường hợp khi lập phương án đầu tư cho một cơ sở sản xuất, người ta thường chỉ mới tính đến cơ sở vật chất, đến thiết bị kỹ thuật, đến yêu cầu về năng lượng, về nguyên vật liệu, … chứ chưa chú ý đầy đủ, chu đáo đến những nhu cầu khác không kém phần quan trọng của người lao động ; còn con người sản xuất thì lại chỉ được coi như một “yếu tố lao động”, chỉ mới tính đến một số nhu cầu vật chất cụ thể để duy trì “yếu tố lao động” này, chứ chưa xem đó là những con người với toàn bộ nhu cầu sống phong phú của nó. Nhu cầu sống của con người phải gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu văn hoá của bản thân người lao động và của gia đình họ nữa. Mọi người sống bình thường là không thể thiếu gia đình. Gia đình là tổ ấm tình cảm, là môi trường giáo dục đầu tiên góp phần hình thành nên thế hệ nhân cách mới.
Tóm lại, khi tính toán đầu tư cho một xí nghiệp công nghiệp hoặc một khu kinh tế mới, nhất thiết phải tính toán đến những công trình văn hoá như các câu lạc bộ, thư viện, rạp chiếu bóng, trường học, nhà trẻ, trạm xá hay bệnh viện. Tuy vậy, đôi khi người ta vẫn thường có ấn tượng xem đó là những khoản chi xa xỉ mà trong lúc nghèo chưa nên đặt ra, dùng khoản kinh phí ấy để xây thêm xí nghiệp khác. Hoặc công trường đang xây dựng bị thiếu vốn, thì người phụ trách dễ dàng quyết định cắt bỏ ngay những công trình văn hoá trước hết. Như vậy là quan niệm không đúng về nhu cầu sống của con người, chưa quan tâm đến vai trò của con người vừa là chủ thể vừa là mục đích của sản xuất.
Ở nhiều xí nghiệp công nghiệp hoặc cơ sở sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, … thường xảy ra một số tình trạng ngược nhau như : có giám đốc chỉ mới dốc sức vào lo nguyên vật liệu, mặt hàng, khách hàng. Các vấn đề gọi là “đời sống” thì cho là việc phụ, thường phân công cho một phó giám đốc kém năng lực, kém cả quyền lực phụ trách. Trong các chương trình nghị sự, mục đời sống thường được coi là mục phụ có thì giờ thì bàn, không có thì giờ thì bỏ. Ngược lại có giám đốc khác, thường là những giám đốc thông minh năng động, đủ sức tính toán các mặt tổ chức và kỹ thuật sản xuất, giải quyết tốt các vấn đề nguyên liệu, khách hàng và mặt hàng, đồng thời đã dành sự quan tâm thích đáng để chăm lo đời sống cho công nhân, như lo nhà ở, nhà ăn, quần áo, bệnh xá, ngày lễ, ngày tết, nhà trẻ, trường học, văn nghệ quần chúng, câu lạc bộ và sân khấu ngoài trời, v.v…
Kết quả cho thấy ở loại cơ sở thứ nhất tình hình sản xuất thường sút kém, đời sống gặp nhiều khó khăn, công nhân thiếu phấn khởi. Còn ở loại cơ sở thứ hai thì có không khí hào hứng phấn khởi mà hiệu quả sản xuất cũng tăng lên rõ rệt. Ở đây, mọi người từ giám đốc đến công nhân thường có ý thức đúng đắn về vai trò chủ thể tích cực của mỗi người trong guồng máy sản xuất. Như vậy, mọi người được chăm sóc và trong chừng mực nào đó có được hạnh phúc trong lao động của mình, qua đó con người được hoàn thiện mọi mặt, được nâng cao cả thể lực, tư tưởng, tình cảm, … Và về một phương diện nào đó, mỗi người ở đây đã trở thành sản phẩm tốt đẹp của ba cuộc cách mạng, trong đó có hoạt động sản xuất xã hội. Điều đó rất hợp với quy luật phát triển của chủ nghĩa xã hội. Mỗi người có điều kiện sản xuất ra của cải vật chất, đồng thời sáng tạo ra bản thân mình. Tất nhiên, con người muốn được hoàn thiện và trở thành sản phẩm tốt đẹp của lịch sử, còn cần phải tiếp nhận những tác động giáo dục cộng sản chủ nghĩa từ nhiều cơ quan giáo dục của Đảng nữa.
Từ những tình hình vừa phân tích trên đây suy rộng ra trong phạm vi toàn xã hội, nhận thấy cần phải hoàn chỉnh quan niệm về vai trò con người trong nền sản xuất xã hội. Thực ra, không ai phủ nhận vai trò con người cả, nhưng cần cụ thể hoá quan niệm này thành những quy định hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Một quan niệm đầy đủ về vai trò của con người, thể hiện ở hai phạm vi như sau :
1) Trong phạm vi một cơ sở sản xuất công nghiệp hoặc nông nghiệp, quan niệm về đầu tư cơ bản phải bao gồm cả phần đầu tư cho đời sống của người sản xuất. Phải dành sự quan tâm thích đáng tới việc đầu tư nhằm bảo đảm nhu cầu sống cho người sản xuất, coi đó là việc cấp bách và thiết yếu, chí ít cũng phải ngang bằng việc lo đầu tư nguyên vật liệu, thiết bị, năng lượng, … vì con người là một dạng năng lượng đặc biệt của sản xuất. Đồng thời, quan niệm về nhu cầu sống của con người phải bao gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu văn hoá cho bản thân người lao động và cho cả gia đình với tất cả mối lo toan cho sự tồn tại và phát triển cái cộng đồng tự nhiên nhỏ bé nhưng rất đỗi thiêng liêng và bền vững. Mỗi con người riêng biệt có những niềm vui, nỗi buồn, những lo toan riêng cần được mọi người thông cảm và chia sẻ, để xoá bỏ tâm lý “cô đơn tập thể” sinh ra trong xã hội công nghiệp. Phải khắc phục quan niệm coi các nhu cầu về gia đình là nhu cầu của những người ăn theo, là gánh nặng cho sản xuất, là những phúc lợi cần ban ơn bằng những phụ cấp và trợ cấp xã hội. Tất nhiên các chính sách xã hội có thể được biểu hiện bằng các khoản trợ cấp và phụ cấp, nhưng cái chính là cần thay đổi quan niệm, không thể xem các khoản trợ cấp đó như của “bố thí” có thì cho, không thì thôi một cách tuỳ tiện. Thực hiện các chính sách xã hội phải là mối quan tâm hàng đầu của người quản lý và điều hành sản xuất, phải thấy đó là động lực quan trọng để đẩy mạnh sản xuất.
Trong các thứ vốn bỏ ra để sản xuất thì con người vẫn là vốn quý nhất, không nên vừa hô hào đẩy mạnh sản xuất vừa chờ đợi khi nào sản xuất phát triển mới lo đến các nhu cầu của con người. Lo cho con người chính là đầu tư vào vốn quý nhất, là kích thích vào động lực quan trọng nhất để phát triển sản xuất. Có lẽ khi Xta-lin nói con người là vốn quý nhất là nói theo nghĩa bóng, nhưng vận dụng cụ thể vào lĩnh vực sản xuất thì câu nói trên có một nghĩa đen rất cụ thể.
2) Suy rộng ra trong phạm vi toàn xã hội, cần phải xây dựng quan niệm đầy đủ và đúng đắn về hai khu vực : sản xuất vật chất và phi sản xuất vật chất. Bởi vì trong cái gọi là khu vực “phi sản xuất” này, nổi bật lên các vấn đề của con người và sự tác động trực tiếp của nó vào sản xuất vật chất. Chi phí cho khu vực phi sản xuất không phải chỉ là tiêu phí, mà có nhiều khoản chi thực sự là để đầu tư cơ bản và lâu dài vào lực lượng sản xuất. Chẳng hạn sự đầu tư vào đào tạo để nâng cao tri thức, kỹ năng và kỹ xảo của người sản xuất, đầu tư vào các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao là nhằm phát triển con người toàn diện, nâng cao thể chất và tinh thần, là nhằm mang lại hạnh phúc cho con người, từ đó mà phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của họ trong lao động sản xuất ra của cải vật chất. Đây là sự đầu tư thông minh nhất, đem lại số “lãi” lâu dài và cơ bản. Không nên suy nghĩ giản đơn và máy móc rằng : chỉ sau khi đã có tích luỹ của cải vật chất mới có điều kiện mang lại hạnh phúc cho con người ; ngược lại phải thấy rằng : muốn sản xuất ra nhiều của cải vật chất, thì trước hết phải chăm lo cho cuộc sống hôm nay của người sản xuất. Đó chính là tư tưởng nhân đạo chân chính của chủ nghĩa xã hội. Chăm lo cho con người là thực hiện mục đích của chủ nghĩa xã hội ngay từ bước khởi đầu. Chăm lo cho con người tuyệt nhiên không phải là sự ban ơn, sự phân phát “lòng tốt” của các nhà quản lý để vỗ về những người lao động.
Xem con người là vốn quý nhất như một nguyên tắc trong chỉ đạo các hoạt động sản xuất xã hội, còn dẫn đến quan niệm hoàn chỉnh về hai khái niệm tích luỹ và tiêu dùng. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần phải có vốn, ấy là sự tích luỹ của cải vật chất, như tích luỹ tiền bạc, xăng dầu, sắt thép, máy móc, vật liệu xây dựng, v.v… Nhưng bản thân sự tích luỹ không có mục đích tự nó, tích luỹ là để tiêu dùng một cách hợp lý số vốn đó. Và trong tiêu dùng thì lại có một phần tiêu dùng cho các nhu cầu sống của con người. Ở đây, tiêu dùng cho các nhu cầu sống chính lại là sự tích luỹ con người. Đó là sự tiêu dùng cho các hệ thống giáo dục để đào tạo con người, tiêu dùng cho các sự nghiệp để bảo vệ, nâng cao sức khoẻ, để phát triển tốt nòi giống và kéo dài tuổi thọ ; tiêu dùng cho đời sống văn hoá tinh thần để rèn luyện ý chí, nâng cao tình cảm, đem lại hạnh phúc cho con người.
Như vậy, sự tiêu dùng nói trên đây không hề là tiêu phí, làm tổn hại của cải vật chất của xã hội, mà là sự tích luỹ thứ vốn quý giá của xã hội là con người làm cho nó có thể chất tốt, kỹ năng lao động cao và có sự phát triển tinh thần tốt đẹp. Đó là một sự tích luỹ cao quý, vì nó mang lại cho xã hội một sản phẩm cao quý là những con người ngày càng được hoàn thiện hơn. Xây dựng con người mới không phải chỉ là nhiệm vụ của công tác văn hoá hay của cách mạng tư tưởng và văn hoá, mà là nhiệm vụ tổng hợp của ba cuộc cách mạng. Không nên tách rời chiến lược kinh tế xã hội với chiến lược con người. Khi ta nói chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là phải dựa trên quan niệm đúng đắn về vai trò con người, con người chủ thể sáng tạo và con người sản phẩm của xã hội.
Nếu quan niệm trình bày ở trên được công nhận thì đề nghị phải xem xét lại kết cấu của các kế hoạch Nhà nước và kết cấu của ngân sách Nhà nước. Không nên quan niệm một cách máy móc và tách rời giữa khu vực sản xuất vật chất và khu vực phi sản xuất vật chất, tách rời và đối lập hai mặt tích luỹ và tiêu dùng chỉ trong phạm vi sản xuất vật chất. Phải lấy con người với toàn bộ nhu cầu sống của nó, bao gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu văn hoá của bản thân người sản xuất cùng với gia đình họ như một tổ hợp nhu cầu của nhóm xã hội cơ bản – gia đình – để tính toán các kế hoạch kinh tế - xã hội và ngân sách. Đó là điều hợp với quy luật của chủ nghĩa xã hội và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, nhìn nhận con người như là mục tiêu của cách mạng, như một chủ thể tích cực và như một sản phẩm sáng tạo của toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và thể hiện điều đó vào trong các chính sách xã hội, đó là một quan điểm văn hoá lớn của Đại hội Đảng lần thứ VI.

Chương II
Về phương hướng xây dựng văn hoá - vấn đề bản sắc dân tộc của văn hoá   
1) Về bản sắc dân tộc của văn hoá
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ghi một câu : “Xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc” (Tạp chí Cộng sản tháng 1-1987. Số đặc biệt về Đại hội VI của Đảng, tr.122. Trong Nghị quyết ghi là “Xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ”, nhưng ở đây chỉ bàn về xây dựng văn hoá theo nghĩa văn nghệ là bộ phận nằm trong văn hoá). Đây là vấn đề hết sức thú vị, nhưng cũng rất gai góc, vì chưa mấy ai lý giải được rõ ràng. Dưới đây sẽ cố gắng phân tích để đi đến một cách hiểu nhất quán, làm chỗ dựa cho phương hướng xây dựng văn hoá.
Trong các lĩnh vực văn hoá, ta hay bàn đến tính dân tộc : tính dân tộc trong văn học, tính dân tộc trong âm nhạc, tính dân tộc trong hội hoạ, trong kiến trúc, v.v… Khi bàn như thế, hình như ta quan niệm cái tính là cái tính cách, là cái cách biểu hiện. Cho nên có nhà nghiên cứu đã phân biệt cái tính dân tộc - thuộc tính và cái tính dân tộc - phẩm chất. Phải chăng khi ta nói tính chất là ta muốn nói “cái gì”, còn khi ta nói tính là ta muốn nói cái “thế nào ?” hay cái tính chất là gồm cả cái “cái gì” và cái “thế nào ?”.
Mấy năm trước đây trong một vài cuộc hội thảo khoa học về văn hoá, chúng ta đã đề cập tới cụm từ “bản sắc dân tộc của văn hoá” hay là “bản sắc văn hoá của dân tộc”. Rõ ràng bản sắc là một t hay được nhắc đến và đúng là cái cần tìm hiểu.
Bản sắc là gì ? Dựa vào nhiều ý kiến đã phát biểu của các nhà nghiên cứu thì bản sắc là sắc thái của cái bản chất, cái gốc, cái vốn có của một dân tộc. Nó là cái tinh tuý và là cái tổng hoà của các giá trị được biểu hiện ra chủ yếu ở văn hoá tức là ở ngôn ngữ, nghệ thuật, kiến trúc, đạo đức, lối sống. Nó là cái sắc thái hay là màu sắc đặc biệt, màu sắc gốc gác của cái vốn liếng riêng của dân tộc làm cho người ta nhận biết ngay ra diện mạo tinh thần của dân tộc ấy mà không lẫn với các dân tộc khác. Nó là cái vốn, nó lại tạo ra cái gọi bản lĩnh của dân tộc, vì cái gốc đó là nguồn sức mạnh của dân tộc, dân tộc nhờ có sức mạnh đó mà tồn tại, mà chiến thắng, mà phát triển. Một dân tộc giữ được bản sắc của mình, tức là giữ được bản lĩnh của mình, giữ được sức mạnh của mình, mất bản sắc thì mất nhiều thứ khác, thậm chí có nguy cơ bị đồng hoà với các dân tộc khác mạnh hơn. Bản sắc là cái gì cực kỳ quý giá của một dân tộc. Giữ được bản sắc là giữ được độc lập về tinh thần, về văn hoá. Nhưng bản sắc lại là một cái gì đó thể hiện ra trên rất nhiều mặt linh hoạt, uyển chuyển.
a) Bản sắc của một dân tộc luôn luôn có sự thay đổi, sự phát triển, nhưng lại luôn luôn có một cái gì đó bền vững ổn định, là dấu hiệu đặc biệt của diện mạo tinh thần của dân tộc đó. Vì vậy khó có thể nói có bản sắc cũ và bản sắc mới, như có người nói : “Nước ta trước đây là nước nông nghiệp lạc hậu, phong kiến, lịch sử đã tạo nên cho ta một bản sắc dân tộc mang tính nông nghiệp phong kiến lạc hậu, nay ta phải phủ nhận cái bản sắc đó để xây dựng và tạo nên một bản sắc mới”. Thực ra, bản sắc là cái gì hình thành do sự tích luỹ của lịch sử trong đó có những yếu tố bền vững ổn định, và trong sự phát triển liên tục không chia cắt được của nó, nó vẫn giữ cái đặc sắc của nó làm cho dân tộc này không lẫn với dân tộc khác.
b) Bản sắc của một dân tộc có phải là gồm những phẩm chất, đức tính hay giá trị mà chỉ có dân tộc đó có mà dân tộc khác không có không ? Không phải ! Có thể có những phẩm chất mà nhiều dân tộc cũng có, nhưng ở mỗi dân tộc lại có một cái gì đó khác, có cách biểu hiện khác mà ngay trong cái phẩm chất đó cũng có một cái gì riêng biệt, có mùi vị, màu sắc riêng, nó quy định cách biểu hiện khác.
Chính cái đó tạo nên bản sắc. Bản sắc không phải là số cộng những giá trị truyền thống, mà nó là màu sắc gốc của bản chất dân tộc, là cái sắc thái vốn có riêng của một dân tộc. Có thể có nhiều dân tộc có những giá trị truyền thống giống nhau, nhưng vẫn có bản sắc khác nhau.
c) Bản sắc dân tộc là những cái đã được hiện thực hoá trong toàn bộ dân tộc hay chỉ là những điều lý tưởng mong ước, những điều phân tích suy luận ra. Thực ra, hiện thực xã hội của một dân tộc cũng rất phức tạp. Bản sắc là tinh tuý của những giá trị đã được hình thành trong lịch sử, đã được hiện thực hoá trong đa số nhân dân hoặc trong một giai đoạn lịch sử tạo nên vẻ thịnh vượng, đẹp đẽ của giai đoạn đó. Tất cả những cái đó được cả cộng đồng dân tộc thừa nhận, ca tụng, đánh giá và mơ ước. Cái đó là bản sắc. Vì vậy nó đã được hiện thực hoá và còn đang được hiện thực hoá ở trình độ cao hơn. Nó là những cái tinh tuý được cô đọng lại, đúc kết lại, tinh lọc lại thành tài sản, thành lý tưởng chung của một dân tộc. Tất nhiên ngay cả khi đã như thế trong cộng đồng dân tộc cũng vẫn có thể nảy nòi một số phần tử “mất gốc” không thừa nhận, phỉ báng những giá trị đó, những tinh tuý đó, cái bản sắc đó. Khi ấy rõ ràng ta có những kẻ mất gốc, những kẻ mất bản sắc dân tộc của mình. Những kẻ này sẵn sàng mất luôn cả bản thân và sẵn sàng trở thành nô lệ cho dân tộc khác.
d) Bản sắc dân tộc là một cái gì đó đã được tinh lọc và nó thường biểu hiện tập trung nhất trong văn hoá và rõ nhất ở ngôn ngữ, nghệ thuật, lối sống, đạo đức, cho nên nó biểu hiện rõ nhất và tập trung nhất ở tính cách con người, tâm hồn con người. Ở các lĩnh vực khác như các hoạt động chính trị, ngoại giao, luật pháp, kinh tế, v.v… cũng có thể thấy nó biểu hiện, nhưng nó biểu hiện ở khía cạnh văn hoá của các lĩnh vực đó và rõ nhất ở các con người hoạt động trong các lĩnh vực ấy. Nó biểu hiện ở nhiều chỗ khác nhau và biểu hiện một cách nhất quán, nghĩa là nó là “một cái gì đó”, ta bắt gặp nó trong âm nhạc, ta cũng gặp nó trong hội hoạ đúng “cái ấy”, ta lại gặp nó trong phong tục tập quán, trong hành vi ứng xử con người cũng đúng “cái ấy”, chứ không phải cái gì khác. Nó tạo nên một dấu hiệu đặc biệt để một dân tộc trong biểu hiện văn hoá của mình không lẫn với dân tộc khác.
e) Trong điều kiện có sự giao lưu, trao đổi ngày càng sôi nổi và dày dặc trên thế giới, liệu bản sắc có sự pha trộn không ? Trong lịch sử phát triển của mình, mỗi dân tộc đều có những tiếp xúc với các dân tộc khác khi bị xâm lược hoặc đi xâm lược hoặc trao đổi buôn bán, vậy bản sắc hình thành nên cho đến ngày nay, có còn thuần tuý không ? Điều này nhiều nhà khoa học thế giới cũng đã xác nhận là khó có tính dân tộc thuần tuý. Nhưng bản sắc của một dân tộc thì lại có sự vận động rất khắc nghiệt : hoặc là ngày càng vững chắc, sâu sắc cao hơn lên hoặc là bị suy thoái rồi mất hẳn đi. Trong quá trình tiếp xúc, trao đổi, bản sắc của một dân tộc tất nhiên có gặp những yếu tố khác tác động. Nhưng khi bản sắc đó mạnh mẽ sâu sắc, nó sẽ tiếp thu những gì cần thiết cho nó gần gũi với nó, làm cho nó vững bền hơn, phong phú và sâu sắc hơn, chứ không phải nó bị pha loãng ra như pha rượu vào nước lã. Ngược lại, khi gặp những giá trị khác, những bản sắc khác mạnh hơn, nó bị đẩy lùi và bị thay thế, nó tự trầm đi. Một dân tộc ý thức được bản sắc của dân tộc mình và tránh được nguy cơ bị đồng hoá. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh sức sống của bản sắc dân tộc của Việt Nam.
g) Trong thời đại công nghiệp hoá và cách mạng khoa học – kỹ thuật phát triển vũ bão, liệu có giữ nổi bản sắc dân tộc hay không ? Đây đúng là vấn đề ta đang phải quan tâm. Quả thật quá trình công nghiệp hoá, áp dụng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống, ở rất nhiều chỗ, bản sắc dân tộc bị phá vỡ, con người ở chỗ nào cũng phải sống và làm việc, đi lại, giao tiếp với nhau trong những điều kiện giống nhau, nhà ở giống nhau, thức ăn giống nhau, quần áo giống nhau, phương tiện đi lại giống nhau, ngôn ngữ cũng phải quốc tế hoá nhiều, văn học nghệ thuật cũng trao đổi phong phú và sôi nổi.
Trong khi ấy các đế quốc lớn, nhất là đế quốc Mỹ, sau đó là Nhật, Tây Đức lại làm tràn ngập thế giới những hàng tiêu dùng với kỹ thuật và chất lượng cao nhằm điều kiện hoá cuộc sống của mọi người ở khắp ngóc ngách trên thế giới, phá vỡ tận gốc nhiều truyền thống dân tộc lâu đời. Bọn chúng muốn “thế giới hoá” văn hoá bằng con đường thế giới hoá kinh tế và kỹ thuật. Tình hình này đặt ra cho mỗi dân tộc đang phát triển phải suy nghĩ bước đường đi của mình. Không thể nào chối bỏ mọi tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngược lại phải nhanh chóng chiếm lĩnh lấy nó. Nhưng chiếm lĩnh nó như thế nào để bản sắc dân tộc mình không bị phá vỡ, không bị mất đi. Ngoài vấn đề ý thức sâu sắc của những người lãnh đạo cũng như của tất cả cộng đồng dân tộc, còn có những vấn đề như : định phương hướng và bước đi cho thích hợp, vấn đề nắm thật chắc, thật vững di sản dân tộc của mình để sử dụng nó, phát triển nó trong điều kiện mới. Việt Nam là một đất nước có nhiều dân tộc thiểu số, nhiều địa phương có những truyền thống văn hoá khác nhau. Cho nên ngoài bản sắc Việt Nam chung cho cả cộng đồng dân tộc, Việt Nam còn có những bản sắc của từng tộc người (hay dân tộc thiểu số), bản sắc của từng địa phương. Tất cả những bản sắc riêng của từng tộc người – trong đó có tộc người Việt Nam, được gọi là tộc người chủ thể của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, từng địa phương kết hợp thành cái bản sắc chung Việt Nam. Bản sắc Việt Nam lại là cái bản sắc riêng trong cộng đồng chung của thế giới.
Đến đây ta đã thấy rõ bản sắc dân tộc là một vấn đề rất khó, rất sâu và rất phức tạp. Nó là một cái gì ta có thể tìm thấy, diễn giải nó ra để mọi người cũng nhận thức hay nó chỉ là một cái gì trừu tượng mơ hồ, ta chỉ có thể cảm nhận thấy, mà không nhận thức và diễn giải được ? Đúng là vấn đề rất khó xử lý, nhưng chúng ta cần mạnh dạn đặt vấn đề ra để tìm hiểu. Về phương pháp, có ý kiến cho rằng cần phải có một cách làm rộng lớn và lâu dài : ở mỗi lĩnh vực cụ thể của văn hoá, mỗi loại hình văn nghệ, cần có một công trình sưu tầm, khảo sát, phân tích tất cả những di sản ta có, để tìm ra cái gì là tinh tuý nhất của lĩnh vực đó, rồi ta đem so sánh đối chiếu cái tinh tuý của các lĩnh vực khác nhau ấy, tìm chỗ tương đồng, tìm chỗ quan hệ nhất quán, từ đó tổng hợp, tổng kết, mới có thể chỉ ra cụ thể cái bản sắc dân tộc của văn hoá.
Thực ra đó là một phương pháp đúng đắn và cần thiết. Nhưng công việc triển khai như vậy yêu cầu một tổ chức rộng lớn phức tạp, một sự điều hành lớn và một sự phối hợp khó khăn, một thời gian khó hạn định. Hiện nay từng môn khoa học cũng đã có làm một số việc, nhưng phải chờ đợi sau này có những kết quả nghiên cứu, mới tổng hợp, tổng kết được. Trong khi những việc ấy cứ tiến hành, ta vẫn nên triển khai một phương pháp khác : phương pháp dựa vào cách nhìn tổng quan các mặt và đi thẳng vào phân tích tìm tòi cái ta muốn tìm. Phương pháp này dựa vào sự tích luỹ của một số nhà khoa học lão thành. Đó là sự tích luỹ kiến thức lịch sử, tích luỹ vốn sống, tích luỹ sự hiểu biết những tính cách tâm hồn hàng nghìn con người mà các vị đã cùng sống và đã gặp. Sự tích luỹ ấy có thể coi như những chùm ánh sáng kỳ diệu soi rọi vào vấn đề phức tạp và khó khăn này làm cho ta nắm bắt được. Rồi kết quả của sự soi rọi ấy lại tác động tốt đến các công việc nghiên cứu của các lĩnh vực, các ngành trong văn hoá nói chung.
Việc nghiên cứu vấn đề bản sắc dân tộc trong lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao ý thức về bản sắc dân tộc lúc này để thức tỉnh những ai mơ hồ về lịch sử dân tộc, suy giảm lòng tự hào dân tộc, mơ hồ về cái giá trị truyền thống, bị đầu độc về những thành tựu văn minh kỹ thuật, rơi vào khuynh hướng “thế giới chủ nghĩa” hư vô, tổn thương đến lòng yêu nước, yêu quê hương, mất tự tin và mất lòng tin vào dân tộc. Tất cả những tình trạng mơ hồ ấy đều là điều mà các loại kẻ thù của ta mong muốn. Ý thức về bản sắc dân tộc còn thức tỉnh ai mơ hồ về cái cũ cái mới, mù quáng trước cái mới, phủ nhận mọi giá trị và chỉ công nhận có một giá trị là cái gì mới, cái gì không cũ, điều này cũng dễ dẫn tới chỗ “mất gốc” không thừa nhận tổ tiên, không thừa nhận gốc gác mình.
Ý thức về bản sắc dân tộc bồi dưỡng cho ta lòng yêu nước, chỉ cho ta phương hướng xây dựng nền văn hoá dân tộc và cả phương hướng xây dựng kinh tế, xây dựng xã hội trên bản sắc của dân tộc ta, phù hợp với các điều kiện thiên nhiên, truyền thống của ta. Phương hướng xây dựng như vậy sẽ có hiệu quả hơn, củng cố nền độc lập dân tộc tốt hơn.
Riêng về văn hoá, có nhận thức được rõ bản sắc dân tộc mới nắm chắc được cái gốc của vấn đề tính dân tộc, cái bản chất của tính dân tộc vận dụng vào việc xây dựng lối sống, nếp sống, phong tục tập quán, vận dụng vào các loại hình nghệ thuật để tạo nên một nền văn hoá xã hội chủ nghĩa với bản sắc dân tộc rõ rệt. Một nền văn hoá có tính chất dân tộc là một nền văn hoá mang đầy đủ bản sắc của dân tộc mình. Mỗi lĩnh vực khác nhau của văn hoá, nghệ thuật nếu tìm được cái gọi là bản sắc dân tộc trong lĩnh vực đó thì có thể nắm bắt được cái tinh tuý, cái cốt lõi của tính dân tộc, từ đó định ra cho mình được phương hướng, phương pháp để phát triển lĩnh vực của mình cho phù hợp với thời đại. Không thể chỉ loay hoay trong việc liệt kê các chi tiết, phân tích các chi tiết rồi đi tới những quyết định giữ chi tiết này, bỏ chi tiết kia là giải quyết được vấn đề văn hoá có tính chất dân tộc. Cũng không thể khẳng định nguyên tắc : “lấy thời đại làm tiêu chuẩn để quyết định vấn đề kế thừa phát triển”, hoặc nguyên tắc “lấy dân tộc làm tiêu chuẩn để tiếp thu những giá trị văn hoá mới của thời đại”, như kiểu những khẩu hiệu thô thiển “lấy xưa vì nay”, “lấy ngoài vì trong” hay “hậu kim bạc cổ”.
Phải tìm được bản sắc dân tộc, ý thức được bản sắc đó sâu sắc, làm cho bản sắc đó thấm đượm trong mọi tâm hồn sáng tạo và thúc đẩy mọi sự phát triển văn hoá thì chúng ta mới thực hiện được tinh thần “kết tinh lại và nâng lên tầm cao mới” mọi giá trị truyền thống của dân tộc, mới thực hiện được sự phát triển văn hoá kịp yêu cầu thời đại mà vẫn có bản sắc dân tộc, vẫn phát triển bản sắc dân tộc kịp thời đại mà không bỏ mất vốn quý của dân tộc.
Ý thức về bản sắc dân tộc làm cho thanh niên nâng cao bản lĩnh sống của mình, đứng vững trước những cám dỗ, những sự tấn công của các loại nguỵ đạo đức, nguỵ triết lý, xứng đáng là những con người mới xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam anh hùng. Chúng ta có thể vui mừng mà nhận xét rằng các nghệ sĩ sáng tác của ta trong âm nhạc, trong nghệ thuật tạo hình, trong sân khấu, trong điện ảnh, trong văn chương đều đã tỏ ra có ý thức về bản sắc dân tộc và có những thành tựu tốt đẹp, đặc biệt trong ca khúc (âm nhạc). Nhưng rõ ràng những thành tựu ấy cũng chứng tỏ một tình trạng còn chưa vững chắc, chưa ổn định, chưa đủ tự tin. Chúng ta cần làm việc nhiều hơn để cả nền văn hoá của ta phát triển theo hướng củng cố và nâng cao bản sắc dân tộc của ta một cách vững vàng, ổn định và tự tin hơn, có những thành tích độc đáo hơn. Phải nói là các bạn trên thế giới cũng mong đợi ta, đòi hỏi ta về mặt này. Các bạn hoàn toàn không muốn ta bắt chước thế giới mà đánh mất ta đi ! Cũng như họ không muốn ta cứ loanh quanh với những cái gì cổ lỗ lạc hậu của ta mãi.
Vấn đề bản sắc dân tộc đặt ra lúc này là lúc mà cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, sự giao lưu quốc tế về nhiều mặt tăng lên mạnh mẽ cả về cường độ và tần độ. Tình hình đó làm nảy sinh ra nhiều yếu tố phá vỡ bản sắc dân tộc, làm mơ hồ ý thức về bản sắc dân tộc và lòng tự hào dân tộc cũng như mơ hồ về tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa. Chỉ có một ý thức đúng đắn về dân tộc mới có thể ý thức đúng đắn về quốc tế, hai mặt ấy không bài trừ nhau mà củng cố cho nhau.
Nêu rõ vấn đề bản sắc dân tộc hiện nay trước hết là để củng cố và phát triển ý thức dân tộc, lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc chân chính.
Ta cần xây dựng một bản lĩnh dân tộc vững chắc, làm nền tảng và cơ sở cho lòng tự tin dân tộc để phát triển sự giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hoá thế giới, làm cho sự tiếp thu đó lại bồi bổ cho vững chắc thêm và phong phú thêm bản sắc dân tộc, chứ không phá vỡ nó đi, đồng thời ta có khả năng đóng góp làm phong phú thêm văn hoá thế giới.
Mặt khác, tìm bản sắc dân tộc là tìm cái cốt lõi, cái tinh tuý của tính dân tộc ở mỗi lĩnh vực cụ thể của văn hoá và nghệ thuật.
Đó là phương hướng để ta có thể đi vào bản chất của tính dân tộc, mà không phải loanh quanh trong việc lựa chọn giữ hoặc bỏ chi tiết này hay chi tiết khác. Những chi tiết thường gắn liền với hình thức biểu hiện, là những chi tiết của hình thức. Nắm được cái cốt lõi, cái tinh tuý nhất, ta sẽ tìm được phương hướng phát triển tính dân tộc trong mọi lĩnh vực một cách nhất quán và chính xác.
Bản sắc dân tộc không phải chỉ là vấn đề của văn hoá dù tính đến cả các mặt văn hoá vật chất như ăn, mặc, ở, v.v… Bản sắc dân tộc còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội lớn, nó cần được nhận thức trong cả các vấn đề tổ chức dân cư, tổ chức lao động, phát triển ngành nghề, xác định nguồn nguyên liệu và phương hướng công nghệ, v.v… và khi ấy nó vẫn là những vấn đề văn hoá với ý nghĩa rộng hơn, nhưng nếu không quan tâm đến nó thì có thể một số thành tựu kinh tế, kỹ thuật nào đó làm hại đến bản sắc dân tộc của văn hoá và của toàn bộ đời sống xã hội của đất nước.
Vấn đề bản sắc dân tộc vừa có ý nghĩa văn hoá, cả văn hoá đạo đức và văn hoá thẩm mỹ, vừa có ý nghĩa chính trị xã hội và cả kinh tế nữa. Nhưng chủ yếu nó vẫn là vấn đề văn hoá. Ta nói bản sắc dân tộc của văn hoá, hay nói bản sắc văn hoá của dân tộc thì cũng cùng một ý nghĩa mà thôi. Ở Việt Nam ta có bản sắc chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam, lại có bản sắc của tộc người Việt, của các tộc người thiểu số khác. Cái bản sắc dân tộc của ta đang vận động và phát triển, nhưng sự vận động, phát triển ấy theo hướng từ một cái gốc phát triển lên phong phú hơn, cao hơn. Đây là sự phát triển trong một quá trình liên tục, có thể diễn ra nhanh hoặc chậm, nhưng không thể có sự đứt đoạn hay sự phủ định sạch trơn, để thay vào đó cái bản sắc hoàn toàn mới lạ.
2) Bàn về bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam
Trước hết ta hãy xem bản sắc dân tộc là một cái gì, hay là những cái gì đó.
Thực ra bản sắc dân tộc mà quy vào “một cái gì” thì khó. Bản sắc vốn là cái gì trừu tượng biến hóa uyển chuyển linh hoạt. Nó là một, nhưng lại là nhiều, là nhiều nhưng tụ lại thành ra một. Nếu là nhiều cái có thể thu xếp để liệt kê, để cộng lại thì lại thành ra liệt kê bảng giá trị truyền thống và, khó tìm ra sự biểu hiện nhất quán. Nhưng nếu là một cái thì làm sao nó mô tả hết được cái phong phú, cái lung linh của diện mạo tinh thần của một dân tộc, một con người. Cho nên, tôi tạm cho rằng nó là “một”, nhưng cái “một” này là “một” đặc biệt, nó biến hoá, nó lung linh, nó có thể toả ra “nhiều”, cái “nhiều” này xen cài nhau, quấn quýt, hoà trộn nhau vào trong “một”.
Một nhà nghiên cứu đã nêu lên : một khía cạnh của bản sắc dân tộc ta là cái anh hùng bình dị. Như thế cái tính cách chung của Việt Nam là anh hùng, anh hùng nhưng bình dị, không khoa trương, không cường điệu, không ầm ỹ. Bình dị nhưng lại rất anh hùng. Một thứ anh hùng bình dị và một cái bình dị rất anh hùng. Anh bộ đội Việt Nam, anh bộ đội Cụ Hồ trong suốt thời gian của hai cuộc kháng chiến dài mấy chục năm thật là một hình ảnh sinh động và rõ rệt của cái chất “anh hùng bình dị”. Bất cứ ai gặp và nhìn thấy, tiếp xúc với các chiến sĩ của ta đều có ấn tượng rất rõ rệt : Sao mà anh ta hiền thế ! Đúng. Anh rất hiền, rất khiêm tốn, rất “bình thường” nhiều khi còn “cả thẹn” nữa. Thế nhưng anh lại làm nhiều chuyện phi thường, lập nhiều chiến công kỳ diệu, nhiều hành động anh hùng thật lẫm liệt. Anh lập những chiến công lớn cũng lại bình thường như anh lao động, học tập hàng ngày. Anh có cuộc sống thật bình dị anh hùng, thật Việt Nam ! Tôi tán thành cách khái quát này, nhưng vẫn e nó chưa chứa đựng hết, dù cho chỉ là hết những điều chủ yếu nhất. Một cách diễn giải khác chỉ ra bản sắc Việt Nam có ba điểm (hay ba mặt), ba điểm này quyện lại xoay quanh một cái, một cái đó là cái Việt Nam, cái chất Việt Nam, cái tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.
Theo ý kiến tôi, kết cấu bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam gồm ba điểm. Đó là :      
- Tinh thần yêu nước anh dũng kiên cường và sâu sắc trong ý chí,
- Tính cách bình dị của tâm hồn,
- Quan hệ giữa người và người là tình nghĩa.
Tinh thần yêu nước Việt Nam đã được ta nói đến nhiều và thế giới cũng nói đến nhiều. Đến nay bàn thêm khó có điều gì nói thêm được. Nhìn lại ta thấy tinh thần yêu nước Việt Nam nổi lên mấy nét : rất kiên cường, anh hùng bền vững và sâu sắc, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cội nguồn, tôn trọng yêu mến cội nguồn tổ tiên, thờ phụng tổ tiên như một lẽ sống của mỗi người. Điều đó ẩn sâu trong mỗi người, có lúc nó bị chìm hẳn đi, hầu như bị quên mất hẳn, nhưng mỗi khi có điều kiện khơi dậy nó lại bùng cháy mãnh liệt làm nên sức mạnh tinh thần to lớn. Chúng ta đều thấy lịch sử dân tộc ta đã trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, thế nhưng không ai quên ông Tổ mình là Vua Hùng, không ai quên nguồn gốc mình là từ “con rồng cháu tiên” cao quý. Ngay từ rất sớm, Hai Bà Trưng nổi dậy cũng với ý thức “nối nghiệp vua Hùng”. Tất cả các lãnh tụ khởi nghĩa chống ngoại xâm này đều nêu cao nguồn gốc dân tộc để động viên, tập hợp nhân dân chiến đấu. Cho đến ngày nay câu nói của Bác Hồ xúc động sâu xa lòng người nhiều cũng là câu : “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người Việt Nam dù cho dưới thời phong kiến, yêu nước không phải là yêu vua mà là yêu đất nước, quê hương, tổ tiên. Ông vua nào chiến đấu cho tình yêu ấy thì được dân tin yêu, dân tin yêu vua không phải vì vua là con trời, chịu mệnh trời, mà là vua thay mặt nhân dân lãnh đạo nhân dân bảo vệ lấy đất nước, quê hương và nguồn gốc tổ tiên. Ông vua nào làm ngược lại thì nhân dân khinh ghét và sẵn sàng chống lại. Nơi thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam là mả Tổ, ngày thiêng liêng nhất là giỗ Tổ, hành động xúc phạm nhất là hành động “đào mả Tổ”, lời chửi cay độc nhất cũng là lời đe dọa “đào mả Tổ”.
Yêu nước là một tình cảm ăn vào máu thịt người Việt Nam, không bao giờ nguôi, không bao giờ quên, không bao giờ nhạt, không bao giờ mất. Chỉ có lúc nước tạm thời bị chiếm thì dân ta phải che giấu nó, đến khi ta giành được chính quyền, có điều kiện thì nó lại bộc lộ ra đầy đủ. (Tất nhiên vẫn phải loại trừ một số nhỏ người “mất gốc”). Vì vậy, lịch sử nước ta có nhiều cuộc chiến đấu giành độc lập kiên cường rất dài ngày. Nhà Trần ba lần chuẩn bị và tiến hành kháng chiến trong 20 năm, Lê Lợi mười năm, Hồ Chí Minh ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước và cuộc chiến đấu toàn dân kéo dài ba mươi năm nữa. Có nhiều chiến sĩ giành nửa đời người hoặc cả đời người, chịu một cuộc sống trăm nghìn gian khổ, cực nhục vẫn nuôi chí bền cứu nước. Có những cuộc vùng dậy với khí thế nhất tề như vũ bão đánh bạt mọi uy vũ, mọi sự đe doạ của ngoại bang. Có những địa phương, những nhóm người mà quân xâm lược tưởng đã hoàn toàn khuất phục được, bất ngờ lại quật lại ngay trong lòng và sau lưng chúng, v.v…
Thật là một tinh thần yêu nước mang bản sắc Việt Nam.
Bình dị là một nét đẹp Việt Nam. Bình dị không phải là một phẩm chất đạo đức. Nó là một nét đẹp, nét cao cả của tâm hồn. Nó như một hương thơm gồm nhiều mùi hương, như một ánh sáng gồm nhiều màu sắc, hương thơm và ánh sáng ấy toả rộng trong không gian với muôn màu muôn vẻ. Bình dị không phải chỉ là giản dị. Bình dị hàm chứa cả sự giản dị, sự khiêm tốn, sự đúng mực, vừa phải, sự hồn nhiên, sự nhân hậu, sự khoan dung, độ lượng ; nó ngược lại với các tính khoa trương, cường điệu, giả tạo, khe khắt, gay gắt, ngược ngạo, hoặc tủn mủn, vụn vặt. Bình dị là lòng yêu thiên nhiên, gần thiên nhiên, gắn với thiên nhiên, hoà với thiên nhiên, là bộc lộ bản chất người một cách chân chất hồn nhiên. Bình dị biểu hiện chủ yếu trong lối sống và trong thị hiếu thẩm mỹ.
Bình dị là từ trong tâm hồn, từ ở tấm lòng. Con người có tấm lòng bình dị tự nhiên có những hành vi toả ra một tình cảm ấm áp đầy sức thuyết phục và cảm hoá người khác. Để thấy rõ nét bình dị trong tính cách và tâm hồn Việt Nam, không gì hơn khi ta nhìn vào Bác Hồ. Không phải ngẫu nhiên mà thế giới gắn hai chữ Việt Nam và Hồ Chí Minh liền nhau. Về mặt bản sắc mà nói thì Việt Nam đồng nghĩa với Hồ Chí Minh và ngược lại, cái bản sắc Hồ Chí Minh chính là cái Việt Nam. Ngay từ lần đầu tiên, Bác tiếp xúc công khai với đông đảo, câu nổi tiếng của Bác : “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không ?” có sức mạnh cảm hoá phi thường, câu nói ấy xuất phát từ tấm lòng bình dị tràn đầy yêu thương sâu sắc, nó hồn nhiên, nó trong sáng, nó không khác được. Nó không màu mè, không gượng ép ; nó làm Bác hoà vào nhân dân, nhân dân hoà vào Bác. Sau này trong bất cứ cuộc tiếp xúc nào, những cử chỉ của Bác đối với các “cụ già”, các “cô phụ nữ”, các “cháu nhi đồng” đều ấm áp, t nhiên, thân tình như vậy. Không thể có ai “làm giả” ra được những điều như vậy. Bình dị đi liền với trung thực.
Bác sống một cuộc sống hết sức đơn sơ, giản dị, từ nhà ở, áo mặc, đồ dùng đến cơm ăn, nước uống. Không phải Bác cố làm ra cho nó giản dị, không phải Bác cố làm gương cho cán bộ đồng bào noi theo, mà Bác yêu thích như vậy. Tấm lòng Bác như vậy, Bác sống tự nhiên như tấm lòng Bác sai khiến.
Tuy thế bình dị hoàn toàn không có nghĩa là tuỳ tiện, xuề xoà, là suồng sã. Bình dị có những nguyên tắc rất nghiêm túc của nó.
Bác mặc quần áo rất đơn sơ, dùng những đồ dùng giản dị, không cầu kỳ : cái quạt nan, cái mũ lá, đôi dép lốp. Nhưng mỗi khi ta thấy Bác, ta vẫn thấy một tư thế uy nghi của một vị lãnh đạo, một cha già, một người thày nghiêm khắc và thân ái hoặc hơn nữa một ông tiên tao nhã, chỉnh tề, ta không thể nào có ấn tượng đứng trước một cái gì gọi là xuề xoà, tầm thường.
Đó chính là cái bình dị trong tâm hồn của Người toả sáng ra toàn bộ phong thái của Người. Cái bình dị trong Bác Hồ được hun đúc lên do lòng yêu nước, yêu người của Bác sâu sắc và bao la, do cuộc sống của Bác bôn ba năm châu bốn biển, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều hạng người. Bác có một vốn sống cực kỳ phong phú và vững chắc, vì vậy trong cuộc sống chiến đấu, công tác cũng như cuộc sống cá nhân hàng ngày, không bao giờ Bác gặp điều gì phải một chút bỡ ngỡ. Cái bình dị của Bác đạt tới mức dù đứng trước những công việc hệ trọng nhất, dù phải giải quyết những vấn đề gay cấn nhất cũng vẫn giữ được phong cách ung dung thư thái, “tố sự ung dung”. Năm 1946, Bác dạy bộ đội một câu, tôi nhớ mãi : “Khi không có giặc coi như có giặc, khi có giặc coi như không có giặc” và khi Bác đi vắng, Bác dặn cụ Huỳnh ở nhà : “Dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không đổi mà ứng phó với cái biến động). Cái bình dị, ung dung thư thái của Bác đạt tới đỉnh cao, nó có một sức thu phục và cảm hoá hết sức mãnh liệt.
Cái bình dị bao giờ cũng hồn nhiên, cũng biểu hiện hồn nhiên, có hồn nhiên thì mới bình dị, vì vậy bình dị hàm chứa sự khoan dung, sự chân thành, trung thực, hàm chứa tình yêu thương tôn trọng lẫn nhau. Thực ra cũng có những thứ hồn nhiên, trung thực ồn ào, mạnh mẽ khẩn trương, nhưng phong cách Việt Nam là bình dị, là ung dung thư thái, êm dịu, sâu lắng. Tất cả trở thành bình dị. Bình dị là một phong cách Việt Nam. Chính Bác Hồ là người đã kết tinh nhiều vẻ của cái bình dị Việt Nam vào trong phong cách của mình, làm nên một cái bình dị Việt Nam rất tế nhị và văn minh, nêu lên một lý tưởng về phong cách mà mọi người Việt Nam đều yêu mến, ngưỡng mộ, hướng tới, ghi nhận lại như là một nét đậm đà của bản sắc Việt Nam trong phong cách sống.
Toàn bộ cuộc đời vĩ đại và cao đẹp của Bác, toàn bộ cái phong cách bình dị nhưng rất tế nhị và văn minh của Bác đã báo hiệu sự xuất hiện của một nền văn hoá mới ở Việt Nam. Thật không phải là ngẫu nhiên khi ngay từ năm 1923, nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam, phóng viên báo “Ngọn lửa nhỏ” đã có nhận xét về Bác như sau :
“Tôi đã hình dung ra một cách rất cụ thể bọn thực dân đang dùng rượu đầu độc như thế nào dân tộc Việt Nam đáng yêu, một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, cũng toả ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh châu Âu trên đất ấy đã dùng lưỡi lê và rượu độc để thu giấu tất cả những đức tính tốt đẹp ấy của dân tộc Việt Nam xuống cái áo đen của bọn cố đạo. Nhưng từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai” (Dẫn theo Hồ Chí Minh : Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1981, tr.478).
Bình dị Việt Nam còn biểu hiện rõ ở thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật Việt Nam. Các cảnh quan, công trình xây dựng của Việt Nam từ lịch sử nhiều năm lưu lại, đều để cho người đời những ấn tượng một vừa hai phải, xinh gọn, trang nhã, thân mật gần gũi. Ta không có công trình gì đồ sộ nguy nga quá cỡ gây những ấn tượng choáng ngợp với con người, cũng không có những tác phẩm nghệ thuật nào quá tỉ mỉ nhỏ bé đến nỗi mắt thường không thể nhìn thấy được. Ta không có những thành cao như núi, nhà chọc trời và hạt gạo có khắc cả một bài thơ, v.v… Trong thị hiếu ngày nay người ta thường nói đến trang nhã, thanh lịch, người ta chê trách những gì là loè loẹt, sặc sỡ, diêm dúa, màu mè. Công trình đồ sộ nhất của ta là hệ thống đê chống lũ lụt của đồng bằng sông Hồng.
Về văn học nghệ thuật, ta không có những trường ca hàng chục ngàn câu, những tiểu thuyết hàng chục ngàn trang và hàng ngàn nhân vật, mà những tác phẩm hay nhất là những bài thơ xinh gọn độ 50 chữ hoặc vài trăm chữ, những bài phú ngót ngàn chữ, những tiểu thuyết thơ, văn xuôi độ 200 – 300 trang.
Bàn về cái bình dị Việt Nam biểu hiện trong thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật thì đụng phải nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp khó khăn. Trong phạm vi ở đây, tôi thấy chỉ mới đủ điều kiện bàn chút ít về sự ưa thích của người Việt Nam đối với âm thanh (và giai điệu) và màu sắc (và hình dáng) tức là đụng chút ít đến âm nhạc và nghệ thuật tạo hình. Và, khi nói về sự ưa thích cũng là nặng về sự ưa thích cổ truyền còn lưu đến bây giờ, chứ không bao quát hết được mọi sự ưa thích ở mọi vùng, mọi thời gian khác nhau và nhất là những sự ưa thích ấy lại đang biến đổi.
Đại thể người Việt Nam ta ưa thích những âm thanh và giai điệu êm ả, dịu dàng, dìu dặt, réo rắt, đơn giản, thích những âm sắc gần thiên nhiên, rút từ chất liệu thiên nhiên, ví dụ tiếng tơ, tiếng trúc, từ tơ tằm, từ cây trúc, ít thích những hoà âm đồ sộ dồn dập kích động. Tất nhiên đây là nói đại thể chứ không phải toàn bộ, tất cả. Những âm thanh gợi nhớ quê hương, gợi nhớ một tình cảm ân tình lưu luyến man mác là tiếng sáo diều, tiếng sáo trúc, tiếng nhị, tiếng đàn nguyệt, đàn bầu, tiếng trống, tiếng mõ (đều từ chất liệu gỗ, tre, đá, v.v…). Những làn điệu dân ca là những làn điệu chậm rãi, nhịp điệu êm ái, khoan thai, nhạc nhiều, lời ít, láy đi láy lại, mỗi lời như đã được khắc sâu vào người nghe. Tất cả có thể quyện vào tiếng gió, tiếng sóng, tiếng chim lan toả trong không gian, thấm đượm nhẹ nhàng vào lòng người. Nghệ sĩ và thính giả nhiều khi là một đối một, hoặc thính giả chỉ là một nhóm người rất nhỏ trong một không khí gia đình thân thuộc, không có những cuộc diễn tấu đồ sộ ồn ào, trừ những ngày lễ hội có rước xách.
Có thể coi đó là cái bình dị trong âm nhạc, cái nhẹ nhàng hồn hậu của âm nhạc Việt Nam. Có một hồi rộ lên, đa số thanh niên nhất là ở các thành phố đổ xô nhau tán thưởng các loại nhạc nhẹ thế giới và các tác giả Việt Nam cũng viết nhiều ca khúc, kiểu nhạc nhẹ, các ca sĩ thay đổi cách biểu diễn. Người ta hướng về những âm thanh mạnh mẽ, dồn dập gay gắt, những nhịp điệu kích động, lối biểu diễn gào thét khoa trương. Đó là một hiện tượng hướng về một sự biến động tâm lý mới, một ảnh hưởng của trào lưu công nghiệp thế giới. Nhưng bình tĩnh xem xét lại, hiện tượng đó không để lại dấu vết sâu xa trong tâm hồn Việt Nam. Vì người ta vẫn hoan nghênh ưa thích các ca khúc đậm đà âm hưởng của dân ca, bắt nguồn từ các giai điệu dân ca.
Một cuộc điều tra của Vụ Nhạc Múa Bộ Văn hoá cho biết, khi hỏi các thanh niên về những bài hát ưa thích, thì trong 10 bài thanh niên ưa thích, có đến 8 bài là bắt nguồn từ dân ca như “Dáng đứng Bến Tre”, “Đất đỏ miền Đông”, “Tâm tình người Nghệ Tĩnh”, v.v… chứ không phải những bài nhịp điệu dồn dập và âm thanh gào thét. Phân tích tình hình này, các đồng chí ở Vụ Nhạc Múa nhận xét : Rõ ràng là thanh niên Việt Nam vẫn mang tâm hồn Việt Nam, vẫn ưa thích cái gì vốn là của mình, nhưng với điều kiện phải được nâng cao. Người ta không thể thích dân ca nguyên xi như cũ. Đồng thời số bài hát sáng tác theo mô típ mô phỏng dân ca hoặc nâng cao dân ca xuất hiện ngày càng nhiều. Các nhạc sĩ sáng tác đều có ý thức sâu sắc khai thác vốn âm nhạc cổ truyền cả trong âm nhạc không lời. Như vậy cái bản sắc dân tộc trong âm nhạc vẫn được các nhạc sĩ trân trọng và được quần chúng (cả thanh niên) ưa thích, thừa nhận và yêu mến. Đó là một chiều hướng phát triển tốt đẹp. Tất nhiên trong lúc có những biến động mạnh mẽ về nhiều mặt, không khỏi có những chuệch choạc ở chỗ này chỗ khác, nhưng trong chiều đi chung của lịch sử vẫn có một chiều đi tốt đẹp ngày càng được khẳng định, ngày càng được mạnh lên. Bản sắc dân tộc vẫn có một sức mạnh riêng của nó trong cuộc sống. Cuộc sống có đòi hỏi sự phát triển, nhưng nếu sự phát triển được thúc đẩy một cách có ý thức và hợp quy luật thì phần bền vững của bản sắc càng thêm bền vững và bản sắc lại phát triển cao hơn, phong phú hơn. Giữ gìn bản sắc không phải là bảo thủ trì trệ, là hoài cổ, là từ chối mọi sự tiến lên.
Về mặt ưa thích màu sắc, cũng có nhiều ý kiến thú vị. Đại thể mà nói, người Việt Nam ưa thích các màu sắc dịu dàng, nhẹ nhàng, sáng sủa, thanh nhã, hài hoà, ưa thích các màu sắc của thiên nhiên, bắt nguồn từ thiên nhiên.
Người Việt Nam chơi hoa trọng hương hơn trọng sắc, thích những thứ hoa gì màu nhẹ nhưng có hương, như các thứ lan, như hoa ngâu, hoa nhài, hoa huệ, kể cả hoa bưởi, hoa dạ hợp, dạ hương.
Nếu hoa có màu thì thích loại màu nhẹ, dịu như phấn hồng, tím nhạt, vàng nhạt, nếu có màu gắt là những điểm nhỏ li ti của những cánh hoa nhỏ hoặc là những điểm nhỏ trên nền lớn màu nhẹ. Không phải ngẫu nhiên mà hầu như tất cả các màu Việt Nam đều lấy tên của thiên nhiên đặt vào và các tên đó phần lớn ứng vào các màu thuộc gam nhạt, thanh. Những tên đó như sau :
Xanh thì có da trời, nước biển, cỏ non, lá mạ, hoa lý, nõn chuối, cỏ úa, cứt ngựa.
Đỏ thì có gấc, son, mặt trời mọc, mào gà.
Đỏ nhạt thì có da cam, gạch non, da bò, gạch cua, lòng tôm, hoa đào.
Nâu thì có vỏ già, gụ, nâu non.
Đen thì có hạt huyền, hạt na, than.
Tím thì có bồ quân, hoa sim, hoa mua, hoa cà, mận chín, quả mồng tơi.
Trắng có trứng gà bóc, hoa huệ, vôi, tuyết.
Tôi không biết, thế giới có nước nào có một ngôn ngữ đặt tên màu thú vị như thế hay không ? Một màu có thể thật gắt, nhưng cho nó một tên quả, tên lá, tên hoa, tự nhiên nó lại nhẹ đi rất nhiều, như đỏ như gấc, đỏ như hoa mào gà.
Cái bình dị trong màu sắc chủ yếu là cái dịu dàng, nhẹ nhàng, thanh nhã.
Còn về hình dáng các đồ vật, các công trình nói chung người Việt Nam ưa thích cái gì nhẹ nhàng, thanh mảnh, thanh thoát, thoáng đạt. Gần đây có rất nhiều công trình kiến trúc hiện đại, tôi thường được nghe những ý kiến nhận xét là nặng nề cục mịch. Cho dù công trình có nguy nga đồ sộ, người ta cũng thích nó thanh thoát nhẹ nhàng. Không biết các nhà kiến trúc nghĩ sao về điểm này ?
Như vậy thị hiếu thẩm mỹ Việt Nam là một thị hiếu tinh tế, hướng tới cái thanh tao, trang nhã gắn với thiên nhiên, hoà vào thiên nhiên, hướng tới một cái đẹp bình dị hồn nhiên, nó nhất quán với cái bình dị hồn nhiên nhân hậu trong phong cách sống, trong phong cách ứng xử của con người tạo nên một bản sắc bình dị Việt Nam gắn với thiên nhiên và hoà vào thiên nhiên, một mặt nói lên trình độ phát triển xã hội : Ta mới ở vào thời kỳ tiền công nghiệp. Nhưng đó cũng lại là một bản sắc quý giá. Cái xã hội công nghiệp trong khi thực hiện công nghiệp hoá đã phá hoại thiên nhiên nhiều, phá vỡ sự cân bằng môi trường, ngày nay chính những người trong xã hội công nghiệp phát triển lại thèm khát thiên nhiên, muốn trở lại với thiên nhiên, họ tạo lại thiên nhiên cho họ. Nhưng thiên nhiên được tạo lại dù có đẹp hơn thì vẫn là thiên nhiên giả, họ vẫn cần tìm đến thiên nhiên thật. Thế mà Việt Nam ta vốn có cái bản sắc quý giá là gần thiên nhiên, hoà vào thiên nhiên, là một điều thật không dễ gì có được. Cũng như đối với màu sắc, có một hồi, ta thấy xuất hiện những sự ưa thích màu sắc mạnh mẽ và từng mảng lớn : quần áo đỏ, áo có hoa rất to, màu rất gắt, ta cũng thấy dường như đang có một sự phát triển của thị hiếu phù hợp với sự phát triển công nghiệp. Nhưng hình như thị hiếu ấy chỉ rộ lên một thời gian, nhất là mấy năm sau khi thống nhất đất nước, đến bây giờ tuy hiện tượng đó vẫn còn nhưng không còn rầm rộ, ồ ạt, mà chiều hướng chung hầu như lại lắng xuống, người ta lại trở về với bản sắc cổ truyền. Cũng có một tình hình là các lớp người thường rất sôi nổi và hiếu động, ham chuộng sự mới lạ cuồng nhiệt vào tuổi mới bắt đầu trưởng thành. Khi người ta đã gần đến tuổi đứng bóng (quãng 30) thì ý thức về nguồn gốc, về cội nguồn mạnh lên, rõ hơn và ý thức về bản sắc rõ rệt hơn.
Đến đây, ta lại gặp vấn đề cần bàn tiếp : bình dị đi liền với trung thực, nhân hậu và hồn nhiên, là một nét đẹp của tâm hồn Việt Nam, nét đẹp bình dị đó có hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thời đại đang có sự phát triển mới không ?
Thời đại hiện nay yêu cầu công nghiệp hoá, yêu cầu khoa học kỹ thuật, yêu cầu quốc tế hoá nhiều mặt ngày càng cao. Do đó con người cần phải khẩn trương, chính xác, phong phú và phải ứng xử trong nhiều điều kiện phức tạp, đa dạng. Vậy bình dị có mặt nào tiêu cực, trở ngại cho những yêu cầu phát triển mới ấy hay không ?
Tôi được nghe một nghệ sĩ sáng tác nói thế này : “Đứng trước phong cảnh nông thôn Việt Nam, tôi dễ dàng xúc động với cảnh con đò, bến nước, gốc đa. Còn chưa xúc động được như vậy trước những máy kéo và trạm bơm …”.
Tôi cứ suy nghĩ mãi : “Đó là điều đáng trách hay không đáng trách ?”.
Cần phải nói thêm : bình dị hoàn toàn không có nghĩa là đơn giản, tuỳ tiện. Đơn giản và tuỳ tiện quả thực là những điều ngày nay ta không thể chấp nhận được. Nhưng có thứ khẩn trương ầm ỹ và khoa trương, và có thứ khẩn trương, chính xác nhưng vẫn ung dung tự tại. Riêng tôi, thực sự tôi thấy không ưa những người luôn luôn nói lên và làm ra bộ tất bật vội vàng, luôn lớn tiếng thông báo “lịch công tác” rất dày dặc của mình, luôn luôn cho mọi người biết vừa gặp những người có tăm tiếng lớn và sắp “phải” gặp những người có chức vụ quan trọng. Và ngược lại, tôi thấy yêu mến cảm phục những người đang phải làm rất nhiều việc nặng nề, nhưng luôn thư thái ung dung, lặng lẽ, không quay cuồng, không cuống quýt, không vội vã hay có vội vã cũng vội vã một cách ung dung, khẩn trương một cách thư thái.
Từ đó, tôi cho rằng một mặt ta cần cảnh giác với một khía cạnh là bình dị có họ hàng với lề mề, chậm chạp, tuỳ tiện, đơn giản. Mặt khác ta hoàn toàn có thể thực hiện những yêu cầu mới trong phong cách, lối sống và cảm xúc hàng ngày là khẩn trương, chính xác và tinh vi mà vẫn có thể cho nó một vẻ đẹp sâu sắc : bình dị nghĩa là ung dung, hồn nhiên, trung thực và nhân hậu.
Như vậy, ta vẫn có thể xây dựng một văn hoá công nghiệp, hiện đại, trong đó vẫn có vẻ đẹp bình dị, với điều kiện ta quan niệm nét đẹp bình dị với tất cả chiều sâu của nó.
Bản sắc dân tộc Việt Nam còn một điều quan trọng nữa là tình nghĩa. Tình là tình thương, tình yêu, tình cảm, nhưng lại còn tình nghĩa. Nghĩa ở đây không có liên quan gì đến “nghĩa” của Nho giáo mang nặng tính chất đẳng cấp và tôn ty trật tự phong kiến. Nghĩa này không phải là nghĩa lý, nghĩa khí, nghĩa vụ, nghĩa (chính) và tà, mà nghĩa này là nghĩa tình. Trong ngôn ngữ Việt Nam có chữ nhân tình, nhân nghĩa (bị nói trại đi là nhân ngãi với ý chê bai là lăng nhăng), nhân tình là người yêu, nhân ngãi cũng là người yêu. Vậy thì nghĩa (ngãi) cũng là yêu. Nghĩa lại còn là duyên.
Trong ca dao còn có nhiều câu nói lên cái ý vị ấy.
“Tới đây trước lạ sau quen.
Bóng trăng là nghĩa, ngọn đèn là duyên.
Thuyền chài, thuyền lái, thuyền câu.
Biết thuyền ân ngãi nơi đâu mà tìm”.
“Thuyền đi để bến đợi chờ.
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau.
Bến này giãi bóng trăng thâu đợi thuyền”.
“Trầu xanh, cau trắng, chay hồng.
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên”.
V.v… và v.v…
Như vậy tình nghĩa đều là tình cảm, là thứ tình cảm đặc biệt sâu sắc có ràng buộc, có thuỷ chung, ràng buộc đây không phải ràng buộc bằng nghĩa lý, nghĩa vụ mà bằng nghĩa tình.
Đồng chí Lê Duẩn nói “Tình thương và lẽ phải” có thể được coi như một cách diễn đạt mới của tình nghĩa. Lẽ phải đây cũng có ý nghĩa “tình”, lẽ phải đây là lẽ thuyết phục, lẽ cảm hoá, không phải là lẽ phải cãi lý, ai đuối lý phải chịu (có người có lý mà không có lẽ phải, chứ không phải cứ có lý là có lẽ phải đâu). Tôi hiểu chữ “tình thương và lẽ phải” tức là tình nghĩa theo nghĩa truyền thống được hiểu trong nhân dân. Người ta thường nói tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa cha con, tình nghĩa anh em, tình nghĩa bạn bè, tình nghĩa thày trò, tình nghĩa đồng chí, tình nghĩa họ hàng, tình nghĩa hàng xóm. Tình là tình cảm yêu thương, nghĩa là tình cảm của một mối quan hệ có ràng buộc. Vì vậy khi gặp người hoạn nạn khó khăn ta có thể có tình thương (thương xót, thương hại) cứu giúp chứ không ai nói tình nghĩa người đi đường, tình nghĩa với người bị nạn. Có chăng lúc ấy, lại là thứ tình nghĩa rộng lớn : tình nghĩa đồng bào. Nghĩa này là nghĩa trộn vào với tình. Còn như nếu tách ra tình nghĩa là tình cảm cộng với nghĩa vụ và như trong câu người ta thường nói hết tình còn cái nghĩa, thì cái nghĩa (nghĩa vụ) đó thường mong manh và dễ mất. Tình nghĩa còn thì còn cả, mất thì mất cả.
Cũng cần bàn thêm các mặt khác nhau của tình nghĩa. Ta có thể e ngại một cách chính đáng là tình nghĩa, nếu thiếu một nền tảng khoa học, thiếu một lý tưởng mục tiêu cách mạng, có thể phát huy mặt tiêu cực : nể nang dè dặt, gia đình chủ nghĩa … tạo ra một trạng thái trì trệ nặng nề trong cuộc sống. Khi tình nghĩa phát triển thành “chủ nghĩa tình cảm” thì nhiều mối quan hệ nguyên tắc trong sinh hoạt chính trị - xã hội bị phá vỡ ; không còn nguyên tắc tập trung dân chủ ; trong một tổ chức bàn bạc công việc không có biểu quyết và thực hiện thiểu số phục tùng đa số, mà bất cứ việc gì cũng phải chờ đợi sự nhất trí hoàn toàn mà thời hạn của sự chờ đợi này có khi là vô hạn định, do đó công việc không được quyết định ; cấp trên thương cấp dưới, cấp dưới nể cấp trên, không có kỷ luật, chỉ có thuyết phục và chờ đợi, không có trách nhiệm cá nhân cụ thể, không sao tìm ra được con người cụ thể chịu trách nhiệm về một khuyết điểm cụ thể nào ; cấp trên quyết định, cấp dưới không nghe, không thực hiện cũng được, công việc cứ gác lại. Cấp trên có những quyết định sai, hành động sai, cấp dưới biết rõ, nhưng vẫn nghe theo, làm theo và lại còn thuyết minh nguỵ biện để bao che và cũng coi đó là tình nghĩa, là thương nhau ; công tác tổ chức, sử dụng cán bộ lấy tình cảm ưa ghét làm tiêu chuẩn. Điều này khuyến khích phát triển chủ nghĩa cơ hội, một số người lấy việc nghe theo cấp trên, nịnh cấp trên làm con đường tiến thân ; chủ nghĩa cá nhân phát triển cả ở cấp trên và cấp dưới : cấp trên thích nịnh nên khuyến khích cấp dưới nịnh bợ. Đó là một thứ tình nghĩa giả mạo, phá hoại đạo đức xã hội và cản trở nhiều mặt phát triển xã hội.
Tình nghĩa và nghiêm minh là thống nhất. Về điều này, không thể không nhắc đến tấm gương sáng tuyệt vời của Bác Hồ. Bác là một biểu tượng của tình thương. Bác ăn không ngon, ngủ không yên khi còn nửa nước bị chiếm đóng, đồng bào miền Nam bị khủng bố tàn sát. Bác ngủ không trọn giấc khi nghĩ đến dân công bộ đội ở chiến dịch không đủ áo ấm, không đủ gạo ăn. Bác cởi áo của Bác để cho một tù binh Pháp thiếu áo. Bác theo dõi hàng ngày không bỏ qua một thành tích nhỏ của một cháu thiếu niên hay một vị phụ lão. Không bao giờ quên khen thưởng một mẹo hay của một chiến sĩ du kích hay một phát minh sáng tạo của thanh niên hay trí thức, không quên một đơn vị nào có thành tích trong chiến đấu hay sản xuất dù đơn vị đó ở một góc nào trên đất nước. Bác đã bao lần chùi nước mắt khi gặp các đại biểu miền Nam đau thương. Tấm lòng của Bác thật bao la, thật thắm thiết. Nhưng vì lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc, Bác không hề tha thứ một tội lỗi nào. Bác đã cho xử bắn những tên ăn cắp của công, xâm phạm nặng nề đến quyền lợi chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bác cho xử bắn những tên vô đạo đức mất hết tình người. Bác bắt phải nghiêm trị những người vô kỷ luật, làm tổn thương đến vận mệnh độc lập của nước nhà. Bác tự phê bình và xin lỗi đồng bào khi Đảng mắc sai lầm và kiên quyết cùng Đảng xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên sai lầm.
Bác rất nghiêm với những người có sai lầm khuyết điểm. Nhưng những người được Bác phê bình tuy rất sợ Bác nhưng lại luôn như nhận được ở Bác, từ những lời phê bình đó một tình thương sâu sắc, một sự khoan dung gần như âu yếm nữa.
Ở Bác, tình nghĩa là tình nghĩa phân minh và nghiêm minh. Những việc xử lý kỷ luật của Bác đều làm cho tình nghĩa cách mạng thêm đậm đà, nồng nàn. Bác đã giữ vững và phát huy cao độ một giá trị tinh thần độc đáo của Việt Nam và đã nâng nó lên đến mức phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Như vậy cần phải nhận thức tình nghĩa theo một yêu cầu của thời đại, không thể nhận thức tình nghĩa theo một kiểu hồ đồ và lạc hậu được. Đặc điểm tình nghĩa trong bản sắc dân tộc Việt Nam có một ý nghĩa nhân đạo sâu sắc rất lớn, nó rất phù hợp với tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nhưng nó phải được phát triển trên nền tảng tinh thần khoa học và mục tiêu cách mạng.
Mặc dù cả cuộc đời trọn tình, trọn nghĩa với dân với nước, với Đảng và cách mạng, Bác Hồ vẫn không vì thế mà coi nhẹ tình nghĩa gia đình, quê hương làng xóm. Chúng ta ai cũng xúc động khi đọc bức thư của Bác gửi họ Nguyễn Sinh lúc ông Nguyễn Sinh Khiêm – anh trai của Bác, mất (25-8-1950) :
Gửi họ Nguyễn Sinh
Nghe tin anh cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu.
Than ôi ! Tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.
Ngày 9-11-1950
HỒ-CHÍ-MINH
Bản sắc dân tộc của ta gồm một tinh thần yêu nước anh dũng, kiên cường, một tâm hồn bình dị và một mối quan hệ giữa người và người trên nền tảng tình nghĩa, là một bản sắc anh hùng cao cả và nhân đạo. Có thể toàn bộ chi tiết vừa nêu chưa phải là những tiêu chuẩn đạo đức. Ví dụ, một người thích màu sắc sặc sỡ, không hồn nhiên không phải là một người vô đạo đức. Nhưng xã hội mà ta hướng tới là xã hội có một nền đạo đức cao và lúc ấy ai có tâm hồn đẹp là người có đạo đức cao chứ không phải đạo đức chỉ hạn chế trong các tiêu chuẩn thiện, ác cổ truyền. Chính vì vậy trong bản sắc dân tộc Việt Nam có những nét tinh thần cao quý và tiên tiến.
Cũng có câu hỏi đặt ra là : bản sắc dân tộc có điểm nào tiêu cực, lạc hậu không ? Phải nói rằng trong diện mạo tinh thần xã hội ta ngày nay còn có nhiều hiện tượng tinh thần lạc hậu, tiêu cực như : bảo thủ, trì trệ, lười biếng, mê tín dị đoan, tư hữu nặng nề, ăn bám, v.v… Nhưng theo quan niệm của tôi thì khi bàn về bản sắc là bàn đến cái vốn gốc của ta được kết tinh lại, cái vốn quý giá nâng cao giá trị dân tộc, chứ không phải liệt kê các hiện tượng tinh thần, tìm cái gì là phổ biến, rồi coi cái đó là bản chất, là bản sắc của dân tộc. Đời sống tinh thần của mỗi dân tộc đều có biến đổi và phát triển. Bản sắc cũng có sự biến đổi, nhưng nó biến đổi theo quy luật của nó, của cái gốc. Một cái cây càng cao to, nhiều cành lá thì gốc lớn, càng sâu, càng bền chặt. Xã hội ta đang phát triển, nhưng xã hội ta vẫn là xã hội của dân tộc Việt Nam, dân tộc ta phát triển, cái gốc của nó càng phải được vun đắp cho lớn, cho sâu, cho bền để làm cho dân tộc ta phát triển mạnh mẽ, ngày càng tươi đẹp và càng rạng rỡ diện mạo Việt Nam hơn. Không có vấn đề đào cái gốc này vứt đi và thay vào cái gốc khác.
Cần phải có ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, người của mỗi ngành vừa nhận thức được rõ bản sắc chung của dân tộc vừa phải thấy được cái biểu hiện của nó trong ngành mình, trong lĩnh vực của mình. Còn ở mỗi lĩnh vực lại phải có công phu tìm ra quy luật đặc thù của phương pháp sáng tạo trong ngành, để đẩy mạnh sáng tạo trên cơ sở bản sắc dân tộc thì mới tìm được hướng đi đúng đắn. Tìm được từng yếu tố dân tộc trong ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu, đường nét, màu sắc là quý giá và cần thiết, nhưng cái quan trọng hơn là phải tìm được quy luật phát triển, quy luật của phương pháp sáng tạo.
Bản sắc dân tộc cũng chính là những nét tâm hồn của dân tộc, của mỗi người trong dân tộc. Bản sắc Việt Nam chính là tâm hồn Việt Nam. Bản sắc được biểu hiện ở văn hoá nói chung và biểu hiện rõ nét nhất ở con người.
Trong việc xây dựng một nền văn hoá xã hội chủ nghĩa có bản sắc dân tộc, thì vấn đề bản sắc dân tộc là vấn đề cần phải bàn nhiều nhất. Ở đây, xin bắt đầu bàn một phần và sẽ còn phải có nhiều dịp bàn tiếp. Nền văn hoá xã hội chủ nghĩa có bản sắc dân tộc là nền văn hoá có hai bản chất, hay là có bản chất “kép”. Hai mặt bản chất đó hoà quyện thống nhất với nhau và là phương hướng xây dựng văn hoá của ta hiện nay.
Chương III
Về nhiệm vụ công tác văn hoá, văn nghệ và hiệu quả xã hội của nó
 Nói về nhiệm vụ công tác văn hoá, văn nghệ báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ dành một câu ngắn gọn, nhưng câu ấy chứa đựng nhiều ý mới, rất quan trọng đối với sự chỉ đạo các hoạt động trong lĩnh vực này. Báo cáo viết : “Công tác văn hoá, văn học, nghệ thuật phải được nâng cao chất lượng. Mỗi hoạt động văn hoá, văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi” (Tạp chí Cộng sản tháng 1-1987. Số đặc biệt nói về Đại hội VI của Đảng, tr.59).
Đoạn trích dẫn trên đây nêu ra hai ý quan trọng :
- Công tác văn hoá, văn nghệ phải được nâng cao chất lượng,
- Tiến hành công tác văn hoá, văn nghệ phải tính đến hiệu quả xã hội.
Chất lượng của công tác văn hoá, văn nghệ và hiệu quả xã hội của nó là hai vấn đề có mối liên hệ nhân quả với nhau. Có nâng cao chất lượng thì công tác văn hoá, văn nghệ mới có hiệu quả xã hội tích cực. Ngược lại, có hiệu quả xã hội tích cực nghĩa là khi công chúng được bồi dưỡng tốt về tư tưởng, tâm lý, tình cảm, có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ cao thì họ đòi hỏi được tiếp cận với các hoạt động văn hoá, văn nghệ hoàn thiện hơn với chất lượng cao hơn. Hai mặt trên tác động qua lại càng mạnh mẽ sẽ đẩy các hoạt động văn hoá, văn nghệ lên tầm cao hơn.
Trong hoạt động thực tiễn của ngành, công tác văn hoá và công tác văn nghệ là hai lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau, đương nhiên chúng có mối quan hệ qua lại và có mục đích chung là góp phần giáo dục cộng sản chủ nghĩa đối với nhân dân lao động.
Công tác văn hoá chỉ các hoạt động văn hoá – giáo dục ngoài nhà trường, mà lâu nay thường gọi là “công tác văn hoá quần chúng”, còn công tác văn nghệ là chỉ các hoạt động sáng tác, phổ biến, trình diễn của giới hoạt động văn nghệ chuyên nghiệp. Dưới đây sẽ lần lượt phân tích từng lĩnh vực một.
1) Về chất lượng và hiệu quả của công tác văn hoá – giáo dục
Lâu nay ở nước ta thường dùng thuật ngữ “công tác văn hoá quần chúng” để chỉ một số dạng hoạt động “văn hoá – giáo dục” như : hoạt động câu lạc bộ, hoạt động văn nghệ quần chúng, hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động xây dựng nếp sống mới. Chữ “văn hoá quần chúng” rất dễ nhầm với chữ “văn hoá đại chúng” được dùng phổ biến tại các nước tư bản phương Tây. Ở những nước này, “văn hoá đại chúng” được xem là thứ văn hoá thấp kém, rẻ mạt dành cho đám đông, đối lập với nó là “văn hoá thượng lưu”, dành cho tầng lớp trên trong xã hội. Quan niệm này biểu thị tính chất đối lập của hai văn hoá trong xã hội tư bản. Để tránh hiểu nhầm, văn bản này sử dụng thuật ngữ công tác “văn hoá – giáo dục”.  
Muốn đạt tới chất lượng và hiệu quả của công tác văn hoá – giáo dục, phải giải quyết đồng bộ hàng loạt vấn đề từ quan niệm, nhận thức đến phương thức quản lý, hệ thống các biện pháp nghiệp vụ, gắn vào đó là cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên dùng, cuối cùng là đội ngũ cán bộ được chuyên môn hoá. Tuy vậy, nhận thức là khâu then chốt có tầm quan trọng mở đầu “đầu xuôi đuôi lọt”, giải quyết tốt khâu nhận thức, sẽ tạo ra tiền đề để tiếp tục xử lý các vấn đề tiếp theo. Ở đây, sẽ tập trung phân tích vài khía cạnh lý luận của công tác văn hoá – giáo dục, giúp cán bộ chỉ đạo và quản lý công tác văn hoá nhận diện được thực chất lĩnh vực công tác này. Các vấn đề còn lại sẽ có cách xử lý riêng.
Trước hết, cần có quan niệm rõ ràng về công tác văn hoá – giáo dục. Đã có nhiều cách lý giải khác nhau về nó, một quan niệm phổ quát cho rằng : “Là bộ phận nằm trong hệ thống giáo dục cộng sản chủ nghĩa, công tác văn hoá – giáo dục là một tổng thể biện pháp tổ chức và hướng dẫn quần chúng tham gia vào các hoạt động văn hoá – xã hội, tiến hành chủ yếu trong thời gian rỗi nhằm bồi dưỡng, nâng cao, góp phần hoàn thiện nhân cách và đáp ứng các nhu cầu văn hoá của họ”.
Hệ thống giáo dục cộng sản chủ nghĩa bao gồm :
- Nền giáo dục nhân dân : giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông, học nghề, bổ túc văn hoá, giáo dục trung học – chuyên nghiệp và đại học,
- Các cơ quan nghệ thuật : văn học, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, múa, nhiếp ảnh, kiến trúc,
- Các cơ quan truyền thông đại chúng : báo chí, đài, ti vi, thông tấn xã, nhà xuất bản, v.v…
- Các cơ quan văn hoá – giáo dục : Nhà văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, bảo tàng, triển lãm, nhà thông tin, công viên văn hoá, …
Thời gian rỗi gồm :
- Rỗi hàng ngày : ngoài 8 giờ vàng ngọc và thời gian dành cho các việc ăn uống, vệ sinh, sinh hoạt,
- Rỗi hàng tuần : tối thứ bảy, ngày chủ nhật,
- Rỗi hàng năm : các ngày lễ, nghỉ hè, nghỉ phép.
Công tác văn hoá – giáo dục được tiến hành tại các thiết chế văn hoá như : nhà văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, bảo tàng, công viên văn hoá, … trong đó nhà văn hoá là thiết chế mang tính tổng hợp, có quy mô lớn, nó thường quy tụ tất cả các thiết chế trên lại, hoạt động tại một địa điểm nhất định. Địa điểm ấy tuỳ theo quy mô lớn nhỏ mà có tên gọi là Cung văn hoá, nhà văn hoá, trung tâm sinh hoạt văn hoá, hoặc nhỏ hơn nữa thì gọi là câu lạc bộ (xí nghiệp), tụ điểm văn hoá (phường).
Trong thực tế, hiện nay nhà văn hoá đang sử dụng nhiều loại phương tiện văn hoá như : ngôn ngữ nói (diễn giảng), văn tự (báo chí, sách), văn vật (hiện vật triển lãm, bảo tàng), tác phẩm nghệ thuật, trò chơi, nghi thức (lễ hội) và các thiết bị văn hoá như : máy chiếu phim, vi-đê-ô cát-xét, ti-vi, đài, các thiết bị âm thanh và ánh sáng, … Vì vậy, công tác giáo dục tại nhà văn hoá là đại diện đầy đủ cho công tác văn hoá – giáo dục.
Muốn thấy rõ đặc điểm cơ bản của công tác văn hoá – giáo dục, thiết tưởng cần so sánh nó với công tác giáo dục ở trường phổ thông.
Điều dễ nhận thấy nhất là đối tượng chủ yếu của văn hoá – giáo dục là những người lớn tuổi, còn ở trường phổ thông là lớp tuổi vị thành niên.
Vị thành niên là lớp người, mà toàn bộ hoạt động của nó còn đang mang tính chất “tập dượt” để tiến đến hình thành, khác hẳn thế, người lớn tuổi là những cá thể đã định hình nhân cách, đã có nghề nghiệp xác định. Trung tâm chú ý của người lớn là lao động, là tìm cách thay đổi điều kiện lao động để nâng cao hiệu suất, cải thiện đời sống, nhu cầu thường xuyên của họ là muốn được giải phóng mọi ức chế tâm – sinh lý, để đạt tới sự sảng khoái trong công việc, là muốn được phát huy đến cao độ mọi dự trữ tiềm năng văn hoá để tự hoàn thiện nhân cách của mình.
Không giống như học sinh tới trường là để tiếp nhận một cách có hệ thống những tri thức cần thiết để chuẩn bị học lấy một nghề nhất định làm vốn vào đời, người lớn tuổi đến tham gia sinh hoạt tại cơ quan văn hoá – giáo dục là nhằm bồi bổ những thiếu hụt mà họ đang có nhu cầu. Chẳng hạn, người bác sĩ có giọng hát hay nhưng chưa kịp bộc lộ, đến với nhà văn hoá là cốt được bồi dưỡng để phát huy tiềm năng đó. Chị ca sĩ đến nhà văn hoá không phải để luyện giọng mà là để bồi dưỡng các năng lực khác như : nấu ăn, may mặc, thêu thùa hoặc trau dồi kinh nghiệm về nuôi con, chữa bệnh, chăn nuôi gia súc, v.v…
Như vậy mục tiêu của giáo dục phổ thông là hình thành nhân cách, nghề nghiệp, còn mục tiêu của hoạt động văn hoá – giáo dục là bồi dưỡng, phát huy mọi tiềm năng văn hoá, làm cho các tiềm năng ấy hiện thực hoá thành đời sống tinh thần phong phú của xã hội. Đối với mỗi cá nhân thì đây cũng chính là quy trình làm cho mỗi người có điều kiện phát triển hài hoà và toàn diện. Giáo dục học gọi đó là sự hoàn thiện nhân cách.
Giữa hai hệ thống giáo dục vừa kể trên còn có điểm khác về tính chất nữa. Ở trường phổ thông học sinh phải chấp hành vô điều kiện mọi quy chế học đường, quan hệ giữa thày giáo và học sinh là mối quan hệ giữa người truyền đạt và người tiếp nhận, không có sự đổi chiều giữa hai đối tượng này. Vì thế, trường phổ thông là một thiết chế giáo dục có thể chế nghiêm khắc. Trái lại, đến với nhà văn hoá là những người có sở thích, ở đây nguyên tắc tự nguyện được đặt lên hàng đầu. Hay thì tham dự, không hay thì họ từ chối, không ai có quyền ép buộc cả. Hơn nữa, công chúng đến sinh hoạt tại nhà văn hoá phần đông là lớn tuổi, trong số đó một số người có danh tiếng như : các anh hùng, chiến sĩ thi đua, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nhà báo, bác sĩ, kỹ sư, v.v… Họ đến nhà văn hoá để tìm cái sở cầu, tìm bạn “tri âm”, “tri kỷ” hoặc có thể tham gia tổ chức và hướng dẫn hoạt động văn hoá cho những người khác. Như vậy, người đến thăm quan nhà văn hoá lúc đầu có thể là khách, sau trở thành chủ thể giáo dục làm việc như cộng tác viên. Điều này nói lên tính chất mềm dẻo và năng động của cơ chế giáo dục tại nhà văn hoá.
Đối tượng, mục tiêu, tính chất là những dấu hiệu cơ bản phân biệt hai loại hình giáo dục kể trên, đồng thời cũng là những đặc điểm chủ yếu để nhận diện công tác văn hoá – giáo dục.
Những năm gần đây, nhờ cố gắng hoạt động của toàn ngành văn hoá, mạng lưới cơ quan văn hoá – giáo dục đang từng bước hình thành và đang khẳng định vai trò xã hội của nó trong công cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá.
Số liệu tổng kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 1982-1987 cho biết, tính đến 1985 cả nước đã có :
- Nhà văn hoá tỉnh, thành phố                     28
- Nhà văn hoá huyện, quận, thị xã                172
- Nhà văn hoá xã, phường                           1000
- Thư viện tỉnh, thành phố                          45
- Thư viện quận, huyện, thị xã                     426
- Thư viện xã, phường                                2000
- Bảo tàng tỉnh, thành phố                          33
- Nhà truyền thống quận, huyện                   26
- Rạp hát                                                   79
- Rạp chiếu bóng                                                 339
Trên đây là số thiết chế văn hoá do Bộ Văn hoá quản lý, chưa kể số thiết chế văn hoá do các ngành quân đội, công đoàn, giáo dục, thanh niên xây dựng.
Con số trên đây rất đáng làm chúng ta tự hào, nó đánh dấu bước trưởng thành trong sự nghiệp xây dựng văn hoá.
Tuy vậy, quan sát hoạt động của một số nhà văn hoá hiện thời, khiến ta phải suy nghĩ phân vân. Có không ít nhà văn hoá hiện nay đã lấy “dịch vụ văn hoá” làm hoạt động chủ chốt, như : tổ chức chiếu phim, mở quán cà phê có nghe nhạc, mở phòng cưới, tổ chức nhảy múa có bán vé vào cửa, biểu diễn nghệ thuật, chiếu vi-đê-ô cát-xét, vui chơi có thưởng, quay xổ số kiến thiết và hội chợ triển lãm có bán hàng đặc sản của địa phương, … Tính chất ồn ào náo nhiệt của những hình thức hoạt động bề nổi này khiến nhiều đồng chí lãnh đạo địa phương yên tâm về hiệu quả của hoạt động nhà văn hoá.
Thực ra, tổ chức dịch vụ văn hoá đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân là một chức năng của cơ quan văn hoá – giáo dục, nhưng đây không phải và không thể là chức năng cơ bản của nó. Nếu nhà văn hoá mà chỉ có chiếu phim và biểu diễn văn nghệ thì nó trở thành rạp hát, chứ không còn là cơ quan văn hoá – giáo dục.
Muốn nhận biết hiệu quả xã hội của bất cứ thiết chế văn hoá nào, thì điều quan trọng là phải trở về với chức năng xã hội cơ bản của nó. Đối với hoạt động của nhà văn hoá cũng phải làm như vậy.
Nhân loại đã tồn tại như một giống loài chứ không phải như tổng số của những cá thể biệt lập. Từng người không thể nào tự hoàn chỉnh về các mặt sinh học, tâm lý, xã hội. Chính vì vậy, ngay từ khi hình thành, con người đã có nhu cầu giao tiếp để trao truyền kinh nghiệm và nhu cầu ấy trở thành bản chất tự nhiên của hoạt động sống.
Điều cần nhấn mạnh là năng khiếu không phải là cái bẩm sinh ở con người. Chỉ một số tư chất nào đó về sinh học, sinh lý, thần kinh mới là những yếu tố bẩm sinh, giúp cho việc tiếp nhận cách thức hoạt động của người khác, nói khái quát là tiếp nhận vốn văn hoá của thế hệ trước. Sự tiếp nhận gia tài văn hoá do thế hệ trước truyền lại, đối với cá nhân, gọi là quá trình “học làm người”, đó là mặt quan trọng nhất để hình thành nên con người văn hoá, là quá trình văn hoá hoá con người trong xã hội.
Nhà tâm lý học Liên Xô A.N. Lê-ôn-chi-ép có một ví dụ rất hay. Ông nói : “Giả thử hành tinh của chúng ta xảy ra một tai biến nào đó dẫn đến kết quả là chỉ còn những trẻ nhỏ sống sót, toàn bộ số người lớn bị chết hết, thì có lẽ lịch sử của loài người nhất định sẽ bị đứt đoạn, mặc dù loài người vẫn tồn tại. Các báu vật của nền văn hoá hãy còn nguyên vẹn, nhưng không có ai truyền thụ lại cho các thế hệ mới. Máy móc không hoạt động, sách báo không ai đọc, các tác phẩm nghệ thuật mất hết chức năng thẩm mỹ của nó. Lịch sử loài người có lẽ phải bắt đầu lại hoàn toàn mới” (Dẫn theo sách : Con người. Những ý kiến mới về một đề tài cũ. T.1 (sách dịch). NXB Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.297).
Sự phân tích trên đây nói lên chức năng cơ bản khởi thuỷ của hoạt động văn hoá là trao truyền kinh nghiệm, tức là chức năng giáo dục để hình thành nên mẫu nhân cách, phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Trong lĩnh vực hoạt động của cơ quan văn hoá – giáo dục, chức năng ấy được cụ thể hoá thành giáo dục cộng sản chủ nghĩa đối với nhân dân lao động. Giáo dục cộng sản chủ nghĩa nói ở đây không phải chỉ là giảng dạy về nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, mà là sự giáo dục toàn diện bao gồm cả trí, đức, mỹ, thể dục và kỹ thuật tổng hợp, nhằm tạo nên những con người có đủ phẩm chất và năng lực tham gia xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Chức năng giáo dục cuả nhà văn hoá lại được phân thành các nhiệm vụ cụ thể như sau :
a) Trí dục : Tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, xây dựng thế giới quan và nhân sinh quan cộng sản ; tuyên truyền, phổ biến các vấn đề thời sự, chính trị, làm cho quần chúng thông hiểu mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến những thành tựu về khoa học, kỹ thuật và hướng dẫn áp dụng vào đời sống thực tiễn, đấu tranh đập tan mọi luận điệu tuyên truyền của đế quốc và tay sai.
b) Đạo đức : Giáo dục lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng ; giáo dục thái độ cộng sản đối với lao động, rèn luyện ý thức bảo vệ của công, trau dồi các đức tính : trung thực, thật thà, khiêm tốn, chăm chỉ, tiết kiệm, … xây dựng các chuẩn mực của nếp sống mới, của gia đình văn hoá, của con người mới, xây dựng hệ ứng xử mới, hệ nghi thức biểu hiện ở các việc tang, cưới, giỗ, lễ tết, hội ; nêu gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán các hiện tượng tiêu cực trong mọi ứng xử xã hội.
c) Mỹ dục : Giáo dục quan điểm thẩm mỹ Mác – Lê-nin, xây dựng thị hiếu lành mạnh, trong sáng tác cũng như thưởng thức văn nghệ ; hình thành quan điểm thẩm mỹ tiến bộ trong sinh hoạt : ăn, mặc, ở, thẩm mỹ trong giao tiếp, trong lao động và trong quan hệ với thiên nhiên ; thu hút quần chúng tham gia hoạt động văn nghệ không chuyên, phổ biến kiến thức phổ thông về nghệ thuật, tạo điều kiện để họ tiếp cận với các giá trị nghệ thuật của thế giới ; phê phán các quan điểm suy đồi trong hoạt động nghệ thuật.
d) Thể dục : giáo dục những kiến thức phổ thông về vệ sinh phòng bệnh, tổ chức bảo vệ sức khoẻ và rèn luyện thân thể, tổ chức vui chơi, giải trí.
Tóm lại, giáo dục là chức năng bao trùm, là thuộc tính bản chất thấm nhuần trong từng hoạt động diễn ra tại nhà văn hoá. Ngoài ra, nhà văn hoá còn có các chức năng tổ chức sự giao tiếp, chức năng phát huy khả năng sáng tạo của quần chúng và chức năng đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí cho họ.
Giao tiếp là chức năng đặc thù của hoạt động nhà văn hoá. Có nhiều hình thức giao tiếp như : các dạng sinh hoạt chuyên đề, diễn giảng, tạp chí miệng, sinh hoạt văn nghệ, lễ hội, … nhưng hình thức giao tiếp độc đáo nhất là giao tiếp của tập thể người hoạt động theo sở thích, tức là hoạt động của các nhóm câu lạc bộ.
Phát huy khả năng sáng tạo của quần chúng là chức năng quan trọng của hoạt động nhà văn hoá. Trước hết cần phân biệt giữa hoạt động của giới văn nghệ chuyên nghiệp và hoạt dộng văn nghệ của quần chúng. Sáng tác và biểu diễn là hoạt động nghề nghiệp của văn nghệ sĩ chuyên nghiệp, còn quần chúng nhân dân tham gia văn nghệ không phải để kiếm sống, mà là để tự biểu hiện mình, khẳng định mình, qua đó mà đạt tới sự trưởng thành về tư tưởng, đạo đức và về khoái cảm thẩm mỹ, tức là đạt tới sự hoàn thiện nhân cách. Do quần chúng tham gia văn nghệ để tự bộc lộ xúc cảm của mình, nên tác phẩm của họ thường giữ được vẻ hồn nhiên, tươi mát, dù kỹ thuật biểu hiện chưa được trau chuốt. Ngược với tình hình trên, nhiều đơn vị văn nghệ quần chúng chạy theo xu hướng bắt chước văn công chuyên nghiệp, kết quả chỉ tạo ra được những tiết mục sơ lược, khô khan, sớm muộn sẽ đi vào lối mòn của sự phô diễn kỹ thuật. Đây là nhược điểm cần uốn nắn.
Một trong những đặc điểm của xã hội công nghiệp là lao động được chuyên môn hoá sâu sắc, thời gian được phân chia rành mạch : giờ nào việc ấy, mỗi người phải làm việc khẩn trương trong một hệ thống thao tác nhất định. Lao động với tiết tấu vừa dồn dập vừa lặp lại, như thế sẽ tạo nên sự mệt mỏi tinh thần. Nhà văn hoá có chức năng tổ chức nghỉ ngơi giải trí để giải toả căng thẳng, hồi phục tâm lực, trí lực và thể lực cho người lao động.
Trong các hình thức giải trí ở nhà văn hoá, các trò chơi, trò diễn, các sinh hoạt nhảy múa, ca hát, ngày hội, các buổi họp mặt thân mật của nhóm bạn, nhóm nghề, của những người cùng sở thích, của người thân trong gia đình, … có tác dụng giáo dục và giải trí rất lớn. Đây cũng là nét đặc sắc riêng của hoạt động nhà văn hoá.
Để đảm bảo cho các chức năng vận hành được tốt, công tác văn hoá – giáo dục còn đề ra những nguyên tắc như : nguyên tắc tính tư tưởng và tính Đảng cộng sản, nguyên tắc tính khoa học, nguyên tắc phát huy tính chủ động sáng tạo của công chúng, nguyên tắc xử lý có phân biệt đối với từng loại đối tượng. Ngoài ra có thể kể thêm nguyên tắc liên hệ chặt chẽ với đời sống thực tiễn, nguyên tắc thẩm mỹ thấm nhuần trong mọi hoạt động văn hoá.
Mỗi tác phẩm văn hoá thường chuyên chở một nội dung tư tưởng hay một giá trị văn hoá nào đó. Nguyên tắc tính tư tưởng và tính Đảng nói lên yêu cầu xử lý mỗi tác phẩm văn hoá phải xuất phát từ lợi ích của giáo dục cộng sản chủ nghĩa của Đảng. Còn lại là các nguyên tắc sư phạm, có thể tìm thấy trong các giáo trình về công tác tuyên truyền giáo dục của Đảng cộng sản.
Như vậy, muốn nâng cao chất lượng công tác văn hoá để đạt tới hiệu quả xã hội tích cực thì trước hết phải nắm vững hệ thống các chức năng, trong đó giáo dục là chức năng cơ bản, phải vận dụng thành thạo các nguyên tắc giáo dục như những chỉ tiêu kiểm tra chất lượng đối với các hoạt động văn hoá, đồng thời lại phải hoàn thiện bộ máy quản lý với đội ngũ cán bộ đủ trình độ chuyên môn, phải xây dựng cơ sở vật chất đúng với tiêu chuẩn chuyên dùng và phải đưa hoạt động nghiệp vụ vào đúng quỹ đạo kỹ thuật của công tác văn hoá – giáo dục.
Trên đây đã phân tích chức năng cơ bản của công tác văn hoá – giáo dục nhằm nâng cao nhận thức đối với lĩnh vực công tác này, các vấn đề còn lại có thể tìm thấy lời giải đáp trong các cuốn sách về nghiệp vụ (có thể tìm đọc cuốn : Nhà văn hoá. Mấy vấn đề lý luận về xây dựng và hoạt động. Trần Độ chủ biên, Nhà xuất bản Văn hoá – Hà Nội, 1986).
2) Chất lượng của nghệ thuật và hiệu quả xã hội của nó
Công tác văn hoá nói chung, hoạt động nghệ thuật nói riêng phải được nâng cao chất lượng. Đây là một đòi hỏi chính đáng, vì nghệ thuật có chất lượng thì sự tác động của nó mới có khả năng tạo ra hiệu quả tốt đối với xã hội.
Trong quan niệm thông thường của xã hội, khi nói chất lượng nghệ thuật, người ta nghĩ ngay tới chất lượng của tác phẩm nghệ thuật và khi nói về tác phẩm nghệ thuật thì lại chỉ chú ý tới chủ đề tư tưởng hoặc nội dung chính trị của tác phẩm. Quan niệm này không hoàn toàn sai, nhưng nó chưa được toàn diện và đầy đủ.
Thực ra hoạt động nghệ thuật là một quá trình, bắt đầu từ sự sáng tạo ra tác phẩm của nghệ sĩ, tác phẩm được nhân bản lên bằng cách phổ biến rộng rãi trong công chúng thông qua các phương tiện truyền hình, triển lãm tranh hay trình diễn trước công chúng, … Đó là qua kênh truyền đạt mà tác phẩm đến với công chúng. Công chúng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm sẽ có phản ánh trở lại, nhờ đó mà nghệ sĩ điều chỉnh tác phẩm của mình cho phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của công chúng. Tác phẩm của nghệ sĩ, kênh truyền đạt và công chúng là ba khâu liên kết chặt chẽ với nhau trong một chu trình khép kín. Chu trình ấy được gọi là hoạt động nghệ thuật. Đánh giá chất lượng của hoạt động nghệ thuật là phải đồng thời xem xét cả ba khâu này, bỏ sót một khâu nào đều là không đầy đủ.
Trước hết hãy xem tác phẩm của nghệ sĩ, vì đây là khâu quan trọng nhất.
Tác phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung tư tưởng và hình thức diễn đạt mà ta thường quen gọi là hình thức nghệ thuật.
Trong sự tiếp cận với nghệ thuật, một thói quen phổ biến nhất xưa nay là “đọc sách”, mà đọc sách thường là chỉ tập trung theo dõi cốt truyện. Thói quen ấy được áp dụng vào việc cảm thụ tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, hội hoạ, múa, …thành thử nghe nhạc, xem tranh cũng như đọc sách, chỉ chăm chú đọc cốt truyện để lý giải nội dung tư tưởng của tác phẩm, mà có phần xem nhẹ việc cảm thụ nghệ thuật tức là chưa thưởng thức bản thân sức biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật. Đối với một số không ít cán bộ văn hoá thì nội dung tư tưởng của tác phẩm còn bị quy vào tư tưởng chính trị, cho nên khi thấy một tác phẩm nghệ thuật nào đó không có vấn đề chính trị là có thể cho qua, dù nghệ thuật có trung bình, thậm chí yếu kém và thô sơ cũng được.
Trong những tác phẩm loại này, tác giả của chúng có thể có động cơ tư tưởng tốt, nhưng tư tưởng ấy một khi đưa vào tác phẩm thì nó bị nghệ thuật chi phối, tư tưởng tốt mà nghệ thuật xoàng thì vẫn không làm nên tác phẩm hay được. Nói nghệ thuật là nói đến cái mới, tính độc đáo của ngôn ngữ quán xuyến trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật. Ngôn ngữ diễn đạt thô thiển, tạo ra hình tượng nghệ thuật mờ nhạt thì bản thân nó không đủ sức chuyên chở tư tưởng tốt đến với công chúng. Tiếp xúc với tác phẩm, mà nội dung giáo huấn của nó quá lộ liễu thì người xem dễ có cảm giác khó chịu, dường như bị xúc phạm vào tính tự trọng của họ. Trong cuộc sống xã hội, giáo dục có vị trí vô cùng quan trọng, nó góp phần hình thành nên nhân cách con người. Nhưng giáo dục đối với người lớn tuổi và thanh niên có trình độ học vấn có một đặc điểm rất đáng lưu ý là : Người lớn tuổi là người đã đạt tới sự phát triển thuần thục về tâm lý, sinh lý. Họ đã tích luỹ được vốn sống phong phú, đã tương đối ổn định trong việc lựa chọn các mục tiêu, quan điểm, lý tưởng, xu hướng và nguyện vọng về cuộc sống, đã có một nghề xác định. Tóm lại, họ là những cá thể đã định hình về nhân cách. Vì vậy, tiếp xúc với nghệ thuật, người lớn tuổi muốn lắng nghe nghệ sĩ gợi ý, mách bảo để họ lựa chọn phương thức tự hoàn thiện lấy nhân cách của mình. Nói khác đi, họ có nhu cầu tự giáo dục. Tóm lại, tác phẩm nghệ thuật mà ý đồ giáo huấn bộc lộ thô thiển là không phù hợp với tâm lý của lớp công chúng lớn tuổi và thanh niên có trình độ học vấn. Hơn nữa, nội dung tư tưởng của tác phẩm có hàm súc, ngầm ẩn nhiều tầng ý nghĩa, khiến người cảm thụ phải tìm mới hiểu ; từ chỗ hiểu nông cạn đến hiểu sâu sắc, quá trình tìm và hiểu chính là quá trình tái sáng tạo, làm nên khoái cảm thẩm mỹ ở người cảm thụ. Và nhờ khoái cảm thẩm mỹ mà có biến đổi nhân cách. Đây chính là tác động giáo dục của tác phẩm nghệ thuật chân chính.
Nói về tác phẩm nghệ thuật chân chính, chủ tịch Phạm Văn Đồng đã viết : “Hai mặt chủ yếu của văn học và nghệ thuật là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Đã nói đến văn học, nghệ thuật thì phải thấy nội dung tư tưởng rất quan trọng, nhưng đồng thời giá trị nghệ thuật cũng rất quan trọng. Ta đòi hỏi hai mặt đó đều phải tốt một trăm phần trăm. Nội dung tư tưởng quan trọng vì nó là linh hồn và tất nhiên đối với chúng ta đó là yêu cầu rất cao, cao chừng nào tốt chừng ấy. Nhưng mà đừng một chút nào vì đòi hỏi về nội dung tư tưởng cao như vậy mà tự cho phép mình, hay cho phép bất cứ người nào xem nhẹ mặt nghệ thuật, giá trị nghệ thuật, trình độ nghệ thuật, làm cho nó kém đi, hạ thấp nó. Làm như vậy thì còn gì là nghệ thuật ? Nghệ thuật thì phải thực sự là nghệ thuật” (Phạm Văn Đồng : Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, NXB Văn học, Hà Nội, 1969, tr.134).
Tóm lại, tư tưởng cao mà hình thức nghệ thuật thô kệch thì kết quả là âm tính. Chất lượng nghệ thuật trước hết thể hiện ở khâu sáng tạo ra tác phẩm. Chúng ta đang phấn đấu để nâng cao chất lượng sáng tạo, hướng tới các nhiệm vụ đã được xác định, đáp ứng đòi hỏi trước mắt của công chúng hiện thời, đồng thời vươn lên xây dựng tác phẩm lớn tác động sâu xa đến cuộc sống và con người.
Nhắc nhở nhiệm vụ sáng tạo của văn nghệ sĩ, bài nói của đồng chí Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc ngày 25/2/1987 có đoạn viết : “Phải sáng tạo được những điển hình tiêu cực có chiều sâu hơn, có sức phê phán và tố cáo mạnh mẽ hơn, chẳng những chỉ để công chúng được cười hả hê mà khiến cho mọi người căm tức, từ đó mà có tác dụng xây dựng rõ rệt. Cao hơn thế và khó hơn thế phải sáng tạo được những điển hình tích cực chân thực và có sức hấp dẫn mãnh liệt, chiếm được lòng yêu mến say mê của công chúng, thổi bùng niềm khát khao sống đẹp đẽ, những nhân vật từ tác phẩm đi vào cuộc đời, thành người bạn gần gũi, thành tấm gương động viên đối với mỗi người lao động, nhất là đối với thanh niên”.
Tác phẩm nghệ thuật giống như chiếc bình tích điện (accumulateur), ở đây là vật tích giá trị văn hoá nhân loại. Muốn làm cho bình phát sáng thì phải nối nó với hệ thống bóng điện, nói khác đi là phải làm cho tác phẩm đến với công chúng thì giá trị của nó mới được phát huy tác dụng, tức là đạt tới hiệu quả xã hội. Đây chính là khâu cảm thụ nghệ thuật của công chúng. Cảm thụ nghệ thuật không phải là một hành động cô lập, tách rời khỏi nhân cách xã hội cùng với vốn kinh nghiệm sống, gọi tắt là vốn văn hoá của người cảm thụ tác phẩm. Cảm thụ nghệ thuật sẽ gây ra sự biến đổi trong ý thức của người cảm thụ, trong mối quan hệ của anh ta đối với hiện thực khách quan, trong những hành động diễn tiến tiếp theo của anh ta, nói khác đi là tác phẩm nghệ thuật có khả năng chiếm lĩnh tình cảm ý thức của người cảm thụ, hướng dẫn họ lựa chọn phương thức ứng xử hợp với tiến bộ xã hội.
Trong thực tế chúng ta nhận thấy có người xem vở diễn nước mắt chảy ròng ròng, cũng vở ấy có người xem lại cười hề hề, … Rõ ràng cảm thụ nghệ thuật gắn liền với điều kiện tâm lý - lịch sử của người cảm thụ. Có người xem nghệ thuật chỉ thiên về phê phán, phê phán để tỏ ra có hiểu biết ít nhất là ngang với tác giả. Ngược lại trẻ em tiếp cận với nghệ thuật chỉ tiếp thu mà không phê phán. Lại có người xem nghệ thuật xong thấy đầu óc phân vân, không biết hoặc không dám nói gì, vì nói ra sợ bị cười là nói sai, nói trật. Thái độ đúng đắn nhất đối với tác phẩm nghệ thuật là vừa cảm thụ vừa phê phán, làm cho sự cảm thụ được sâu sắc hơn, nhờ đó mà cảm nhận được chất lượng nghệ thuật.
Muốn thưởng thức nghệ thuật cũng phải học và tập công phu. Học là để nắm vững đặc trưng ngôn ngữ và kết cấu tác phẩm của từng thể loại nghệ thuật, tập là thường xuyên tiếp xúc với tác phẩm như nghe nhiều, xem nhiều và đọc nhiều, đọc tác phẩm và đọc cả những bài phê bình tác phẩm, nhờ đó mà nâng trình độ cảm thụ của người đọc lên ngang tầm người viết. Đối với các tác phẩm nghệ thuật thuộc loại nghe nhìn cũng phải kiên trì học và tập như thế.
Về một phương diện nào đó, có thể xem nghệ thuật giống như một ngôn ngữ. Ở đó có những nguyên tắc tu từ và đặt câu (cú pháp) riêng cho từng loại nghệ thuật. Muốn “đọc” tác phẩm nghệ thuật thì phải nắm vững các nguyên tắc về tu từ và cú pháp của nó. Cho nên học và tập thưởng thức nghệ thuật gần giống như học ngoại ngữ. Tiếp nhận một từ mới cũng khó như làm quen với người bạn mới, nhưng trước lạ sau quen. Cứ kiên trì tiếp xúc đến một lúc nào đó sẽ làm chủ được sự đánh giá đối với tác phẩm nghệ thuật.
Ngày nay xã hội đang đạt tới sự phân công lao động chuyên môn hoá ngày càng tinh vi và sâu sắc. Kết quả của phân công lao động ấy đã phân hoá công chúng nghệ thuật thành những đối tượng khác nhau theo dấu hiệu nghề nghiệp và lớp tuổi. Giới trí thức ở thành phố có thể vẫn say sưa nghe nhạc giao hưởng, còn những người lao động thường mê các giai điệu du dương, có khả năng làm thư dãn thần kinh, giải toả những căng thẳng về tâm – sinh lý.
Xưa kia ba bốn thế hệ có thể sống chung trong một ngôi nhà, cùng thoải mái đi xem hát chèo vào những đêm hội làng rộn rã. Ngày nay, ông và cháu cùng ngồi xem ti-vi là có thể phát sinh mâu thuẫn. Ông muốn nghe tiếp chất véo von của khúc dân ca chèo thì cháu lại muốn tắt ngay để chuyển sang kênh nhạc nhẹ. Hoặc như khi cùng ngồi xem một đoạn phim chiến đấu, ông bồi hồi nhớ lại không khí hào hùng của cái ngày vác cái mã tấu lên lấy huyện, hoặc nghĩ về những bước chân rầm rập hành quân ngang dọc đất nước đuổi kẻ thù chung, còn cháu sẵn sàng nhại lại hành động của những người trong phim, cầm bất cứ vật gì có thể giả làm súng bắn rẹt rẹt vào mọi người. Nếu ông doạ cháu, nó lập tức quay súng nổ vào ông rồi cười. Nguy hiểm là vậy ! Cùng một tiết mục nghệ thuật, đối với ông là sự hồi suy của ký ức về một thời hào hùng của dân tộc, còn đối với cháu lại có thể là sự đầu độc óc trẻ thơ của nó.
Xem tác phẩm khoả thân cũng thế, có người thấy đây là kiệt tác của hoá công, càng ngắm càng say, nhờ đó đạt tới sự thanh thản và cao khiết của tâm hồn, số người khác thì lại chỉ khai thác khía cạnh thấp hèn của sự cảm thụ nghệ thuật. Nghệ thuật, như người ta thường nói, là thức ăn tinh thần của con người. Thức ăn ấy chỉ trở nên “ngon miệng” khi hợp với khẩu vị của từng loại đối tượng, với trình độ thưởng thức của từng lớp tuổi.
Chất lượng nghệ thuật còn phụ thuộc vào chất lượng của kênh truyền đạt, tức là những phương tiện chuyên chở giá trị của tác phẩm đến với công chúng. Sách viết hay mà in giấy đen, chữ quá nhỏ lại sai sót thì người đọc sẽ giảm đi nhiều hứng thú. Thưởng thức nhạc mà phòng nghe ồn ào, máy móc lạo xạo gây ra nhiều tạp âm thì dù bản nhạc hay đến đâu cũng không có ý nghĩa.
Trong thực tiễn hoạt động nghệ thuật hiện thời, chúng ta còn quá dễ dãi với việc tổ chức trình diễn tác phẩm. Nhà hát chật chội, rạp chiếu phim ồn ào, ghế ngồi xiêu vẹo, vệ sinh không bảo đảm thì không thể nào đạt hiệu quả cao trong cảm thụ nghệ thuật được. Tổ chức trình diễn nghệ thuật có thiếu sót sẽ tạo ra tâm lý tuỳ tiện trong thưởng thức nghệ thuật. Nếu khán giả đến nhà hát mà mang sẵn ý thức như đến “chợ giời” thì nghệ thuật sẽ không có môi trường nuôi dưỡng, nó trở nên suy thoái chức năng, chẳng những gây thiệt hại cho hoạt động nghệ thuật, mà còn góp phần tạo ra nếp sống xã hội thiếu lành mạnh. Đành rằng, hiện nay cơ sở vật chất dành cho hoạt động nghệ thuật còn nghèo nàn, nhưng nếu cơ quan tổ chức biểu diễn quan tâm đến việc tạo ra môi trường trang trọng cho sự trình bày tác phẩm nghệ thuật thì chắc chắn sẽ khắc phục được nhiều nhược điểm. Gần đây, buổi hoà nhạc do Nhạc viện Hà Nội tổ chức nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập là ví dụ thú vị về một buổi sinh hoạt nghệ thuật nghiêm túc và trau chuốt. Buổi hoà nhạc ấy đã diễn ra trong không khí trang nghiêm, thậm chí thiêng liêng đối với đông đảo công chúng. Tự nhiên, thính giả cảm thấy sảng khoái, trân trọng khi nghe âm nhạc, vì thế mà buổi sinh hoạt có hiệu quả rõ rệt.
Tóm lại, chất lượng nghệ thuật là chất lượng của ba khâu trong quá trình hoạt động nghệ thuật : sáng tạo của văn nghệ sĩ, kênh truyền đạt và công chúng cảm thụ tác phẩm. Ba khâu ấy là một dây xích liên quan với nhau rất chặt chẽ, buông lỏng một khâu sẽ gây tác động xấu đến toàn bộ quá trình. Có tác phẩm hay, phương tiện truyền đạt tốt, lại biết tổ chức công chúng thưởng thức nghệ thuật hợp với thị hiếu và trình độ cảm thụ của họ, thì tác phẩm nghệ thuật sẽ có tác động sâu sắc đối với công chúng, tức là có hiệu quả xã hội.
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ VI nói tới hiệu quả xã hội của hoạt động văn hoá, nghệ thuật, nhưng khi chúng ta tiến hành các hoạt động này để đạt hiệu quả xã hội thì có ngay hiệu quả kinh tế đi kèm. Như vậy là trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Ngày nay, khi tiến hành các hoạt động văn hoá, nghệ thuật trước hết phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế của nó. Từ việc tổ chức một buổi hội thảo khoa học, cho ra đời một cuốn sách, tờ báo, vở kịch, bộ phim hay tổ chức lễ hội đều phải tính tới hiệu quả kinh tế. Ở đây hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần có nghĩa là doanh thu nhiều, mà cái chính là tổ chức thế nào cho tiết kiệm, sử dụng nhân tài, vật lực hợp lý mà đạt kết quả tối ưu. Có những tiết mục doanh thu không nhiều, thường khi phải bù lỗ, vẫn có vấn đề hiệu quả kinh tế. Khi một vỡ diễn tốt, cuốn phim hay, tiểu thuyết mới thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng, kịch và phim ấy sẽ phổ biến rộng rãi và phát hành rộng rãi và xuất cảng ra nước ngoài, sách in với số lượng lớn và phát hành rộng khắp, kết quả là doanh thu của tác phẩm sẽ lớn. Trong trường hợp này hiệu quả kinh tế thống nhất và tỷ lệ thuận với hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của nghệ thuật không phải lúc nào cũng đi song hành với nhau theo tỷ lệ thuận.
Vấn đề đặt ra như sau : trong công cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá hiện thời, chúng ta đang đấu tranh để khẳng định hệ thống giá trị mới, phê phán và loại bỏ các giá trị phi xã hội chủ nghĩa. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt ấy, bên cạnh những tác phẩm nghệ thuật chân chính được lớp công chúng tiến bộ ủng hộ, vẫn còn tồn tại một số tác phẩm giả nghệ thuật do lớp công chúng lạc hậu nuôi dưỡng. Vì vậy khi thấy một vở diễn ăn khách, trước hết chúng ta phải xem khách ấy thuộc lớp công chúng nào, do nguyên nhân nào mà tán thưởng. Chỉ sau khi đã xem xét kỹ càng mới có thể nhận định về hiệu quả xã hội của vở diễn được. Nghe nói có bà bán hàng ở chợ Sắt, Hải Phòng xem một vở cải lương tới 18 lần. Bà ấy ngồi bán hàng, có người mang vé đến theo hợp đồng hàng ngày. Nếu nhà hát chỉ phục vụ lớp công chúng như bà bán hàng trên đây thì chỉ có thể tạo ra hiệu quả xã hội giả mạo mà thôi.
Bàn về hiệu quả xã hội, không thể nào bỏ qua cái gọi là hiệu quả tức thời và hiệu quả lâu dài của nghệ thuật. Dường như lâu nay chúng ta chỉ mới chú ý đến cái trước mắt, muốn tác phẩm nghệ thuật tức khắc phải có tác dụng đến các việc tuyển quân, thu thuế, làm thuỷ lợi, làm cho nghệ thuật trở thành tác phẩm cổ động tức thời. Đành rằng nghệ thuật có nhiệm vụ đóng góp vào việc bồi dưỡng tình cảm và ý thức của nhân dân, động viên và cổ vũ họ vượt qua khó khăn tiến lên hoàn thành mọi nghĩa vụ xã hội, nhưng biến nghệ thuật thành một tác phẩm thuần tuý cổ động là không đúng với bản chất của nó.
Thực ra, tác động của nghệ thuật là thứ tác động lâu dài ngấm dần, nhiều chiều, nhiều bình diện, từ đó mà tạo ra hiệu quả xã hội, tức là góp phần hình thành nên nhân cách. Hiệu quả xã hội của hoạt động nghệ thuật là mức độ tác động của nó vào tinh thần, tâm hồn người thưởng thức ; là sức tạo nên những niềm vui, những âm hưởng vươn lên cao cả, thanh khiết, tạo nên những xúc động nhân đạo, đầy thương yêu con người, tạo nên trạng thái tinh thần tốt đẹp, nhiều khoái cảm thẩm mỹ. Nếu những hoạt động nghệ thuật diễn ra liên tục lâu dài, những tác động trên tích luỹ trong người thưởng thức tạo nên trạng thái tinh thần, đạo đức cao cả một cách bền vững và như vậy là xây dựng thế giới tinh thần cao đẹp của con người, là xây dựng con người có nhân cách ngày càng tốt đẹp.
Trách nhiệm những người quản lý văn hoá và cả các nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn đều phải nghĩ đến công chúng, những người xem, nghe, hiểu được nhu cầu và thị hiếu lành mạnh của công chúng, phải cố gắng làm cho cảm hứng sáng tác và trách nhiệm tổ chức hướng vào công chúng, phù hợp với trạng thái tinh thần của công chúng, nhằm vào hướng nâng cao công chúng, không nên chỉ biết có cảm hứng chủ quan và chỉ có tự thoả mãn cảm hứng chủ quan, tuy rằng rất cần tôn trọng cảm hứng của nghệ sĩ. Người nghệ sĩ chân chính là người nghệ sĩ có cảm hứng thống nhất với cảm hứng của nhân dân, bắt nguồn từ cảm hứng chân chính của nhân dân.
Người quản lý văn hoá tuyệt nhiên không thể ỷ vào khó khăn vật chất mà tuỳ tiện dễ dãi trong tổ chức hoạt động nghệ thuật. Tuỳ tiện dễ dãi trong tổ chức hoạt động là coi thường công chúng, là thiếu trách nhiệm trước họ.
Về mặt này, muốn tính đến và tạo ra hiệu quả xã hội tích cực và tốt đẹp, cũng phải thấm nhuần tư tưởng “lấy dân làm gốc”.
Số phận của nghệ thuật thường khi còn dài hơn cuộc đời của một chế độ. Chế độ nô lệ, phong kiến đã ra đời, phát triển rồi kết thúc, nhưng tác phẩm nghệ thuật sinh ra từ các chế độ ấy còn tồn tại mãi mãi với thời gian. Phương Tây có câu : “Thời gian cũng phải sợ Kim tự tháp” là theo nghĩa này.
Tác động của nghệ thuật chân chính không chỉ dừng lại ở một thế hệ, một thời đại, một khung trời mà giá trị của nghệ thuật có thể xuyên thủng làn sương mù thời gian để vươn lên với ánh sáng tương lai.
Trên đây vừa phân tích tác động tích cực của nghệ thuật chân chính, thiết tưởng cũng nên nói đến tác động tiêu cực của nghệ thuật giả, tác phẩm xấu. Chẳng hạn, một tác phẩm có tư tưởng xấu mà hình thức diễn đạt trau chuốt, tinh vi có thể đánh lừa công chúng. Nó ngấm dần đầu độc quá trình hình thành nhân cách, góp phần tạo nên sự lộn xộn trong nếp sống mới của chúng ta. Nhiều thực nghiệm cho biết các cháu nhỏ sống trong môi trường nhạc giật gân, âm lượng quá ngưỡng, sẽ tạo ra thứ tâm lý què quặt, bệnh hoạn.
Như vậy khi nói đến hiệu quả xã hội của nghệ thuật ta thấy có hai mặt : hiệu quả tích cực và hiệu quả tiêu cực và chúng ta không nên quên rằng : kẻ địch thường sử dụng tác phẩm nghệ thuật như một phương tiện tác động tinh vi để phá hoại tư tưởng và tình cảm trong sáng của nhân dân.
Để đảm bảo hiệu quả xã hội tích cực cho hoạt động nghệ thuật, cần quan tâm đầy đủ đến khâu tổ chức công chúng. Gần đây, việc tổ chức biểu diễn có lúc đã để trôi nổi, đoàn nào muốn diễn ở đâu thì diễn, quảng cáo rùm beng thế nào cũng xong, kết quả là tác phẩm thường không tìm được bạn tâm huyết là lớp công chúng tiến bộ. Thay vào đó, những người nhiều tiền mua được vé, lớp người có thị hiếu tầm thường chiếm hết chỗ ngồi trong rạp hát. Họ bỏ tiền ra mua vé nuôi sống nhà hát, họ biểu thị sự khen chê theo nhu cầu giải trí thấp kém và thị hiếu thưởng thức lạc hậu của họ. Kết quả nghệ thuật sẽ bị hạ thấp chất lượng và hiệu quả xã hội đương nhiên bị hạn chế.
Thực ra, nhà hát nào cũng cần đến công chúng, công chúng là lý do tồn tại của nhà hát. Nhưng nếu chúng ta không tổ chức công chúng tức là đã để họ tuột khỏi sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà hát không có biện pháp điều khiển công chúng thì lớp công chúng lạc hậu sẽ điều khiển ngược lại. Kết quả sẽ làm cho hoạt động nghệ thuật đi chệch ra ngoài quỹ đạo của chúng ta. Vì vậy, việc cấp bách là cán bộ quản lý văn hoá nên đứng ra tổ chức công chúng cho nghệ thuật : nhà hát nào công chúng ấy, tác phẩm nào công chúng ấy, làm như vậy nhà hát có doanh thu mà vẫn đảm bảo chất lượng nghệ thuật, tức là có hiệu quả xã hội tích cực.
Tổ chức công chúng là phải hiểu được tình hình công chúng, hiểu cơ cấu dân cư, phân bố dân cư, phân loại được tính chất và điều kiện sống, nhu cầu thị hiếu của các nhóm dân cư khác nhau.
Có hiểu được và phân tích được dân cư, mới có thể biết được nên đưa loại hình nghệ thuật nào, tác phẩm nào, tiết mục nào, thể loại nào đến với bộ phận công chúng nào. Cần phải tổ chức sự thông tin, giới thiệu (quảng cáo) một cách rộng rãi và thường xuyên để cho mọi nhóm dân cư biết trước các chương trình kế hoạch hoạt động (biểu diễn và sinh hoạt) để người ta chủ động dự trù thời gian và tiền bạc. Tốt nhất là cần có sự tiếp xúc và hợp đồng giữa các đơn vị nghệ thuật và các tổ chức dân cư.
Xét đến cùng thì tác phẩm nghệ thuật vẫn là khâu quyết định nhất làm nên hiệu quả xã hội tích cực. Muốn có tác phẩm tốt, trước hết cần có sự quan tâm thích đáng đến người làm ra nó - lớp văn nghệ sĩ.
Chúng ta đã biết sáng tạo nghệ thuật không phải là một sự bùng cháy thình lình, hoặc là sự mách bảo của thế lực siêu nhiên mà sáng tạo nghệ thuật được tạo ra từ vốn sống dày dặn, từ lao động gian khổ và từ thái độ nhân đạo cộng sản đối với xã hội.
Chúng ta cần nhanh chóng có chính sách thoả đáng khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tạo ra những tác phẩm ngang tầm dân tộc và thời đại.
* * *
Muốn có hiệu quả xã hội tốt và ngày càng lớn thì phải có chất lượng cao của hoạt động văn hoá văn nghệ, có chất lượng cao của các tác phẩm nghệ thuật, của việc truyền bá nghệ thuật và của sự tổ chức công chúng.
Đó là trách nhiệm của mọi cấp lãnh đạo và mọi cấp quản lý văn hoá. Trách nhiệm của tất cả các cán bộ văn hoá và trách nhiệm của mọi nghệ sĩ. Việc nghiên cứu các chính sách chế độ cho hoạt động văn hoá, văn nghệ phải được nghiên cứu trên cơ sở các tư liệu phân tích khoa học đặc thù của lao động sáng tạo, đặc thù của tổ chức hoạt động văn hoá, văn nghệ và đặc thù thưởng thức của công chúng, không thể chỉ là những sự tính toán đơn giản và thiếu hiểu biết. Cần quán triệt tư tưởng “giải phóng mọi năng lực sản xuất” và tinh thần đổi mới, tinh thần dân chủ trong mọi việc nghiên cứu chính sách chế độ. Chính sách chế độ thật tốt là điều kiện có tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng nghệ thuật và hiệu quả xã hội của hoạt động văn hoá, văn nghệ.
Chương IV
Về đổi mới và phát triển văn nghệ
 Đường lối của Đảng ta trên lĩnh vực văn nghệ suốt mấy chục năm qua là đúng đắn và nhất quán. Nó là sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý mỹ học Mác – Lê-nin vào thực tiễn cách mạng và thực tiễn văn nghệ của đất nước ta, là sự thể hiện các luận điểm và tư tưởng lớn về văn nghệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Dưới ánh sáng đường lối đó đội ngũ văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn nghệ chúng ta đã xây dựng được một nền văn nghệ thực sự trưởng thành với sự có mặt và hoạt động tích cực của vô số các loại hình, loại thể đa dạng và nhiều vẻ, xét về mặt số lượng và với tính tư tưởng và tính nghệ thuật ngày càng được nâng cao về chất lượng.
Song văn nghệ ta vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi khách quan của cách mạng cũng như mong muốn chính đáng của nhân dân ta, của công chúng đối tượng phục vụ, nên trên cơ sở khẳng định lại và cụ thể thêm bản chất, chức năng và vai trò của văn nghệ, Đại hội Đảng lần thứ VI vừa qua một lần nữa khẳng định rõ vai trò đặc biệt quan trọng của văn nghệ, chức năng của văn nghệ, nhấn mạnh vai trò bồi dưỡng tâm hồn tình cảm, xây dựng bản lĩnh và nhân cách con người. Đại hội còn đề ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng văn nghệ hơn nữa theo tinh thần đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức và hành động cần thiết hiện nay. Nếu có thể nói Đại hội VI là Đại hội của đổi mới, Đại hội về giải phóng tiềm năng sản xuất nói chung trên toàn bộ đời sống xã hội thì cũng có thể nói riêng trên lĩnh vực văn nghệ : Đại hội đòi hỏi văn nghệ ta phải có một sự đổi mới về chất, một sự phát triển mới về chất lượng, một sự giải phóng sức sáng tạo nghệ thuật của toàn giới văn nghệ sĩ yêu nước và yêu nghề, yêu chủ nghĩa xã hội và yêu văn nghệ chúng ta.
Để đáp lại đòi hỏi chính đáng đó của Đảng và cũng là đòi hỏi tất yếu của quy luật phát triển khách quan của bản thân văn nghệ, toàn thể đội ngũ những người làm công tác văn nghệ, nhất là anh chị em văn nghệ sĩ chúng ta rõ ràng phải tiến hành một sự đổi mới toàn diện : đổi mới trong nhận thức và trên hành động, đổi mới trong nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm, của phong trào văn nghệ, đổi mới về tổ chức và cơ chế quản lý, về cán bộ và phong cách làm việc …
Trên tinh thần của yêu cầu đổi mới đó, ta cần bàn thêm về nhiệm vụ của văn nghệ và nghệ sĩ, cũng như về công tác quản lý văn nghệ.
* * *
Trước hết về bản chất của nền văn nghệ ta, Đại hội VI một lần nữa khẳng định : “đó là một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc”. Điều này nói lên rằng từ trong bản chất văn nghệ ta phải cùng một lúc có hai đặc điểm cơ bản nhất, quán xuyến nhất hay cũng có thể nói là bao trùm nhất : ấy là tính chất xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc Việt Nam. Sở dĩ như vậy vì đã là văn nghệ bao giờ cũng là văn nghệ của một dân tộc cụ thể nhất định và phải mang dấu ấn sâu sắc bản sắc dân tộc của dân tộc đó. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có một thứ văn nghệ phi dân tộc hay siêu dân tộc, chừng nào vẫn còn dân tộc và sự sinh thành và phát triển của con người nói chung và tính cách con người nói riêng còn chịu sự chi phối và ảnh hưởng từ phía cộng đồng dân tộc. Cho đến nay và chắc còn rất lâu về sau, bất cứ một con người cụ thể nào cũng đều là con người thuộc một dân tộc cụ thể nhất định. Văn nghệ phản ánh cuộc đời và số phận của những con người cụ thể như vậy, nên văn nghệ không thể không mang tính dân tộc. Bản thân tính quốc tế của văn nghệ xã hội chủ nghĩa trên thế giới hiện nay cũng chính là xuất phát từ tính dân tộc, dựa vào và nói lên tính dân tộc chân chính và độc đáo của từng nền văn nghệ dân tộc của mỗi dân tộc cụ thể.
Nhìn vào thời đại ngày nay của chúng ta, dân tộc ta rõ ràng đã không còn là dân tộc phong kiến cũng không phải là dân tộc tư bản chủ nghĩa, mà đã chuyển sang phạm trù dân tộc xã hội chủ nghĩa. Đảng và dân tộc ta đã chọn cho mình con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy hiện nay trên đất nước ta hãy còn chưa có chủ nghĩa xã hội với mọi biểu hiện đầy đủ của nó, song hoạt động của toàn dân, toàn Đảng ta không nằm ngoài quỹ đạo chung của chủ nghĩa xã hội. Không nên nghĩ máy móc rằng hiện nay xã hội ta đang ở thời kỳ quá độ thì văn nghệ ta cũng là văn nghệ quá độ. Nếu nghĩ theo kiểu như vậy, hẳn phải gọi tên nước là Cộng hoà quá độ Việt Nam ? ! Còn một cách nghĩ khác cũng không hoàn toàn chính xác : văn nghệ xã hội chủ nghĩa là văn nghệ phản ánh hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu hiểu một cách máy móc như vậy thì dù muốn hay không chúng ta đã loại ra khỏi nền văn nghệ mới tất cả những tác phẩm viết về các đề tài lịch sử hay các đề tài hiện đại mặc dù tác phẩm được viết dưới ánh sáng của lập trường xã hội chủ nghĩa.
Văn nghệ ta ngày nay tất yếu phải là văn nghệ xã hội chủ nghĩa không phải chỉ vì đối tượng phản ánh của nó chủ yếu là hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà trước hết và trên hết là do lập trường đánh giá và nhìn nhận, tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ sự phản ánh nghệ thuật của nó là lập trường xã hội chủ nghĩa, là tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Nếu mượn các từ mới của kinh tế, có thể nói được rằng do “đầu vào” của văn nghệ ta là các nguyên vật liệu được lấy từ cuộc sống và con người của một dân tộc cụ thể đang dựng xây chủ nghĩa xã hội và lò luyện của nó là lò luyện của ánh sáng, của ngọn lửa xã hội chủ nghĩa, nên “đầu ra” phải là các sản phẩm cùng một lúc vừa mang tính chất xã hội chủ nghĩa, vừa mang tính chất dân tộc Việt Nam.
Không nên ghép tính chất này vào nội dung, còn tính chất kia cho hình thức, bởi vì cả hai tính chất đó đều được thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức. Nếu chủ nghĩa xã hội chỉ được hiểu như một khái niệm trừu tượng của khoa học, thì vô luận ở nước nào, dân tộc nào, nó cũng chỉ là chính nó, là một, là như nhau, song nếu hiểu là một công cuộc xây dựng thực tế cụ thể thì ở mỗi nước, mỗi dân tộc một khác, và lúc này chính là lúc nó mang tính chất dân tộc cụ thể. Chính trường hợp này mới là trường hợp có liên quan tới văn nghệ, vì văn nghệ bao giờ cũng phản ánh những cái cụ thể. Như vậy, một khi ở cái được phản ánh đã có sự kết hợp khó mà tách ra nổi trên thực tế (tất nhiên, trên lý thuyết là có thể tách ra được) của tính chất xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc cụ thể và tiếp đó cái phản ánh lại phản ánh theo kiểu văn nghệ tức là vẫn giữ lại tính chất cụ thể toàn vẹn của đối tượng, của cái được phản ánh thì hiển nhiên sự kết hợp của hai tính chất đó vẫn được giữ lại.
Điều này nói lên rằng văn nghệ ta từ trong bản chất cùng một lúc mang cả tính chất xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc cụ thể và đó là một tất yếu, một quy luật của phản ánh, chứ không hề là một sự gán ghép tuỳ tiện và chủ quan của một ai hay của Đảng ta.
* * *
Những điều vừa trình bày trên về bản chất của văn nghệ ta cho ta thấy rằng để không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng của nó theo yêu cầu của Đại hội VI, chúng ta nhất thiết phải đổi mới, phải sửa đổi và hoàn thiện tất cả những gì có liên quan tới việc nâng cao cùng một lúc mỗi mặt và cả sự kết hợp hai mặt bản chất nói trên của văn nghệ.
Những người làm công tác văn nghệ, nhất là anh chị em văn nghệ sĩ chúng ta, lúc này, trước vô số các khó khăn và tiêu cực trong đời sống xã hội, trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai con đường, hơn lúc nào hết, cần quán triệt cả đường lối chung lẫn các cách nhìn, các phương hướng, các chiến lược và sách lược, các giải pháp và biện pháp của Đảng ta, lấy đó làm chỗ dựa tin cậy và đúng đắn nhất để xem xét và nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể của mình. Những sai lầm vừa qua của Đảng ta quả có làm giảm sút niềm tin trong nhân dân ta, song Đảng ta đã tiến hành tự phê bình, phê bình và cái sai lầm đang được sửa chữa và khắc phục trên thực tế. Vậy nên không thể vì cái sai của hôm qua mà phủ nhận cái đúng trong hôm nay. Đối với những người không phải là nghệ sĩ thì đây quả thật không chỉ là bất hạnh và thất bại, mà thậm chí trên một ý nghĩa nhất định nào đó có thể nói là tự sát. Sức mạnh và vũ khí quan trọng nhất của nghệ sĩ là tình cảm và niềm tin. Để tình cảm suy sụp, để lòng tin giảm sút - đối với nghệ sĩ, ấy là mất tất cả.
Vậy nên, hơn lúc nào hết, trong thời điểm căng thẳng nhiều mặt này của dân tộc, của cách mạng, người nghệ sĩ ta cần hết sức bình tĩnh và tỉnh táo, sử dụng thật tốt vốn liếng hiểu biết khoa học và kinh nghiệm từng trải của mình xem xét và đánh giá chính xác các hiện tượng và quá trình đang diễn ra quanh mình, để trên cơ sở đó khẳng định và đề cao những cái thực sự xã hội chủ nghĩa, hãy đi đúng theo quỹ đạo xã hội chủ nghĩa đồng thời phủ định và lên án tất cả những gì ngược lại và những gì đang “lập lờ”, “nước đôi”, “hai mặt” vừa lợi dụng danh nghĩa chủ nghĩa xã hội, danh nghĩa Đảng và đục khoét chủ nghĩa xã hội, làm hại sự nghiệp của Đảng.
Và để làm tốt được điều đó, rõ ràng là người nghệ sĩ cần nắm vững và vận dụng thật tốt lập trường tư tưởng xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và của Đảng ta để xác định và nắm bắt vừa nhạy bén vừa chính xác cho được những con người và hiện tượng, những hành động và tác phong, việc làm và lời nói, thái độ và dáng điệu … thể hiện tiêu biểu được bản chất kép xã hội chủ nghĩa và dân tộc Việt Nam, dân tộc Việt Nam và xã hội chủ nghĩa. Cần nhấn mạnh rằng đây không phải là một đòi hỏi quá đáng hay phi lý, bởi vì những con người và hiện tượng như vậy là có thật và không ít trong hiện thực đời sống hiện nay. Có điều là – song chính điều này làm tôn cao vị trí và sứ mệnh của người nghệ sĩ hiện nay – trong hiện thực đó những con người và hiện tượng ấy không đứng sẵn trên những bục cao vượt lên và tách ra mà thường hoà lẫn và chìm trong vô số các hiện tượng và con người nhìn bên ngoài thì đại thể cũng giống nhau hay tỏ ra giống nhau.
Như vậy, về lý luận cũng như trên thực tế, văn nghệ ta hiện nay không thể chỉ là xã hội chủ nghĩa nói chung và cũng không thể chỉ là dân tộc Việt Nam chung cho mọi thời đại, mà chỉ và phải là cùng một lúc vừa là xã hội chủ nghĩa vừa là Việt Nam, là văn nghệ Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay, ngày nay.
* * *
Ở trên mới là xét bản chất của bản thân văn nghệ ta hiện nay, theo cách xác định của Đại hội VI và cũng là của Đảng ta nói chung suốt mấy chục năm qua. Bây giờ ta hãy xét mối quan hệ của văn nghệ với xã hội, với con người xã hội.
Văn nghệ ra đời và phát triển được là do xã hội có nhu cầu về nó. Và chính con người xã hội đã làm ra văn nghệ để thoả mãn các nhu cầu đó. Vậy đối với xã hội và con người xã hội, văn nghệ cụ thể là gì ? – Là hình thái đặc biệt của ý thức xã hội ? – Là món ăn tinh thần ? – Là môn thuốc ? – Là vũ khí đấu tranh tư tưởng ? – Là một nền văn nghệ gồm vô số các tác phẩm có hình hài vật chất ai cũng có thể thấy và thậm chí sờ mó được ? – v.v…
Rõ ràng không thể loại bỏ được một cái “là” nào trong tất cả những cái vừa kể, bởi vì cái nào cũng đúng cả. Cũng như có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá, về con người … Điều này nói lên rằng văn nghệ là một chỉnh thể đa diện, nên cần nhìn nhận nó một cách toàn diện, chứ đừng phiến diện, quá cường điệu và nhấn mạnh mặt này, xem thường hay loại bỏ mặt kia. Đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải đặt văn nghệ vào những quan hệ cụ thể, những hoàn cảnh không gian và thời gian cụ thể, những điều kiện và trường hợp cụ thể mà tiến hành xem xét, đánh giá và đề ra những yêu cầu cụ thể. Có làm như vậy mới đúng về phương pháp và nhờ đó có cơ sở đề ra những giải pháp đúng đắn cụ thể, có lợi cho sự nghiệp phát triển văn nghệ và có lợi cho việc sử dụng văn nghệ đối với xã hội. Ví dụ, nhìn nhận văn nghệ trên tư cách một tác phẩm phải khác với văn nghệ trên tư cách một nền, còn khi nhìn nhận một nền văn nghệ thì mặc dù văn nghệ chân chính của mọi thời đại đều là văn nghệ, song văn nghệ của thời nay vẫn có cái khác thời xưa, văn nghệ của nước này, dân tộc này không hoàn toàn giống với văn nghệ nước khác, dân tộc khác, …
Đành rằng văn nghệ là một hình thái của ý thức, chứ không phải của vật chất, xét trong quan hệ của nó với các thành phần khác, bộ phận khác của cấu trúc xã hội, thế nhưng nếu chỉ dừng sự xem xét ở đấy thôi mà không tính tới cơ sở tồn tại vật chất, hình hài vật chất để “mang chứa” hay “chuyên chở” các thứ thuộc ý thức, các tình cảm và tư tưởng, thì làm sao xây dựng được nền văn nghệ, phát triển được phong trào văn nghệ.
Các giai cấp thống trị xưa kia và giai cấp lãnh đạo ngày nay đều sử dụng văn nghệ như là một vũ khí lợi hại của đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng và điều này được tiến hành vừa với một ý thức đầy đủ, vừa bằng những biện pháp và hành động tích cực trong thực tế. Thế nhưng đó là từ phía các tầng lớp, các chính đảng có sứ mệnh lãnh đạo xã hội, còn xét từ phía nhân dân - đối tượng tác động của vũ khí văn nghệ - thì tình hình lại khác. Nếu họ biết đấy là vũ khí thì họ chả thích, họ thích và cần các món ăn tinh thần đẹp và ngon kia. Họ cũng chẳng thích thưởng thức thứ văn nghệ như uống một liều thuốc, cho dù là thuốc tốt, thuốc bổ. Họ đến với văn nghệ chủ yếu và trước hết là để được thích, được sướng, được vui, được giải trí, để được hưởng những cái hay, cái đẹp, để đời đỡ buồn, đỡ khổ hơn, được tươi hơn. Vậy nên cần phải hiểu các ý nghĩa khác nhau của các từ vũ khí, thức ăn, môn thuốc một cách rộng rãi hơn, linh hoạt hơn, mềm dẻo hơn. Anh là cán bộ tuyên huấn hay cán bộ văn hoá, anh bảo văn nghệ là vũ khí. Được thôi, nhưng tôi là kỹ sư thiết kế, là công nhân xây dựng … tôi chẳng thấy nó là vũ khí gì hết, tôi chỉ thấy là thỉnh thoảng trong ngày phải hát, phải ngâm lên dăm ba câu hát, câu thơ, không thì không chịu nổi. Vấn đề ở đây không phải là ai đúng, ai sai mà là : anh coi văn nghệ là vũ khí cũng được, tôi coi văn nghệ là món ăn cũng không sao, cái chất của vấn đề là văn nghệ của ta có hay, có đẹp không, có làm cho đông đảo công chúng chúng tôi mê không, nếu không đẹp, không hay thì dù là gì chúng tôi cũng không xem, không nghe, không đọc và chẳng ai bắt buộc nổi chúng tôi.
Thế đấy, sự thật khắc nghiệt là thế. Vậy nên từ tất cả những gì thực sự là xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói trên kia trong hiện thực cuộc sống nhất thiết phải được nghệ sĩ nhào nặn lại cho thành những cái nghệ thuật vừa thể hiện được tiêu biểu nhất cái Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lại vừa đẹp, vừa hay, có sức hấp dẫn lớn đối với công chúng thưởng thức.
Như vậy, dù là món ăn hay vũ khí, dù là hình thái ý thức hay hình hài vật chất, văn nghệ - bất luận thế nào, trước hết phải là nghệ thuật, thật sự là nghệ thuật với toàn bộ sức hấp dẫn và cuốn hút mạnh mẽ của nó. Và không phải ngẫu nhiên mà Đại hội VI đã đòi hỏi chúng ta “phải tính đến hiệu quả xã hội” của văn nghệ.
* * *
Nâng cao chất lượng và tính đến hiệu quả xã hội của văn nghệ là hai mặt gắn bó hữu cơ biện chứng của nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn  nghệ dân tộc xã hội chủ nghĩa chúng ta ngày nay. Nâng cao chất lượng của bản thân văn nghệ là để gia tăng hiệu quả tác động của nó vào con người và đời sống xã hội và tính đến hiệu quả xã hội của văn nghệ có nghĩa là phải nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu công tác của toàn bộ quá trình xây dựng và vận hành của văn nghệ trong đời sống xã hội.
Ta hãy kể đến ở đây những khâu cơ bản :
1) Bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghề nghiệp và đầu tư giúp đỡ các văn nghệ sĩ xây dựng cho mình một đời sống tinh thần tâm lý tiên tiến nhất cùng với một đời sống vật chất ổn định.
Chúng ta cần có những nghệ sĩ có tài năng, có hoài bão sáng tạo lớn, có ý thức sâu sắc đấu tranh cho độc lập dân tộc và xây dựng xã hội tốt đẹp. Ta có một đội ngũ nghệ sĩ được rèn luyện tốt trong đấu tranh cách mạng, là những chiến sĩ đáng tin cậy của cách mạng Việt Nam. Chúng ta mong rằng các nghệ sĩ ngày càng nâng cao cảm hứng sáng tạo của mình vì lợi ích của dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Xưa nay không thiếu gì những tấm gương tuyệt vời : người nghệ sĩ chân chính và tài năng làm nghệ thuật vì “say tình người”, chứ không phải vì miếng cơm manh áo, vì tiền tài hay danh lợi !
Người nghệ sĩ có thể không phải là triết gia, nhưng tư tưởng bao giờ cũng là linh hồn của nghệ thuật cho nên nghệ sĩ cũng cần là nhà tư tưởng. Sức lay động sâu xa nhất của tác phẩm nghệ thuật chính là sức lay động của những tư tưởng thẩm mỹ tiên tiến. Chiều sâu của sáng tạo phụ thuộc vào chiều sâu nhận thức của người nghệ sĩ, những tư tưởng lớn luôn luôn có sức cổ vũ mạnh mẽ và có tác dụng soi đường hết sức quan trọng.
Nghệ thuật không chỉ là kết tinh của trí tuệ mà còn là bông hoa của tâm hồn, sáng tác là kết quả của một sự thôi thúc từ bên trong. “Văn nghệ sĩ sáng tác do chỗ đời sống bên trong phong phú tràn đầy đến nỗi phải nói ra. Phải làm sao cho đời sống bên trong thật phong phú, cảm xúc thật mạnh mẽ đến mức phải thốt ra, lúc đó mới mong có diễn tả tốt, có giá trị” (Phạm Văn Đồng : Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1969, tr.62-63).
Có xuất phát từ nguồn cảm hứng gắn với tình cảm sâu đậm của tác giả, quá trình sáng tác mới trở thành “đứa con tinh thần” phản ánh chân thực cuộc sống với cả những nỗi niềm, tâm sự, ước vọng của người nghệ sĩ. Đảng yêu cầu người nghệ sĩ coi sự nghiệp cách mạng của dân tộc là hoài bão của chính mình, gắn bó mật thiết với sự nghiệp ấy bằng một tâm hồn “lộng gió, lộng ánh sáng, lộng màu sắc, hương vị” để từ đó tiến hành sáng tạo nghệ thuật trong “tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nóng cháy trong lòng”. Nghệ sĩ phải là người yêu thương hết mức, băn khoăn đến day dứt, mong ước đến thiết tha đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh cho cái mới, cái tiến bộ, cái đẹp, cái cao cả đồng thời phải là người có trách nhiệm cao đối với lao động của mình trong việc tạo ra những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với dân tộc và thời đại. Nói một cách khái quát, lao động của người nghệ sĩ trong bản chất của nó là một lao động tự giác hay nói như Sô-lô-khốp, lao động ấy làm theo “mệnh lệnh của trái tim” người nghệ sĩ “mà trái tim ấy lại thuộc về cách mạng, về Đảng và về nhân dân thân yêu”, v.v…
Khâu đầu tiên này có ý nghĩa tiên quyết vì nó trực tiếp tạo nên chất lượng tác phẩm. Không làm tốt nó, đừng mong nâng cao chất lượng và hiệu quả nói chung.
2) Cung cấp và trang bị những phương tiện vật chất - kỹ thuật cần thiết cho việc xây dựng các tác phẩm thuộc những loại hình, loại thể nghệ thuật khác nhau. Cung cấp hoàn toàn không có nghĩa là “cho không” nói chung, song đối với một số trường hợp cụ thể nhất định nào đó nếu không biết “cho không” hoặc tìm ra những cách tế nhị nhất để “cho không” và được người ta nhận thì thật là đáng trách và có khi đáng ân hận mãi mãi. Thế kỷ XX sắp hết rồi, đất nước đã thống nhất rồi, chủ nghĩa xã hội đã được tuyên bố rồi … dù nghèo thì nghèo, dù khó thì khó, không nên chỉ mãi quen với việc thả con săn sắt nữa, hãy thả những con gà, con chó, con lợn, … để lấy những con voi, con hổ, con sư tử ! Nghĩa là phải có cách nghĩ đến những việc làm ra việc làm, làm những việc ra tấm ra miếng, đừng có lây nhây mỗi thứ một tý, rút cục không có được cái gì.
Thật ra, với trình độ phát triển ngày nay của kỹ thuật và công nghiệp, nếu biết làm ăn và làm ăn có lương tâm thì làm gì đến nỗi. Thật là không tha thứ được khi một tuýp sơn dầu người hoạ sĩ phải mua với giá 200, rồi 500 và hơn nữa ! Nếu biết sử dụng tốt các quan hệ hữu nghị và buôn bán quốc tế thì điều kiện cải thiện tình hình ở đây càng tốt hơn nhiều.
3) Nâng cao năng lực và trình độ đánh giá, xét duyệt của những tổ chức có trách nhiệm. Gấp rút thay đổi, bổ sung đội ngũ những người có trách nhiệm thay mặt Đảng và Nhà nước ta trong công việc này và tổ chức thật tốt việc đánh giá, xét duyệt cũng như giải quyết cách thức sử dụng các sản phẩm của nghệ sĩ, nâng cao uy tín thực tế của sự đánh giá chính thức này, tạo nên sự tin cậy và yên tâm sâu sắc của mỗi và mọi tác giả. Cần nhớ rằng đánh giá đúng những hay dở, mạnh yếu của mỗi tác phẩm là đòi hỏi khách quan chính đáng cùng một lúc từ cả hai phía : nghệ sĩ và xã hội, người sáng tạo nghệ thuật và người cảm thụ nghệ thuật. Cần chấm dứt tình trạng giao phó số phận của tác phẩm – và xét trên một mức độ nhất định, cũng là số phận của tác giả - cho những người không có đủ những điều kiện cần thiết về năng lực và phẩm chất của tư cách đánh giá chính thức. Điều rất đáng buồn ở đây không phải là ta không có những người có tư cách như vậy, mà là những người có đủ những điều kiện của tư cách đó lại không có được tư cách chính thức.
Trong tình hình eo hẹp hiện nay, nếu ta làm tốt được khâu đánh giá và sử dụng này, cho dù mức nhuận bút chưa được nâng lên tới mức thích đáng cần thiết, chắc chắn vẫn làm vợi được nhiều nỗi đau khi dằn vặt và tạo nên một sự phấn khởi tinh thần cần thiết ở người trí thức sáng tạo. Xin nhắc rằng ở ta không có chuyện tác giả tự in, tự sử dụng và trao đổi sản phẩm của mình, mọi sản phẩm tinh thần (nghệ thuật, khoa học, v.v…) đều phải “bán buôn”, “bán chạy” ngay cho Nhà nước, trong khi đó thì không ít những người đại diện cho Nhà nước ở đây lại làm ăn xem ra rất cửa quyền và xử sự rất “kém văn hoá”.
4) Nâng cao chất lượng các khâu tổ chức phân phối và tiêu thụ các sản phẩm nghệ thuật. Yêu cầu ở đây là phân phối các loại sản phẩm sao cho đúng đối tượng tiêu dùng của từng loại và tổ chức thật tốt việc tiêu thụ (quá trình cảm thụ đối với các loại hình nghệ thuật như sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, múa, mỹ thuật, v.v…) để chất lượng của tác phẩm, tài năng của nghệ sĩ không những không bị giảm sút mà còn có được những điều kiện thuận lợi cần thiết để giữ vững hoặc nâng cao thêm. Chấm dứt tình trạng giá vé tăng, còn chất lượng biểu diễn, điều kiện cảm thụ không tăng, thậm chí kém đi.
* * *
Nâng cao chất lượng bản thân sản phẩm nghệ thuật và chất lượng các khâu nói trên là khâu nhằm nâng cao hiệu quả xã hội của văn nghệ.
Cần tính tới hai mặt của hiệu quả này : mặt kinh tế và mặt tinh thần. Đúng là mặt tinh thần không thể cân đong đo đếm được như mặt kinh tế. Cán cân lỗ lãi của các cơ quan nghệ thuật luôn luôn là một cái gì rất cụ thể, có thể nói không những sờ mó được mà đôi khi còn là hoặc “rát tay, nóng mặt” hoặc “sướng tay, chóng mặt”. Không nên xem thường hiệu quả kinh tế, song không được vì nó mà để tổn hại đến lợi ích tinh thần, để trống trận địa tư tưởng – tình cảm.
Mặt khác, cũng không nên vì tính chất khó đếm, khó lường của giá trị tinh thần mà xem thường ý nghĩa kinh tế, giá trị mua bán, trao đổi của nó. Cuốn sách này bán 30 đ người ta mua, bán 50 đ người ta không mua ; trong khi đó, cuốn khác có giá thành vật chất tương đương, số trang, số chữ ngang vậy, hoàn toàn có thể bán chạy với giá 100, thậm chí 200. Bức tranh quý ấy, cái đĩa quý ấy … là vô giá nên giá trị trao đổi của nó không phải chỉ gấp năm, gấp mười mà gấp trăm, gấp nghìn lần giá thông thường.
Nhìn chung ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc Nhà nước bù lỗ cho các cơ quan nghệ thuật nào đó là chuyện thường tình và không phải là không có căn cứ. Song có nên tuyệt đối hoá điều đó và xem là tất yếu, hiển nhiên không ? đây là một bài toán cần được giải trên những số liệu cụ thể chính xác, không thể nói chung chung được. Điều có thể nói được ở đây là, căn cứ vào nhu cầu nghệ thuật vốn đã cao và luôn luôn cao của đông đảo công chúng, nếu ta biết đầu tư đúng và trúng, đầu tư thích đáng và có trọng điểm, biết tạo ra được những “mũi nhọn” xứng đáng, đánh trúng thị hiếu chính đáng của công chúng, biết không ngừng nâng cao chất lượng mọi mặt và mọi khâu của toàn bộ quá trình sản xuất – phân phối tiêu dùng sản phẩm nghệ thuật, biết bắt mạch và chẩn đoán đúng các triệu chứng của quy luật cung cầu, biết tinh giản đội quân làm công tác nghệ thuật, chắc chắn mức độ bù lỗ sẽ giảm xuống một cách đáng kể. Một khi chất lượng vẫn còn xoàng, không đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của đông đảo công chúng và giữa mình với mình cũng còn thấy chưa vừa lòng, thì làm sao nói và nghĩ tới chuyện chinh phục và chiếm lĩnh thị trường.
Mặt tinh thần của hiệu quả xã hội là mặt quyết định, chủ yếu và bao trùm. Sứ mệnh thiêng liêng và cao cả của văn nghệ ta là “đánh vào lòng người”, tác động vào tình cảm, tâm lý con người theo quỹ đạo của ý thức xã hội chủ nghĩa. Tình cảm bao giờ cũng gắn bó với tư tưởng, với lý trí ở mỗi con người. Tư tưởng và tình cảm, thế giới quan và nhân sinh quan tiên tiến, xã hội chủ nghĩa của nghệ sĩ đóng vai trò lập trường đánh giá và phản ánh trong quá trình thâm nhập cuộc sống và xây dựng tác phẩm tạo nên thái độ khẳng định hay phủ định, yêu hay ghét của tác giả đối với những hiện tượng tích cực và tiêu cực được miêu tả trong tác phẩm. Và tiếp đó, trong quá trình cảm thụ của công chúng, thái độ được định hướng rõ rệt và cụ thể đó có tác dụng ảnh hưởng và chi phối thái độ, tình cảm tư tưởng của người cảm thụ trước các hiện tượng tương tự, góp phần tích cực xây dựng và củng cố lập trường tư tưởng – tình cảm của con người trong xã hội. Thái độ đánh giá của nghệ sĩ càng sâu sắc và thể hiện nghệ thuật càng chân thực, sinh động bao nhiêu, tác phẩm càng có sức thuyết phục và sự tác động vào lòng người lớn bấy nhiêu, nhờ vậy mà nâng cao được trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân, như đã được nói trong Báo cáo chính trị của Đại hội.
Bản tính con người là say mê cái đẹp. Những cái đẹp trong văn nghệ không chỉ góp phần xây dựng và củng cố lập trường đánh giá, mà còn chi phối sâu xa hành động, tác phong của con người. Con người sẵn sàng không chỉ đi theo mà còn làm theo cái đẹp. Có điều, việc làm theo cái đẹp như vậy không diễn ra theo kiểu bắt chước trực tiếp và lộ liễu của trẻ con mà luôn luôn kinh qua những suy tính và cân nhắc vừa phức tạp vừa cụ thể trong từng tình huống cụ thể. Và chừng nào những cái đẹp của nghệ thuật chưa bắt rễ sâu xa và nảy mầm tươi tốt trong đời sống tâm hồn của người ta, thì chúng vẫn chưa thể phát huy có hiệu quả tốt đẹp được. Vậy không nên hiểu sự tác động của nghệ thuật như là một chi phối máy móc và tức thì, kịp thời và trước mắt. Thật là không đúng và ngớ ngẩn nếu nghĩ rằng sau khi đã đưa được các tác phẩm văn nghệ đến với công chúng thì có thể nán lại chờ đợi để gặt hái kết quả tác động tinh thần. Ngay khi được người cảm thụ trả lời đúng, có phản ứng tốt về tác phẩm đã được thưởng thức trước đó thì cũng chưa thể xem đó đã là hiệu quả xã hội của nó được. Các tác phẩm văn nghệ hay cũng giống như những món ăn có chất dinh dưỡng cao, cứ thấm dần trong cả một thời gian dài vào các hệ, các cơ quan khác nhau của toàn cơ thể để nâng cao sức khoẻ chung, nâng cao cả trình độ giác ngộ lẫn trình độ thẩm mỹ, chứ hoàn toàn không phải là những tác phẩm này làm cho người ta có lập trường đánh giá đúng, còn những tác phẩm kia thì giúp người ta có ngay tác phong đẹp, … Chính vì vậy tác dụng giáo dục của văn nghệ là tác dụng toàn diện, sâu xa và lâu bền.
Cũng cần phân biệt rằng trong văn nghệ có những loại hình như kiến trúc, trang trí - ứng dụng, điêu khắc, hội hoạ, đồ hoạ, … có trực tiếp làm đẹp cuộc sống, làm đẹp môi trường sống của con người xã hội. Song nhìn chung, mọi loại hình, loại thể văn nghệ, kể cả những loại hình vừa kể trên đều trực tiếp tác động vào đời sống tình cảm – tâm hồn bằng những tấm gương, những mẫu mực cụ thể làm cho con người say mê chúng và chờ sau đó, sau khi chúng đã thấm sâu, bắt rễ và nảy mầm trong đời sống đó, con người mới “làm theo”, mới noi gương để làm đẹp mình và làm đẹp đời bằng những hành động, tác phong và sản phẩm đẹp. Nói gọn lại, quá trình tác động của văn nghệ vào con người xã hội có thể được công thức hoá, đại thể như sau : [tác phẩm nghệ thuật đẹp] ® [tình cảm, tư tưởng đẹp] ® [hành động, tác phong, lối sống đẹp] ® [sản phẩm đẹp] ® [xã hội đẹp]. Chu trình nối tiếp sẽ là : [sản phẩm đẹp] ® [tác phẩm nghệ thuật đẹp hơn], …
Như vậy, văn nghệ có giá trị vật chất – kinh tế, song nhìn chung và chủ yếu là giá trị tinh thần. Các giá trị này không bỗng dưng mà có. Mỗi dân tộc phải xây dựng cho mình một nền văn nghệ trên từng giai đoạn lịch sử, từng thời đại. Và nhiệm vụ này chủ yếu được giao cho những người con nghệ sĩ của mình.
Trước khi bàn tiếp về giá trị tinh thần và giá trị vật chất của văn hoá, văn nghệ, cần làm rõ một điểm, đó là văn nghệ có phải là hoạt động phi sản xuất (do gọi tắt khái niệm phi sản xuất vật chất), do đó chỉ là hoạt động tiêu phí, không quan trọng không ? Có phải mọi quan tâm cần dành trước hết cho các hoạt động sản xuất vật chất, còn sau đó mới tính đến các hoạt động sản xuất tinh thần nếu có thừa thì giờ, thừa thãi vật tư tài chính ?
Phải nhận xét ngay rằng đó là một quan niệm thiển cận và đơn giản. Đúng là lĩnh vực sản xuất vật chất có những vấn đề có tính chất cấp bách và cụ thể của nó. Nhưng đối với đời sống xã hội mà coi thường lĩnh vực sản xuất tinh thần thì là một sai lầm không thể chấp nhận. Đại hội VI đã xác định văn nghệ phải tạo ra những giá trị tinh thần tức là sản xuất ra những giá trị tinh thần, mà những giá trị tinh thần thường là những giá trị lâu dài của đời sống xã hội, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, bản lĩnh và nhân cách cho con người.
Chỉ lo những món ăn vật chất, mà không lo các món ăn tinh thần là một sự phiến diện, là biểu hiện trình độ quá thấp kém về hiểu biết đời sống con người, là hạ thấp vai trò con người.
Cần gấp rút khắc phục nhận thức này mới có thể có những quan niệm đúng đắn, toàn diện về các kế hoạch kinh tế xã hội, mới có sự quan tâm thích đáng tới vai trò và đặc trưng của văn hoá, văn nghệ, tức là tới những vấn đề giá trị tinh thần.
Do chỗ giá trị tinh thần nhất thiết phải được mang chứa và toát lên từ một hình hài vật chất cụ thể, nên các giá trị nghệ thuật phải được tạo nên ở những đơn vị sản phẩm nhất định. Thế nên đừng vì giá trị chủ yếu của văn nghệ là giá trị tinh thần mà không tính thấu đáo tới quá trình sản xuất ra nó. Hơn nữa, hình thức vật chất của mỗi tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng đòi hỏi khắt khe hai điều kiện mà thiếu chúng, tác phẩm không còn là tác phẩm nữa, thậm chí không thể xây dựng nổi.
Một là, những nguyên vật liệu, những phương tiện vật chất - kỹ thuật mang tính chọn lọc cao, khác với nhiều lĩnh vực sản xuất khác có thể “thôi thì có gì làm nấy”, thậm chí có thể dùng cả các nguyên vật liệu phế thải, tái sinh.
Hai là, bản thân quá trình xây dựng kết cấu hình thức vật chất cũng chính là quá trình hình thành nội dung tư tưởng khách quan của tác phẩm (chứ không phải nội dung tưởng tượng chủ quan trong đầu tác giả) với mức độ tương ứng và hoàn thiện của hình thức vật chất này quy định mức độ thể hiện của nội dung và do đó, quy định cả mức độ tác động của tác phẩm, nên quá trình xây dựng kết cấu hình thức vật chất luôn luôn mang tính đòi hỏi rất cao, và là cả một quá trình lao động hết sức tinh vi và căng thẳng của những con người có khối óc vì dân trong tài nghệ.
Không thể có một tác phẩm nghệ thuật hay, có sức tác động lớn khi ở nó chỉ có một nội dung quan điểm đúng, tốt, còn hình thức nghệ thuật xoàng, kém ! Vậy thì không thể vì tính chất ít ỏi, không đáng kể về mặt số lượng mà có thể không coi trọng thích đáng tầm quan trọng đặc biệt về mặt chất lượng của các nguyên vật liệu và phương tiện vật chất kỹ thuật, nhất là của việc xây dựng kết cấu hình thức vật chất cho tác phẩm trong lĩnh vực sản xuất nghệ thuật. Không thể vì sản xuất nghệ thuật bị ghép vào mảng sản xuất tinh thần trong cấu trúc sản xuất xã hội, mà có thể xem thường mặt vật chất của nó.
Một nền văn nghệ dân tộc bao giờ cũng là một tổng thể gồm vô số tác phẩm cụ thể, tức là các đơn vị sản phẩm vật chất ; và tuy mỗi tác phẩm nghệ thuật, mỗi đơn vị sản phẩm như vậy, nhìn chung đều có giá trị tinh thần và giá trị này là chủ yếu, song không phải vì thế mà giá trị vật chất của chúng là nhỏ bé, là không quan trọng so với giá trị tinh thần. Giá trị vật chất của một cuốn tiểu thuyết vĩ đại quả không đáng là bao so với giá trị tinh thần của nó, song giá trị vật chất của một công trình kiến trúc nghệ thuật cỡ vừa phải (chứ chưa nói tới cỡ vĩ đại) lại to lớn hơn nhiều và có tỷ lệ khác hẳn so với giá trị tinh thần của nó, còn nếu so với giá trị vật chất của tác phẩm văn học vĩ đại kia thì vẫn lớn gấp ngàn, gấp vạn lần. Một nhà thơ có thể viết nên những vần thơ tuyệt tác trên một thứ giấy khá xấu, giấy đã viết một mặt, song với trường quay tồi, phim tồi, xưởng in tráng tồi … thì thật khó làm nên nổi những bộ phim đẹp cho dù có đủ các tài năng điện ảnh thực thụ. Chân lý là và luôn luôn là cụ thể. Đừng để cho cái “nhìn riêng” lấn át cái “nhìn chung” mà xem thường cái “nhìn riêng” !
Do vậy, ta hãy đừng vì tính tinh thần, giá trị tinh thần của tác phẩm nghệ thuật mà không quan tâm và chú trọng thích đáng tới mặt vật chất, giá trị vật chất, yêu cầu và điều kiện vật chất trên tất cả các khâu của toàn bộ quá trình sản xuất nghệ thuật, từ những tìm tòi, trăn trở, nhào nặn, tưởng tượng trong đầu nghệ sĩ qua việc tìm kiếm các nguyên vật liệu và phương tiện vật chất - kỹ thuật thích hợp cần thiết đến việc xây dựng và hoàn thiện không ngừng kết cấu vật chất của tác phẩm và sau đó là sự thẩm định cùng một lúc cả giá trị tinh thần lẫn giá trị vật chất để trên cơ sở đó mà phán quyết giá cả, cách thức phân phối và sử dụng. Có như vậy xã hội mới có nhiều giá trị nghệ thuật và nhu cầu nghệ thuật của nhân dân mới được thoả mãn ngày càng tốt hơn.
Điều cần đặc biệt quan tâm trong toàn bộ quá trình trên là lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ, vì nó là nhân tố quyết định và quán xuyến toàn bộ quá trình sản xuất nghệ thuật.
Nếu ở trên ta đã phải tính đến mối tương quan gắn bó giữa giá trị tinh thần với giá trị vật chất ở mỗi tác phẩm thuộc mỗi loại hình, loại thể nghệ thuật cụ thể, thì ở đây lại cần tính tới mối tương quan cũng gắn bó rất chặt chẽ giữa lao động trí óc với lao động thể lực. Tỷ lệ giữa hai loại lao động này là khác nhau trong quá trình sản xuất ra các tác phẩm cụ thể thuộc mỗi loại hình, loại thể nghệ thuật cụ thể. Lao động thể lực của người nghệ sĩ hoạt động trên các loại hình nghệ thuật, như trang trí - ứng dụng, điêu khắc, múa, v.v… lớn hơn đáng kể so với ở các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch bản sân khấu và điện ảnh, nhà soạn nhạc, v.v… Song vô luận ở đâu, trong toàn bộ quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật, lao động trí óc đều không chỉ là nhất thiết, là quan trọng mà nhìn chung còn là căng thẳng.
Điều đáng lưu ý ở đây là không được vì tính chất nhẹ nhõm, thanh thoát, nhanh chóng, bay bổng ở kết quả, ở sản phẩm, mà có thể nghĩ rằng toàn bộ quá trình lao động nghệ thuật trước đó cũng đã diễn ra một cách nhẹ nhõm, nhanh chóng, chẳng vất vả gì. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Để có một bước nhảy ba lê bay bổng, nhẹ nhàng, người diễn viên đã phải đổ mồ hôi trên sàn tập nhiều tháng, nhiều năm ròng. Để có những câu thơ tươi ngọt, thanh thoát, những giai điệu réo rắt hay du dương, nhà thơ, nhà soạn nhạc đã phải nhào đi, nặn lại chúng hàng chục, hàng trăm lần trong đầu và trên giấy.
Không thể nói lao động nghê thuật không phải là lao động nghề nghiệp, vì tính nghề nghiệp, tính chuyên sâu cũng như kỹ năng, kỹ sảo, quá trình rèn luyện tay nghề, v.v… đều là rất cần thiết đối với lĩnh vực lao động này. Nhưng điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là lao động nghệ thuật là một thứ lao động nghề nghiệp đặc biệt. Bởi vì có biết bao nhiêu thứ nghề nghiệp trên đời mà nói chung bất cứ ai, chỉ cần chịu học, chịu làm và cũng chỉ cần học dăm tháng, nửa năm hay một vài năm là đều làm được tất. Ngay cả những nghề cần trình độ nghiệp vụ tương đối cao mà từ xưa đến nay đều do ngành đại học trực tiếp đào tạo thì nhìn chung vẫn là cứ có đào tạo thì ắt có chuyên gia. Trong khi đó ở các nghề làm nghệ thuật, tình hình thường không được như vậy. Muốn làm nghề nghệ thuật, ngoài các điều kiện này khác, nhất thiết phải có khiếu, có tài. Không có khiếu, có tài, thì hiệu quả đào tạo sẽ rất thấp, người đi học sau khi đào tạo xong chỉ làm khổ mình và làm khổ người khác, gây lãng phí xã hội. Không thể và cũng không nên phủ nhận hay xem thường hoặc năng khiếu hoặc đào tạo, vì cả hai cái đó đều cần. Chính vì vậy mà để thi vào các trường nghệ thuật, ngoài các môn khác, nhất thiết phải thi môn năng khiếu.
Như vậy, trong lao động nghệ thuật khác với vô số các nghề nghiệp khác, nhất thiết phải có năng khiếu. Và trong quá trình rèn tập và hành nghề, năng khiếu phải được bồi dưỡng không ngừng để thành tài năng. Không phải là không có căn cứ khi người ta khẳng định rằng lao động nghệ thuật là lao động của tài năng nghệ thuật. Và điều đáng nói ở đây là một khi đã là lao động của tài năng thì không nên đối xử với nó theo kiểu tính đếm máy móc các khối lượng công việc và số lượng nguyên vật liệu, số lượng chi phí vật chất. Bản thân những người trong giới làm nghệ thuật đã thấm thía lắm với nỗi đau bất tài : hai bức tranh cùng là sơn dầu có cùng kích thước, cùng chi phí vật chất như nhau, bức này nếu có bán được cũng chỉ với giá một ngàn đồng, còn bức kia có thể bán hoặc mười ngàn, hoặc thậm chí một trăm ngàn. Có thể kể ở đây hàng trăm, hàng ngàn ví dụ tương tự. Cái “có giá” ở đây nói lên cái vô giá của nghệ thuật, của lao động nghệ thuật, lao động của tài năng.
Nên chăng tính lại việc định giá cho các tác phẩm nghệ thuật, chế độ nhuận bút, thái độ đối xử với các tài năng ? Cần thấy rằng việc định giá cho các tác phẩm nghệ thuật chẳng qua là một việc làm bất đắc dĩ do sự chi phối của quy luật trao đổi hàng hoá, chứ không phải là biểu thị đáng tin cậy của bản thân giá trị tác phẩm. Và một khi đã như vậy thì có lẽ phương thức tốt nhất, công bằng nhất là phương thức giá thoả thuận giữa người bán - nghệ sĩ – tác giả với người mua, vô luận là cơ quan Nhà nước hay cá nhân. Ở một nơi chưa biết thế nào là công bằng xã hội thì thực hiện sự công bằng tâm lý là hợp lý nhất, bởi vì không những nó không khoét sâu thêm những bất bình mà ngược lại còn khuyến khích được các tài năng. Trong tình hình xã hội cụ thể hiện nay của chúng ta chuyện “thuận mua vừa bán” càng có ý nghĩa thiết thực đối với các sáng tác của lao động nghệ thuật.
Một vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn được đặt ra ở đây là : để đối xử xứng đáng đối với các tài năng thực sự, Nhà nước ta không thể bao cấp tràn lan cho tất cả mọi người có tên trong biên chế các cơ quan nghệ thuật hiện nay, không thể tiếp tục “nuôi” tồi tất cả mọi người cả có tài lẫn bất tài, vì như vậy là gây tổn thất lớn cho lợi ích chính đáng của xã hội, do đó, phải tiến hành những biện pháp và phương tiện cần thiết nhằm “nuôi” tốt, thật tốt các tài năng và để những ai không có khả năng làm nghệ thuật đi làm nghề khác, vừa lợi mình, vừa ích nước. Rõ ràng là ở đây phải lấy hiệu quả xã hội của tác phẩm làm thước đo, làm căn cứ quyết định mức đãi ngộ. Để thực hiện được điều này, các cơ quan Nhà nước như nhà xuất bản, nhà hát, v.v… chẳng hạn, có thể sẽ không làm cái việc trả nhuận bút đơn giản như lâu nay và trả xong là xong mọi chuyện với tác giả, mặc dù mức nhuận bút rất thấp và chiếm một tỷ lệ cũng rất thấp so với thu nhập do tác phẩm đưa lại cho cơ quan. Điều này còn vô lý và bất công ở chỗ là : bắt các nghệ sĩ tài năng phải nuôi xã hội, nuôi cơ quan Nhà nước bằng thu nhập vật chất, mà thật ra chỉ một cống hiến và đóng góp về mặt tinh thần của họ đối với xã hội đã là quý lắm rồi. Cũng sẽ là vô lý và bất công nếu bắt người nghệ sĩ tài năng phải nuôi những con người bất tài, trong khi bản thân mức sống vật chất của các tài năng hãy còn rất thấp.
Nhất thiết phải chống chủ nghĩa quân bình trong lĩnh vực sản xuất tinh thần. Chủ nghĩa bình quân và chế độ bao cấp lâu nay đã hầu như xoá bỏ mất yếu tố khuyến khích vật chất để chỉ còn lại những lời kêu gọi tinh thần, nếu không muốn nói, nhiều khi là hô hào suông đối với thứ lao động đặc biệt và cao cấp này. Chừng nào chưa có chủ nghĩa cộng sản, chừng đó người có tài chưa được đãi ngộ tương xứng với cống hiến quý giá của họ. Đó là công bằng xã hội và cũng là một tất yếu lịch sử phải trải qua trước khi tiến đến chỗ mọi người đều đầy đủ và sung sướng, đều “hưởng theo nhu cầu”.
Thái độ phân biệt đối xử rõ ràng và gay gắt nói trên không được vận dụng vào mối quan hệ giữa văn nghệ chuyên nghiệp với văn nghệ quần chúng.
Văn nghệ quần chúng là văn nghệ của những người không và chưa phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp, nên không được áp dụng với nó những điều kiện và đòi hỏi của văn nghệ chuyên nghiệp và bản thân những người làm nghệ thuật ở đây không sống bằng nghề làm nghệ thuật nên cũng không có những đòi hỏi như của nghệ sĩ chuyên nghiệp.
Nhìn chung, văn nghệ quần chúng thường không có được trình độ nghệ thuật cao như văn nghệ chuyên nghiệp, song hoàn toàn không được vì vậy mà xem thường văn nghệ quần chúng. Nó có một tầm quan trọng đặc biệt, xuất phát từ vai trò không gì thay thế được của nó. Đó là vai trò cơ sở, nền tảng của nó đối với văn nghệ chuyên nghiệp và vai trò tự rèn luyện, thử thách, tự làm đẹp mình của đông đảo thành viên xã hội, cũng tức là làm đẹp xã hội.
Đối với văn nghệ chuyên nghiệp, văn nghệ quần chúng luôn luôn là nền tảng. Nền tảng này càng rộng lớn và vững chắc bao nhiêu, các đỉnh cao của văn nghệ chuyên nghiệp càng cao và số lượng, chất lượng của các đỉnh cao đó càng nhiều, càng vững bấy nhiêu. Văn nghệ quần chúng xét trên một mặt nhất định có thể vì như một bước “sơ chế” rất quan trọng. Đó là nguồn tài nguyên nghệ thuật vô cùng phong phú nằm trong bản thân đời sống hiện thực của quần chúng đông đảo của nhân dân, của đời sống dân tộc. Trên cơ sở sơ chế này, các nghệ sĩ chuyên nghiệp “tái chế”, nâng cao chất lượng mọi mặt của tác phẩm nghệ thuật, làm nên các đỉnh cao tuyệt tác. Không có một nghệ sĩ thực sự vĩ đại nào của dân tộc mà lại không được nuôi dưỡng bằng nguồn văn nghệ này của nhân dân và không vươn lên trên cơ sở khai thác triệt để nguồn tài nguyên hết sức phong phú này. Xa rời văn nghệ quần chúng, văn nghệ chuyên nghiệp tự tách mình khỏi nguồn sữa trực tiếp của mình.
Không nên hiểu một cách máy móc rằng bất cứ tác phẩm nào, tác giả nào của văn nghệ quần chúng đều yếu kém so với văn nghệ chuyên nghiệp. Cũng không nên hiểu giản đơn một chiều rằng người nghệ sĩ chuyên nghiệp chỉ có trách nhiệm giúp đỡ phong trào văn nghệ quần chúng, mà không hề tính tới việc học tập và gặt hái tất cả những gì cần thiết cho mình từ phong trào đó.
Lịch sử các nền văn nghệ dân tộc của nhiều nước khác nhau trên thế giới đều đã chứng minh hùng hồn chân lý : đỉnh cao, đỉnh bền được là nhờ có nền rộng, nền vững ! Vậy nên nhất nhất không được vì mức hoàn thiện, hoàn mỹ chưa cao lắm mà có thể đánh giá thấp tầm quan trọng của văn nghệ quần chúng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển không ngừng nền văn nghệ dân tộc xã hội chủ nghĩa ngày nay của chúng ta.
Đối với xã hội, đối với đông đảo thành viên xã hội, văn nghệ quần chúng có một tác dụng hết sức to lớn và không gì thay thế được. Cần thấy rõ và nói thẳng ra rằng không một nền văn nghệ chuyên nghiệp nào có thể thoả mãn nổi nhu cầu nghệ thuật vô cùng to lớn của đông đảo nhân dân trên khắp mọi miền đất nước và trong mọi thời điểm, mùa vụ của mỗi năm. Không thể nói được rằng văn nghệ chuyên nghiệp chỉ như một người khách, khách đến rồi khách lại đi, vì có biết bao nhiêu thứ như sách, báo, đài, tranh tượng, ca khúc, … chuyên nghiệp hoàn toàn có thể “ở lại” lâu dài chứ không ra đi theo bước chân người nghệ sĩ chuyên nghiệp. Song dẫu sao nhìn chung văn nghệ chuyên nghiệp vẫn cứ không phải là “cây nhà lá vườn”, không ăn đời ở kiếp để chia sẻ mọi nỗi niềm tâm tư, mọi tình, mọi cảnh với mỗi người dân, mỗi nhóm cư dân, nhất là ở những địa bàn xa thành phố, những nơi đèo cao, suối sâu, v.v… Văn nghệ quần chúng phải tự sản, tự tiêu. Nhân đây cần nhấn mạnh rằng việc gây dựng các phong trào văn nghệ quần chúng ở mỗi địa phương nhất thiết phải làm tốt được chức năng tự sản, tự tiêu này, nếu không thì không một yếu tố nào từ bên ngoài vào hay từ bên trên xuống có thể nuôi dưỡng nổi phong trào, chứ chưa nói tới phát triển phong trào ngày càng cao hơn.
Có một ý nghĩa rất quan trọng của văn nghệ quần chúng mà văn nghệ chuyên nghiệp dù hay dù đẹp và có những điều kiện thuận lợi đến mấy cũng không thể thay thế được văn nghệ quần chúng – đáng tiếc là ý nghĩa này ít được nói tới hoặc nói tới chưa thích đáng – đó là văn nghệ quần chúng chính là trường tự rèn luyện, thử thách của mỗi người và mọi người trên con đường tất yếu và bắt buộc của sự phát triển nhân cách đẹp, trên con đường vươn tới và đến với cái đẹp. Hoạt động văn nghệ quần chúng không chỉ là hoạt động  tự sản xuất ra các tác phẩm văn nghệ để thoả mãn nhu cầu văn nghệ của bản thân quần chúng. Nó đồng thời còn là một hoạt động mà ở đấy mỗi người tham gia đều được tự thử thách mình, tự rèn luyện mình để làm đẹp mình : từ cách ăn mặc, hoá trang, qua dáng đi điệu đứng đến lời ăn tiếng nói và cách ứng xử, v.v… Có thể nói ngay được rằng ở đất nước nào văn nghệ quần chúng không phát triển rộng khắp và được nuôi dưỡng thường xuyên cần thiết, ở đất nước đó không thể giáo dục thẩm mỹ tốt, rộng và sâu, do đó, không thể có được kết quả mong muốn trong sự nghiệp xây dựng và giáo dục những nhân cách đẹp, những con người đẹp biết sống đẹp với mình và với người. Việc chúng ta dễ dàng nhận ra những vụng về và thiếu sót ở một bài thơ hay ngăn cản việc chúng ta nghĩ tới những khó khăn, vất vả, những dằn vặt và trăn trở trong quá trình tự thanh lọc trong tâm hồn và tự hoàn thiện mình trên nhiều mặt để làm nên bài thơ đó, vở kịch đó.
Văn nghệ quần chúng là trường hoạt động tuyệt vời của tự nhận thức và giáo dục, tự thanh lọc và hoàn thiện của mỗi cá nhân thành viên xã hội. Chính vì vậy, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội nó có một vai trò và tác dụng vô song và vô địch đối với nhiệm vụ nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân, như Đại hội VI đã vạch ra. Và cũng chính vì vậy phong trào văn nghệ quần chúng phải được xây dựng và phát triển chủ yếu bằng những sức mạnh bên trong, những nhân tố “sở tại”, những gì được đưa từ ngoài vào hay từ trên xuống có tầm quan trọng và tác dụng đặc biệt của nó, nhưng nó không đủ, nó phải được kết hợp với cái “sở tại” mới tạo nên một bề sâu thích đáng cần thiết của một đời sống văn nghệ.
Cùng với việc xây dựng và phát triển không ngừng nền văn nghệ dân tộc xã hội chủ nghĩa, chúng ta còn phải tiến hành đồng thời cả việc đấu tranh chống lại mọi biểu hiện khác nhau của các thứ văn nghệ phản động và lạc hậu của các giai cấp và lực lượng xã hội thù địch. Điều này là tất yếu và hiển nhiên, không có gì phải bàn nhiều. Lâu nay chúng ta đã làm tốt việc này và cần tiếp tục.
Điều đáng lưu ý và đòi hỏi một sự quan tâm nghiên cứu và giải quyết thích đáng là, một mặt, chúng ta phải thường xuyên tiếp thụ, đón nhận và sử dụng tốt các nguồn văn nghệ của thế giới, xưa và nay, mặt khác phải đổi mới, phải bổ sung, hoàn thiện và nâng cao mọi mặt nền văn nghệ dân tộc của chúng ta để không chỉ theo kịp mà là góp phần tích cực nhất vào quá trình đổi mới và phát triển của xã hội ta.
Có thể khẳng định ngay là cả hai mặt, hai việc đó – đón nhận, sử dụng nguồn văn nghệ nước ngoài và đổi mới, hoàn thiện văn nghệ dân tộc - đều là tất yếu, là quy luật. Vấn đề chỉ là ở chỗ tiến hành hai việc đó như thế nào cho có lợi nhất. Thái độ thận trọng, có suy tính và cân nhắc là cần thiết, song không thể để nó trở thành một cái gì có thể làm trở ngại công việc của chúng ta. Việc làm thử, thể nghiệm và thăm dò dư luận cũng rất cần thiết và cần được giúp đỡ và thông cảm. Không phải mọi tìm tòi đều dẫn tới thành công và khó có cái mới nào được dễ dàng chấp nhận ngay.
Việc đón nhận và sử dụng - tất nhiên là có chọn lọc – các nguồn văn nghệ nước ngoài không chỉ góp phần thoả mãn nhu cầu nghệ thuật của công chúng, mà còn tạo ra những gợi ý thực tế để chúng ta suy nghĩ và sáng tạo. Văn học Xô-viết với sự phản ánh những vấn đề gay cấn của xã hội Xô-viết ; nhạc “rốc”, nhạc “pốp”, các loại ca khúc “mở” … mới hồi nào bị cả một bộ phận lớn của thế giới coi là một cái gì rất đỗi xa lạ, thậm chí là quái đản, giờ đây đã có “thị trường tiêu thụ” có thể nói là toàn cầu ; những gì làm cho An-la Pu-ga-chô-va trước đây bị coi là “đứa con bất trị” đã đưa lại cho nữ ca sĩ này danh hiệu cao quý “nghệ sĩ nhân dân” của Cộng hoà liên bang Nga ; sự đổi mới về nhiều mặt của sân khấu một loạt nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Liên Xô, trong thời gian gần đây ; việc tìm kiếm và khẳng định các “mũi nhọn”, các nét độc đáo riêng trong từng loại hình, loại thể nghệ thuật ở nước này, nước khác, cũng như trong phong cách và “cách làm ăn” của mỗi cơ quan nghệ thuật, mỗi đoàn, mỗi nhóm và của mỗi cá nhân nghệ sĩ, v.v… - tất cả những cái đó và những cái tương tự như vậy không thể không làm chúng ta suy nghĩ.
Đúng là phương hướng chung ở đây phải là sáng tạo và đổi mới trên cơ sở truyền thống dân tộc, trên cơ sở phát huy bản sắc dân tộc, trên cơ sở tính liệu đầy đủ nhu cầu và thị hiếu của công chúng dân tộc. Và đã có không ít ví dụ nói lên thành công của chúng ta theo phương hướng đó. Song cũng rõ ràng là văn nghệ của chúng ta hiện nay chưa đáp ứng được mong mỏi của công chúng, chưa nâng mình lên tới mức cần thiết của yêu cầu khách quan từ phía xã hội. Phải chăng có thể nói rằng văn nghệ của ta có quá ít những đỉnh cao, những tác phẩm có sức lay động lớn. Nhìn vào sân khấu, chẳng hạn, các thành công của Lưu Quang Vũ không ít, những vở tốt kiểu như “Người mất tích” không ít, song thật không dễ gì tìm ra nổi “kẻ tình địch” của “Bài ca giữ nước”. Tào Mạt đã thực sự tạo ra được đỉnh cao, một đỉnh cao đủ để đông đảo công chúng yêu quý và kính phục anh.
Song nếu nhìn vào các ngành nghệ thuật khác, không phải ngành nào cũng có một quang cảnh đáng khích lệ và đủ cả nền lẫn đỉnh như vậy. Lấy ngay một ngành được lịch sử thừa nhận là “đàn anh” : văn học, chẳng hạn. Dễ dàng thấy rằng trong những năm vừa qua, người có đóng góp nhất là Nguyễn Khải và anh xứng đáng chiếm một vị trí xứng đáng ở hàng chiếu cao của làng văn ta. Song chắc bản thân anh cũng không dễ gì gọi ra được một đỉnh cao trong số các tác phẩm của mình cũng như của các bạn đồng nghiệp. “Đứng trước biển” của Nguyễn Mạnh Tuấn, “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng cùng một số tác phẩm khác đều đã gây nên được một sự chú ý sôi nổi trong một số cộng đồng người. Song vẫn chưa tỏ là những đỉnh cao và có vị trí sâu sắc và lâu dài … Quang cảnh của nghệ thuật âm nhạc với sự nổi trôi tương đối của ca khúc cũng đại thể ở mức “thường thường bậc trung”. Điện ảnh ta, xét trên những mặt nhất định nào đó, cũng có thể nói là trưởng thành tương đối nhanh, thế nhưng hai món nợ lớn mà hàng triệu, hàng triệu khán giả trong nước và ngoài nước đòi một cách chính đáng ở nó, nó vẫn chỉ cứ trả dần một cách dè sẻn. Đó là những bức tranh toàn cảnh lớn về sự nghiệp kháng chiến và công cuộc xây dựng trên đất nước ta mấy chục năm qua, v.v… và v.v…
Rõ ràng phải đổi mới, đổi mới toàn diện và sâu sắc trong văn nghệ ta. Và đổi mới như vậy, ấy là tiếp tục tồn tại và phát triển.
Không có những lá đơn, những bài thuốc chung về đổi mới cho mỗi và mọi người làm công tác văn nghệ, cả nghệ sĩ lẫn người quản lý. Phải tự mỗi người, trên chỗ đứng cụ thể và với nhiệm vụ cụ thể của mình, suy nghĩ, tìm kiếm, trao đổi, bàn bạc mà tìm ra những giải pháp cụ thể cho sự đổi mới cụ thể của mình và ngang mình. Tuy nhiên, nhìn toàn cục và không nhắc lại những gì đã được nói ở các phần trên, chúng ta có thể nêu ra ở đây một số điều cần thiết chung.
Một, đổi mới đội ngũ văn nghệ sĩ theo hướng tận dụng, khai thác triệt để và đầu tư giúp đỡ có trọng điểm và có hiệu qủa cho những ai thực sự có tài năng và điều kiện sáng tạo nghệ thuật, kiên quyết bằng mọi cách loại dần ra khỏi đội ngũ này những ai qua thử thách đã chứng tỏ bất tài. Thường xuyên tổ chức, chính thức và không chính thức, thường kỳ và không thường kỳ, các hình thức thi đua khác nhau để cùng sàng lọc và phân loại các thành viên, trên cơ sở đó tiến hành một sự phân biệt đối xử thật rõ ràng, minh bạch, công khai : ai tài cao và cống hiến nhiều, hưởng nhiều ; ai tài thấp, cống hiến ít, hưởng ít ; ai bất tài, không có đóng góp gì, xin mời đi làm việc khác, nghề khác.
Hai, đổi mới đội ngũ những cán bộ phụ trách có trách nhiệm chính thức trong việc đánh giá và quyết định cách thức sử dụng các tác phẩm và các tài năng nghệ thuật. Thành lập cho mỗi loại hình, loại thể nghệ thuật một Hội đồng gồm những thành viên có đầy đủ các điều kiện về năng lực và phẩm chất của tư cách đánh giá chính thức, tư cách đại diện cho nhân dân và thay mặt cho Đảng và Nhà nước ta trong việc thẩm định chính thức giá trị tác phẩm và quyết định cách thức sử dụng nó. Do chỗ Hội đồng này đã có đủ tư cách chính thức như vậy và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các quyết định của mình trước Đảng, trước dân, nên không một cán bộ Đảng hay cán bộ chính quyền nào được quyền can thiệp vào công việc này, trừ quyền khiếu nại về Hội đồng này. Đặc biệt chú trọng việc đổi mới theo hướng trên, đội ngũ những người phải làm công việc đánh giá này ở các nhà xuất bản, tiến tới chấm dứt tình trạng kẻ dốt dạy người khôn, trò quyết định số phận công trình của thày, kẻ vô trách nhiệm hành hạ người có trách nhiệm, kẻ giáo điều chặn bước người sáng tạo, … làm sao để mỗi văn nghệ sĩ tác giả, mỗi người lao động sáng tạo đến với nhà xuất bản không chỉ như đến với một khâu kiếm sống bất đắc dĩ, mà như đến với những người thực sự thay mặt Đảng, thay mặt dân sẵn sàng giúp đỡ và giúp đỡ có hiệu quả thật sự cho công việc sáng tạo của mình vì lợi ích của sự nghiệp cách mạng.
Ba, đổi mới đội ngũ cán bộ quản lý và lãnh đạo văn nghệ. Các cấp uỷ đảng và các cấp chính quyền ở tất cả các cấp cần thấy rằng văn nghệ là một lĩnh vực nghề nghiệp có đặc thù riêng và hết sức tinh vi, là một sự nghiệp hết sức khó khăn và có một tầm quan trọng nhất định, không thể thiếu được đối với cách mạng, đối với đời sống xã hội, nên không thể phân công cho bất kỳ ai phụ trách cũng được, miễn là người đó “có phẩm chất”. Ở đây nguyên một phẩm chất thì chưa đủ và dứt khoát không được, mà nhất thiết phải am hiểu nghề nghiệp, phải yêu quý văn nghệ sĩ và biết cách tiếp cận, giúp đỡ, tổ chức văn nghệ sĩ. Trong cơ cấu cấp uỷ, trong tổ chức chính quyền, nhất thiết phải có người đủ điều kiện cần thiết để quản lý và lãnh đạo tốt lĩnh vực tế nhị và khó khăn này. Tiến hành kiểm tra lại trình độ nghiệp vụ cần thiết đối với công tác lãnh đạo và quản lý văn nghệ, trên cơ sở này mà loại dần những người không có năng lực và bồi dưỡng thêm cho những người còn được giữ lại để tiếp tục công tác với chất lượng tốt hơn.
Bốn, xoá bỏ tính chất bình quân trong chính sách đãi ngộ đối với văn nghệ sĩ, thực hiện bằng được yêu cầu của Đảng ta đã được nêu lên ở Đại hội VI : “Cải tiến chính sách đối với người làm công tác nghệ thuật chuyên nghiệp, đãi ngộ xứng đáng lao động nghệ thuật, động viên sáng tác, khuyến khích tài năng”. Ở đây, vấn đề chủ yếu là cách nhìn, chứ không hẳn là do “cái khó bó cái khôn”. Một chánh phó phòng nào đó, nhất là một chánh phó chủ tịch quận nào đó có thể sống như ông hoàng với đầy đủ các tiện nghi, trong khi đó các tài năng sáng tạo nghệ thuật và khoa học phải sống thiếu thốn, khổ cực ! Thu nhập hàng tháng của những người lao động chân tay có chút ít tay nghề hiện nay gấp năm, gấp mười thu nhập của các nghệ sĩ nổi tiếng, các giáo sư, tiến sĩ ! Cần thấy rõ ràng nỗi đau do bất công xã hội ở người có đầu óc bao giờ cũng đau gấp năm, gấp mười lần hơn ở những người “không có đầu óc”.
Năm, khuyến khích mọi tìm tòi và cổ vũ mọi đổi mới về mọi mặt trong sáng tạo nghệ thuật, về nội dung và hình thức, về thể loại và phong cách, về bút pháp và cách thể hiện, về ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật, v.v… Yêu cầu chung ở đây là : tạo ra được những tác phẩm nghệ thuật có nội dung tư tưởng nằm trong quỹ đạo chung của văn nghệ xã hội chủ nghĩa, có độ hay và sức hấp dẫn càng lớn càng tốt. Xoá bỏ mọi thứ trở ngại giả tạo, kiểu khuôn sự nhận xét vào trong các công thức như “chỉ được phê phán tới cấp tỉnh bên dân sự và cấp tá bên quân sự” chứ không được đụng tới cấp cao hơn ; trong mỗi tác phẩm phải có quãng “7 phần ca ngợi và 3 phần phê phán” ; kiểu vẽ này, giai điệu nọ … là lấy từ hay bắt chước chỗ nọ, nước kia, tác giả là người có quá khứ thế này, sinh hoạt thế nọ, v.v… Căn cứ cần và đủ để xét định một tác phẩm nghệ thuật là và chỉ là bản thân tác phẩm đó với tất cả những yếu tố hợp thành và làm nên nó. Lý lịch của tác giả là vô can ở đây. Mỗi thể nghiệm thành công phải được ủng hộ và khuyến khích cả về tinh thần lẫn vật chất. Tác phẩm hay mười được trả mười, tác phẩm hay năm được trả năm. Tác phẩm cực hay được nhận giải thưởng lớn.
Nói tóm lại, mỗi người, mỗi tập thể, mỗi cơ quan, mỗi tổ chức, mỗi ngành trên toàn lĩnh vực văn nghệ đều có trách nhiệm thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ và yêu cầu Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra, mà điều cốt lõi là đổi mới mọi mặt, mọi khâu của toàn bộ sinh hoạt văn nghệ, giải phóng và thúc đẩy mọi tiềm năng sáng tạo nghệ thuật nhằm xây dựng và phát triển thật tốt nền văn nghệ dân tộc xã hội chủ nghĩa của chúng ta với chất lượng ngày càng cao và do đó, có hiệu quả tác động ngày càng lớn vào quá trình đổi mới và phát triển của đời sống xã hội chúng ta trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chương V
Về Đảng lãnh đạo và nâng cao trình độ lãnh đạo
Trong thời đại cách mạng vô sản, văn hoá, văn nghệ phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Đó là một tất yếu lịch sử. Điều này xuất phát từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, văn hoá, văn nghệ phải có tính giai cấp. Giai cấp nào thống trị về chính trị tất nhiên thống trị cả về ý thức tư tưởng, về văn hoá, văn nghệ.
Đảng cộng sản, đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo toàn dân đấu tranh lật đổ quyền thống trị của phong kiến, thực dân, đồng thời phải lật đổ cả quyền thống trị về văn hoá, văn nghệ, phải đấu tranh chống lại và xoá bỏ thứ văn hoá văn nghệ của giai cấp thống trị.
Do văn hoá, văn nghệ có tính giai cấp, nên văn hoá, văn nghệ bao giờ cũng tuân theo chính trị của một giai cấp nhất định. Trong xã hội có đấu tranh giai cấp, không có thứ văn hoá, văn nghệ siêu giai cấp và phi chính trị. Nó không phụ thuộc vào chính trị của giai cấp khác. Nó biểu hiện tư tưởng và quan điểm của một giai cấp nhất định, nó (có ý thức hay vô ý thức) phục vụ cho chính trị của giai cấp này hay giai cấp khác. Dù có những tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, có tính toàn nhân loại tồn tại lâu dài trong lịch sử, nhưng trong buổi đầu khi nó ra đời, nó cũng đã phù hợp với lợi ích và chính trị của một giai cấp.
Các giai cấp thống trị phong kiến và tư sản thường che giấu tính giai cấp của văn hoá, văn nghệ để lừa bịp nhân dân. Ngược lại học thuyết Mác – Lê-nin nêu rõ tính giai cấp của văn hoá, văn nghệ và khẳng định nó bằng yêu cầu tính Đảng đối với văn học, nghệ thuật.
Văn nghệ phải phục tùng chính trị của giai cấp, Đảng của giai cấp công nhân là người vạch ra phương hướng chính trị cho văn nghệ. Đảng không lãnh đạo văn nghệ thì văn nghệ không có phương hướng chính trị. Đó là một nguyên lý, Đảng ta, trong lịch sử lãnh đạo cách mạng đã vạch ra đường lối dân tộc dân chủ cho cách mạng Việt Nam và sau đó trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ, Đảng đã nêu cao chiến lược hai ngọn cờ : ngọn cờ dân tộc độc lập và ngọn cờ chủ nghĩa xã hội. Đó chính là cơ sở để cho Đảng định ra nguyên tắc Dân tộc – Khoa học - Đại chúng trong việc xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ dân chủ nhân dân. Đó chính là nội dung Đề cương văn hoá 1943 của Đảng. Sau này Đảng lại xác định xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Trong quá trình chiến đấu chống xâm lược, giành độc lập, Đảng ta đã coi văn nghệ là một công cụ tư tưởng có sức mạnh lớn. Hồ Chủ tịch đã chỉ ra “văn hoá, văn nghệ cũng là mặt trận và các nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó”.
Văn nghệ nước ta đã đi theo phương hướng đó mà phát triển và có những thành tựu to lớn, được coi như một nền văn nghệ đứng vào hàng ngũ tiên phong của văn nghệ chống đế quốc trên thế giới.
Lịch sử đã xác định rõ rệt nguyên lý : văn nghệ chỉ có thể phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng.
* * *
Nhưng như thế, không có nghĩa là Đảng lãnh đạo văn nghệ là chỉ lãnh đạo về chính trị. Đảng lãnh đạo văn hoá, văn nghệ là lãnh đạo toàn diện : lãnh đạo về chính trị, tư tưởng, lãnh đạo về nghệ thuật và lãnh đạo về tổ chức.
Đảng quan tâm rất nhiều đến việc trang bị thế giới quan Mác-xít cho các nghệ sĩ sáng tác, yêu cầu các nghệ sĩ nắm vững phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, giúp các nghệ sĩ tránh những xu hướng nghệ thuật phản động, đồi truỵ, không lành mạnh. Đảng thu hút các văn nghệ sĩ đứng vào hàng ngũ của Đảng ngày càng đông, giúp các văn nghệ sĩ tổ chức các đoàn thể xã hội mang tính nghề nghiệp của mình để đoàn kết các nghệ sĩ và phát huy sức mạnh sáng tạo của các nghệ sĩ. Đảng định ra những phương hướng, nguyên tắc và các chế độ chính sách để bảo đảm các hoạt động sáng tạo của văn nghệ. Tư tưởng của Đảng là yêu cầu tác phẩm nghệ thuật phải tốt về nội dung tư tưởng và hay về nghệ thuật. Câu nói tiêu biểu của đồng chí Phạm Văn Đồng là “Tác phẩm phải đạt yêu cầu 100 % về nội dung và 100 % về hình thức. Đã là nghệ thuật thì phải hay !”.
Đảng thực hiện sự lãnh đạo toàn diện, nhưng Đảng luôn nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với đặc thù của văn hoá, văn nghệ, không thực hiện sự lãnh đạo của mình giống hệt sự lãnh đạo các lĩnh vực khác, không san bằng văn nghệ với các lĩnh vực khác. Văn nghệ không có sự lãnh đạo của Đảng là thứ văn nghệ phi giai cấp, phi chính trị, rút cục là thứ văn nghệ có lợi cho những thứ kẻ thù của cách mạng, của dân tộc, không có lợi gì hoặc chống lại lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của dân tộc.
Đảng không thực hiện sự lãnh đạo của mình hoặc không quan tâm lãnh đạo hoặc không biết cách lãnh đạo, hoặc lãnh đạo theo những phương pháp sai trái, không phù hợp với đặc thù văn nghệ không những không làm cho văn nghệ phát triển tốt mà còn làm trở ngại khó khăn cho sự sáng tạo trong văn nghệ, làm cho văn nghệ trở nên khô cằn, nghèo nàn, không làm được chức năng và sứ mệnh cao cả của mình đối với lịch sử, với nhân dân. Và như vậy Đảng cũng không làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo xây dựng xã hội. Do đó cần phải thấu suốt nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ.
* * *
Nội dung và phương thức lãnh đạo văn nghệ của Đảng thể hiện ở các điểm như sau :
1) Đảng luôn nhận định về vai trò, vị trí của văn hoá, văn nghệ trong sinh hoạt của xã hội, coi đó là lĩnh vực cực kỳ quan trọng, là một lĩnh vực có khả năng giáo dục xây dựng con người mới về tư tưởng, tình cảm không gì thay thế được, là một lĩnh vực tình cảm, có nhiều đặc thù trong lao động sáng tạo, một lĩnh vực hết sức phức tạp.
Những nhận định này phải được thể hiện ở mức độ quan tâm và trách nhiệm của các tổ chức Đảng, ở thái độ của các tổ chức Đảng đối với hoạt động văn hoá, văn nghệ và đối với các văn nghệ sĩ, ở chỗ xác định mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Đảng xác định văn nghệ phải phục tùng chính trị, phục tùng chính trị là phục tùng đường lối chính trị của Đảng chứ không phải phục tùng và phục vụ những nhiệm vụ công tác hàng ngày, càng không phải là phục tùng và phục vụ cá nhân làm chính trị (xem Trường Chinh, Về văn hoá nghệ thuật, Nxb Văn học, Tập I, tr.217).
2) Đảng nhấn mạnh đặc thù của văn nghệ. Đó là đặc thù của lao động sáng tạo, đặc thù của các tác phẩm nghệ thuật trong sự biểu hiện và tồn tại của nó, trong sự tác động của nó đối với con người, đối với công chúng. Lao động sáng tạo là một lao động có nhiều điều bí ẩn và kỳ diệu, không thể coi nó giống như bất cứ một quy trình sản xuất của cải vật chất nào khác. Người sáng tạo phải là người có tài năng. Phải coi trọng tài năng và cá tính của tài năng. Phải thấy tài năng là của hiếm và tài năng là của nhân dân. Đảng trân trọng và bồi dưỡng phát huy tài năng của nghệ sĩ là vì lợi ích của nhân dân chứ không phải vì bản thân người nghệ sĩ. Tài năng cần được phát triển trong cuộc sống, không phải chỉ có kỹ năng, kỹ xảo. Đảng luôn khuyến khích văn nghệ sĩ đi vào cuộc sống, sống cuộc sống chiến đấu và lao động sáng tạo. Đó là một mặt bồi dưỡng tài năng rất chính đáng và có hiệu quả. Vì cuộc sống đẹp sẽ làm cho tâm hồn nghệ sĩ cao đẹp và do đó mới phát triển tài năng một cách tốt đẹp.
3) Đảng lãnh đạo văn hoá, văn nghệ không phải là hạn chế văn nghệ, hạn chế sáng tạo, gò bó sáng tạo, mà là làm cho văn nghệ được tự do sáng tạo, được phát triển mạnh mẽ, được nâng cao chất lượng, trình độ và nâng cao tác dụng đối với xã hội. Đảng luôn luôn chủ trương khuyến khích tự do sáng tạo, khuyến khích sự tìm tòi tạo nên nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau và phong phú. Đảng luôn giúp các nghệ sĩ tránh được những sai lầm có hại cho sự sáng tạo.
Nếu các nghệ sĩ được trang bị một cách đầy đủ và sâu sắc thế giới quan Mác-xít là thế giới quan khoa học nhất thì bản thân người nghệ sĩ sẽ thấy được tự do phóng khoáng trong sáng tạo, được giải thoát khỏi những ràng buộc dung tục và thấp hèn, bởi vì tự do là “tất yếu được nhận thức”. Đảng lãnh đạo không hề mâu thuẫn và hạn chế tự do sáng tạo.
4) Đảng chủ trương xây dựng một nền văn hoá mới bằng cách tích luỹ cho xã hội toàn bộ giá trị văn hoá quá khứ của loài người và của dân tộc, đồng thời sáng tạo những giá trị tinh thần mới trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị cổ truyền. Văn hoá, văn nghệ có tính dân tộc không phải là văn hoá, văn nghệ khép kín trong những hoạt động sáng tạo của bản thân dân tộc mình, không phải là bảo thủ, chỉ có đề cao các giá trị cổ truyền.
Đảng luôn đặt tính dân tộc trong mối quan hệ với tính thời đại, với tính quốc tế, trong điều kiện cách mạng thế giới hiện nay.
5) Đảng coi xây dựng nền văn hoá mới vừa là bảo tồn những giá trị cổ truyền phù hợp với thời đại, vừa là tạo nên những giá trị mới để xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh, cao cả trong nhân dân, bao gồm cả nhu cầu hưởng thụ và nhu cầu sáng tạo.
Việc thoả mãn các nhu cầu văn hoá nằm ngay trong việc thoả mãn các nhu cầu vật chất, nằm ngay trong các kế hoạch phát triển sản xuất, phát triển kinh tế. Cho nên xây dựng nền văn hoá mới phải bao gồm toàn bộ các hoạt động hướng cuộc sống con người luôn vươn tới cái thật, cái thiện và cái đẹp. Đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, của tất cả mọi người chứ không phải chỉ là một số công tác và hoạt động văn hoá. Do đó phải phát triển văn hoá có chương trình và có kế hoạch.
* * *
Từ những điểm trên, ta có thể thấy phương thức lãnh đạo văn hoá, văn nghệ của Đảng có những đặc điểm như sau :
1) Đảng khuyến khích sự sáng tạo cho nên có những chủ trương, chính sách cụ thể để khuyến khích sáng tạo như các giải thưởng, các cuộc thi, v.v… và luôn luôn có thái độ khoan dung với những phát hiện mới mẻ, đồng thời hết sức nghiêm túc, ngăn chặn sự xuất hiện những yếu tố độc hại, nhảm nhí trong văn hoá, văn nghệ.
2) Đảng hết sức coi trọng tài năng, ân cần và trân trọng những nghệ sĩ tài năng. Sở dĩ như vậy là vì Đảng ta luôn luôn ý thức rằng chỉ có thể xây dựng được một nền văn nghệ cách mạng với một đội ngũ đông đảo văn nghệ sĩ cách mạng. Sự trân trọng của Đảng ta đối với những người hoạt động trên mặt trận văn nghệ, tình cảm ưu ái bao la của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thái độ gần gũi ân cần và tiếp xúc cởi mở của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với cả đội ngũ cũng như từng cá nhân văn nghệ sĩ, đặc biệt là đối với những văn nghệ sĩ có tài năng, sống hết lòng với cách mạng và nhân dân, sự trận trọng ấy bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc đối với vấn đề có tính quy luật ấy của sự nghiệp xây dựng một nền văn nghệ mới. Với ý thức ấy, Đảng còn luôn luôn chú trọng phát hiện và bồi dưỡng các mầm non năng khiếu để phát triển tài năng.
3) Đảng luôn luôn coi lao động nghệ thuật là một thứ lao động đặc biệt, mang nhiều cá tính rõ rệt. Đảng thường áp dụng phương pháp tác động riêng biệt đến từng nghệ sĩ chứ không phải hàng loạt và đồng loạt. Đảng cần biết rõ tài năng từng người, sở trường của từng người, những yêu cầu và nguyện vọng sáng tạo của từng người và tạo nhiều điều kiện để từng người sáng tạo.
4) Một đặc điểm trong phương thức lãnh đạo và hướng dẫn các hoạt động văn hoá, văn nghệ của Đảng là vận dụng sự phê bình, coi trọng công tác lý luận và hết sức khuyến khích sự phê bình. Sự phê bình văn nghệ vừa có ý nghĩa thảo luận, tranh luận để tìm ra điều gì hay nhất, tốt nhất, vừa để giúp các nghệ sĩ sáng tác nâng cao trình độ sáng tác, vừa có thể hướng dẫn giáo dục nghệ thuật cho công chúng.
Công tác lý luận, phê bình văn nghệ giúp Đảng lãnh đạo và hướng dẫn các hoạt động văn nghệ. Những người có trách nhiệm lãnh đạo văn nghệ phải có một trình độ lý luận phê bình nhất định.
5) Văn nghệ sống trong đời sống của nhân dân, của công chúng. Quan tâm tới công chúng, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của công chúng đối với văn nghệ cũng là một đặc điểm quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Coi trọng công chúng thể hiện ở cả hai mặt. Một mặt quan tâm tới việc giáo dục thẩm mỹ cho công chúng, nâng cao trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, bồi dưỡng những thị hiếu lành mạnh cho công chúng. Mặt khác, hiểu thấu được nhu cầu, nguyện vọng và thị hiếu của công chúng để hướng hoạt động văn nghệ thoả mãn ngày càng đầy đủ các nhu cầu và thị hiếu của công chúng, đồng thời dựa vào ý kiến của công chúng để đánh giá các tác phẩm cho công bằng và chính xác. Phải biết kết hợp lý luận với ý kiến công chúng để đánh giá tác phẩm. Hết sức tránh đem ý kiến chủ quan của người lãnh đạo để làm tiêu chuẩn đánh giá.
Có lần các nhà làm phim đem phim mới làm đến chiếu cho Bác Hồ xem, sau khi Bác xem, anh em hỏi xin ý kiến của Bác, Bác chỉ vào những khán giả cùng ngồi xem và bảo các nhà làm phim rằng : “Hỏi ý kiến của đồng chí này xem sao”. Đó là một thái độ mẫu mực, biểu hiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá, văn nghệ.
6) Một đặc điểm quan trọng nữa trong phương thức lãnh đạo của Đảng là tổ chức sự lãnh đạo. Về mặt tổ chức, Đảng thực hiện sự lãnh đạo ở hai lực lượng.
a) Lực lượng đảng viên trong các tổ chức đảng ở các đơn vị, các đoàn thể văn nghệ. Đảng hết sức quan tâm việc phát triển đảng viên và củng cố tổ chức đảng trong các tổ chức này, làm cho đội ngũ đảng viên ngày càng đông, càng mạnh. Các đảng viên trong các tổ chức này chủ yếu là những trí thức, những nghệ sĩ là những người thấm nhuần lý tưởng và lý thuyết của Đảng, thấm nhuần những quan điểm của Đảng, vận dụng vào hoạt động thực hiện của đơn vị mình, bảo đảm cho những hoạt động văn nghệ luôn theo đúng phương hướng chính trị của Đảng trong văn nghệ, thúc đẩy sự phát triển của văn nghệ mạnh mẽ và đúng hướng.
b) Lực lượng thứ hai là các cán bộ tham mưu của Đảng trong các cơ quan tham mưu của cấp uỷ. Những cán bộ tham mưu này tuỳ tình hình cụ thể có thể nằm trong các cơ quan tư tưởng của Đảng (tuyên huấn) hoặc trong các cơ quan văn hoá của Đảng. Yêu cầu lý tưởng đối với những cán bộ này phải có phẩm chất chính trị cao và vững, đồng thời hiểu biết sâu sắc văn nghệ đến mức là chuyên gia có trình độ lý luận cao và có sức cảm thụ nghệ thuật chính xác và mạnh mẽ. Những cán bộ này phải là những người báo cáo tình hình với sự phân tích sâu sắc và chính xác với cấp uỷ và đề nghị những ý kiến chỉ đạo thích hợp để cấp uỷ quyết định sự chỉ đạo của mình.
7) Đảng luôn luôn củng cố và tăng cường sự lãnh đạo đối với văn hoá, văn nghệ để bảo đảm cho văn hoá, văn nghệ phát triển mạnh mẽ và nâng cao chất lượng để văn hoá, văn nghệ thực hiện có hiệu quả lớn đường lối chính trị của Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình.
Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định Đảng phải tăng cường và cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá, văn nghệ cho phù hợp với đặc thù của nó.
Sự tăng cường và cải tiến này có nghĩa là cần nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng. Nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng bao gồm việc nâng cao kiến thức chung và kiến thức văn hoá, văn nghệ, nâng cao bản lĩnh của các tổ chức đảng. Cải tiến sự lãnh đạo của Đảng cũng có nghĩa là phải khắc phục những phong cách lãnh đạo của các tổ chức đảng chưa phù hợp với đặc thù của văn hoá, văn nghệ.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng còn có nghĩa là phải hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ.
Điều cần lưu ý là sự lãnh đạo của Đảng phải được thực hiện ở rất nhiều phạm vi hoạt động của văn hoá, văn nghệ. Nhưng hầu như tất cả những nội dung và phương thức lãnh đạo kể trên đều phải nhằm vào một đối tượng quan trọng cần lãnh đạo là các lực lượng hoạt động văn hoá, văn nghệ, các lực lượng sáng tạo, tức những con người cụ thể, những nghệ sĩ. Những nghệ sĩ sáng tạo là những con người giàu cảm xúc, nhạy cảm với cuộc sống, có lao động đặc thù, có tài năng (tài năng lớn hay tài năng nhỏ), luôn có hoài bão sáng tác, luôn quan hệ và tiếp xúc với công chúng, có cuộc sống riêng bình thường, lại có cuộc sống sáng tạo. Tiến hành lãnh đạo văn hoá, văn nghệ, Đảng phải luôn luôn xử lý những vấn đề có quan hệ đến bản thân các con người cụ thể ấy.
* * *
Tất cả những đặc điểm vừa nêu trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá văn nghệ giúp chúng ta hiểu rõ vì sao Đại hội Đảng lần thứ VI lại đề ra một yêu cầu quan trọng : “nâng cao trình độ lãnh đạo”. Đây là một yêu cầu rất phải lẽ, rất cấp bách và kịp thời vì toàn bộ tình hình đất nước đòi hỏi sự đổi mới toàn diện và do đó trước hết là đòi hỏi sự đổi mới lãnh đạo tức là đòi hỏi lãnh đạo phải có một trình độ mới, đúng hơn, cao hơn.
Một trình độ lãnh đạo mới cần được đánh dấu trước hết bằng quan niệm nhận thức về nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng xã hội. Lãnh đạo xây dựng xã hội không phải chỉ là làm sao làm được nhiều của cải vật chất, tuy rằng việc đó là việc rất cần thiết, rất quan trọng. Lãnh đạo xây dựng xã hội trước hết và sau cùng là xây dựng những con người, là xây dựng văn hoá, là tạo nên những giá trị tinh thần, tạo nên nền tảng đạo đức và lối sống tốt đẹp cho xã hội. Chính vì vậy, văn hoá vừa là động lực của cách mạng, vừa là mục tiêu của cách mạng. Con người vừa là chủ thể sáng tạo xã hội vừa là sản phẩm của các hoạt động xã hội. Con người là đối tượng phục vụ cao nhất của mọi hoạt động xã hội. Con người phát triển hài hoà toàn diện là mục tiêu cao nhất của các hoạt động xã hội. Như vậy lãnh đạo văn hoá, không phải chỉ là sự quan tâm một số mặt công tác cụ thể mà là sự quán triệt, sự thấu suốt nhuần nhuyễn một quan niệm về văn hoá, về con người trong mọi hoạt động xã hội, trong đó trước hết là các hoạt động sản xuất, kinh tế, là những suy nghĩ về các phương hướng phát triển văn hoá, về bản chất nền văn hoá ta cần xây dựng, về các lĩnh vực hoạt động sản xuất tinh thần, về những giá trị tinh thần ta đã có, đang có và sẽ có. Ý thức này cần được hình thành một cách có hệ thống, có nguyên lý, chứ không phải chỉ là sự ngẫu hứng hoặc ý thích riêng của từng đồng chí Bí thư hay cấp uỷ viên về một môn thể thao hay nghệ thuật nào.
Nghị quyết Đại hội VI có ghi là cần nâng cao trình độ lãnh đạo của các cơ quan quản lý văn hoá các cấp. Phải hiểu rằng “nâng cao trình độ lãnh đạo” thì trước hết đó là yêu cầu đối với các tổ chức Đảng. Tổ chức Đảng cũng có nhiệm vụ phải quản lý văn hoá vì tổ chức Đảng phải có trách nhiệm toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội, không thể hiểu máy móc rằng chỉ cần nâng cao trình độ của các cơ quan trực tiếp phụ trách văn hoá như Bộ Văn hoá, các Sở Văn hoá, các Cục, Vụ, các nhà hát, v.v…
Các cơ quan lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước có thể có ba loại :
1. Các cấp uỷ Đảng, trong đó có vai trò quan trọng của các đồng chí Bí thư.
2. Các cơ quan tham mưu của Đảng.
3. Các cơ quan quản lý và điều hành của bộ máy Nhà nước.
Chúng ta thường bắt gặp những tình hình không ổn định lắm như sau :
Các cấp uỷ đầy tinh thần trách nhiệm thường đứng trước những nhiệm vụ cấp bách về kinh tế và cực kỳ phức tạp về đời sống vật chất với những điều kiện hết sức hạn chế về tài chính, vật tư, với các cơ chế phiền hà, nên không có thì giờ, không có điều kiện suy nghĩ đến những vấn đề văn hoá tinh thần của xã hội. Thỉnh thoảng có vài hiện tượng “không đáng hài lòng” nào đó thì lại dễ dàng kết luận là “có sự buông lỏng”, nhưng cũng không xác định được là ai buông lỏng và nếu không buông lỏng thì lẽ ra nên làm thế nào tốt hơn. Trong thực tế có những sự việc mà cứ máy móc áp dụng công thức, không buông lỏng thì phải nắm chặt, có khi lại hỏng việc chứ không phải tốt hơn. Thực chất của tình hình là vì ta không để tâm để lo đến các vấn đề văn hoá tinh thần, không có ý thức, quan niệm và kiến thức cần thiết, cho nên ta đã không xử lý, không biết xử lý và ta “buông trôi” chứ không phải chỉ là “buông lỏng”. Ta đã không thực hiện sự lãnh đạo. Trong khi đó, có lúc một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt nào đó lại phải “đích thân xét duyệt” một bộ phim, một tiết mục sân khấu, một ca khúc hay một bức tranh, bức tượng để đề ra những quyết định tối hậu về số phận tác phẩm đó, tuy bản thân các đồng chí đó chưa hề được trang bị kiến thức cần thiết để làm việc đó, ngoài những kinh nghiệm sống quý giá của mình. Cũng có nơi, ngành thể thao rất hạnh phúc có được đồng chí Bí thư mê đá bóng và do đó đội bóng được nuôi dưỡng đầy đủ và có sân vận động khang trang. Đoàn cải lương rất hạnh phúc vì có đồng chí Chủ tịch rất mê cải lương, v.v… và v.v…
Những tình hình “ngẫu hứng” kể trên nói lên tình trạng “không có sự lãnh đạo ổn định” cần phải được khắc phục một cách nghiêm túc.
- Về các cơ quan tham mưu của Đảng thì tình hình chung là nhiều cấp uỷ chưa có cơ quan tham mưu, chưa có cán bộ tham mưu. Cũng chưa có quan niệm về cán bộ tham mưu cho chính xác. Một số nơi có lập cơ quan tham mưu, thậm chí lập cả cơ quan đào tạo chuyên ngành văn hoá, văn nghệ. Thế nhưng thông thường ở đấy người ta chỉ chọn cán bộ tập trung vào tiêu chuẩn tin cậy về chính trị và có quá trình cách mạng. Đành rằng những tiêu chuẩn ấy là quan trọng và cần thiết, song nếu chỉ như vậy thì rõ ràng là chưa đủ. Những người như thế không thể làm tham mưu được dù rằng họ là những vốn quý, những người đáng kính trọng.
Những người làm tham mưu cho Đảng về văn hoá, văn nghệ nhất thiết phải có ý thức chính trị, ý thức cao về Đảng. Nhưng những điều kiện khác rất cốt yếu không thể không có là có kiến thức cơ bản, tương đối đầy đủ về văn hoá, văn nghệ, có trình độ nhạy cảm, tiếp xúc nhiều với văn nghệ, có khả năng đánh giá tương đối chính xác các hiện tượng nghệ thuật. Họ lại còn phải là người có tâm huyết, có nhiệt tình yêu mến nghệ thuật, đủ tin cậy và tốt nhất là có được cảm tình với giới văn nghệ, tiếp cận dễ dàng với họ, có tính trung thực cao.
Người làm tham mưu cho Đảng phải hiểu được tiếng nói của văn nghệ sĩ và làm cho văn nghệ sĩ hiểu được tiếng nói của Đảng. Người của Đảng nói chuyện với văn nghệ sĩ mà như người điếc nói chuyện với người ngọng thì hoàn toàn không được. Cấp uỷ phải lãnh đạo toàn diện. Mỗi lĩnh vực, cấp uỷ phải có tham mưu giỏi. Cấp uỷ phải biết chọn tham mưu và dùng tham mưu, tham mưu phải biết việc mình và biết giúp cấp uỷ. Đó là một điều rất quan trọng để nâng cao trình độ lãnh đạo.
Đối với các cơ quan trực tiếp quản lý các cơ quan và cơ sở văn hoá thì cũng có nhiều vấn đề đặt ra. Trước hết là đang có mâu thuẫn giữa các cơ quan quản lý hành chính tổng hợp như kế hoạch, tài vụ, tổ chức, cán bộ, đào tạo với các đơn vị nghệ thuật, các cơ sở và nghệ sĩ sáng tạo. Các cơ quan hành chính chưa có sự hiểu biết cần thiết về những đặc thù nghệ thuật và đặc điểm lao động của nghệ sĩ, chưa có các phương pháp, các hình thức và quy trình quản lý phù hợp, nên còn gây nhiều phiền hà, tréo giò, trở ngại.
Mặt khác cũng có mâu thuẫn giữa các cơ quan, cơ quan sở văn hoá tức là các cơ quan chuyên ngành với các cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo chung. Dù muốn hay không, các cơ quan văn hoá vẫn phải hàng ngày tiếp xúc với văn nghệ sĩ, với tác phẩm, với kiến thức, với thông tin chuyên ngành trên thế giới và ở trong nước, do đó tự nhiên là kiến thức, ý thức của những người hoạt động ở đây luôn luôn được bổ sung, nâng cao và đổi mới. Trong khi đó ở các cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo chung lại ít có điều kiện như vậy nên dễ xảy ra những trường hợp không ăn khớp, thiếu đồng bộ, thậm chí chậm chạp. Chẳng hạn sau khi một vấn đề mới nào đó được truyền đạt, một kinh nghiệm hay được phổ biến, một nghị quyết nào đó của Đảng được quán triệt thì thường thường ở anh em chuyên ngành đều có một nhận xét giống nhau : “Giá như cấp uỷ và cơ quan chính quyền của chúng tôi cũng thấy vấn đề như thế này thì hạnh phúc cho chúng tôi quá !”.
Còn các cơ quan và cơ sở văn hoá nghệ thuật thì lại luôn luôn có mâu thuẫn riêng, đứng trước những vấn đề chất lượng nghệ thuật, những đòi hỏi của công chúng, những vấn đề phương hướng hoạt động, điều kiện hoạt động, mà các cơ sở chưa đủ sức vươn lên được.
Đó là tóm tắt ba mặt mâu thuẫn của các cơ quan và cơ sở văn hoá nghệ thuật. Tất cả những vấn đề của cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu, cơ quan và cơ sở chuyên ngành đều là nội dung của yêu cầu “nâng cao trình độ lãnh đạo” để phát triển sự nghiệp văn hoá, văn nghệ.
* * *
Để thực hiện được sự “nâng cao trình độ lãnh đạo” văn hoá, văn nghệ, cần phải giải quyết các vấn đề như sau :
1) Trước hết phải giải quyết các vấn đề về quan niệm, về nhận thức. Phải xác định quan niệm cho rõ văn hoá và con người, văn hoá là con người. Văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con người vừa là chủ thể sáng tạo trong cách mạng, vừa là đối tượng phục vụ cao nhất của mọi hoạt động xã hội. Con người phát triển toàn diện hài hoà là mục tiêu cao nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Lãnh đạo xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa phải trước hết và sau cùng là nhằm vào văn hoá. Phải bắt đầu xây dựng nền văn hoá mới, con người mới ngay từ bây giờ, không chờ đến sau khi có kinh tế phát triển cao.
2) Muốn thế phải hiểu biết thế nào là văn hoá, thế nào là văn hoá xã hội chủ nghĩa, thế nào là văn học nghệ thuật, thế nào là tính giai cấp, tính Đảng, tính nhân dân, tính dân tộc của văn hoá, văn nghệ. Phải hiểu biết những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác – Lê-nin, các vấn đề bản chất của vai trò và chức năng xã hội của văn học nghệ thuật, đặc thù của văn học, nghệ thuật, đặc trưng ngôn ngữ của từng loại nghệ thuật.
Phải biết yêu mến văn học, nghệ thuật. Yêu văn học, nghệ thuật tức là biết yêu cái đẹp, yêu cái tốt, có ý muốn tự hoàn thiện, nâng cao mình và nâng cao xã hội, đó là tình cảm cần thiết của người lãnh đạo.
3) Phải giải quyết các vấn đề cơ chế. Trước hết là cơ chế lãnh đạo, bao gồm : Chương trình nghị sự của các cấp uỷ không bao giờ được thiếu vấn đề văn hoá. Cần phải xây dựng, kiện toàn và sử dụng tốt cơ quan tham mưu, phải chọn cán bộ đúng cho cơ quan tham mưu, trao nhiệm vụ đúng cho cơ quan tham mưu, qua cơ quan tham mưu và trực tiếp tiếp xúc với giới trí thức văn hoá, văn nghệ.
Thứ hai là cơ chế, chính sách, bao gồm chính sách khuyến khích sáng tạo, chính sách bảo tồn, đặc biệt chú ý chính sách thù lao lao động nghệ thuật phù hợp với đặc thù của nó, kể cả chính sách nhuận bút các loại và chính sách tiêu thụ sản phẩm nghệ thuật, chính sách tạo công ăn việc làm cho nghệ sĩ. Cần có chính sách về nguồn đầu tư cho văn hoá, cần có nguồn đầu tư thứ hai ngoài ngân sách cho sự nghiệp văn hoá bằng cách mở rộng Quỹ văn hoá với sự mở rộng nguồn thu, mở rộng các hoạt động kinh doanh văn hoá để có một nguồn đầu tư lớn cho các hoạt động và các công trình văn hoá.
Thứ ba là cơ chế đánh giá. Cơ chế này có ý nghĩa đặc biệt. Cần khắc phục tình trạng tuỳ tiện trong việc đánh giá, tình trạng vai trò cá nhân có quyền lực quá lớn trong việc đánh giá các sản phẩm nghệ thuật. Phải xây dựng các Hội đồng quốc gia gồm những nghệ sĩ bậc thầy được rèn luyện khá về chính trị, được đào tạo có hệ thống và cơ bản về chuyên môn, trung thực và vô tư. Những Hội đồng này có thẩm quyền đánh giá các tác phẩm và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Không ai có quyền bác bỏ những quyết định của Hội đồng, trừ khi có những vấn đề chính trị nghiêm trọng. Các Hội đồng này là cơ quan Nhà nước, được bổ nhiệm theo một thể chế dân chủ thực sự.
Thứ tư là cơ chế vai trò xã hội của các hội sáng tạo. Đảng và Nhà nước đã công nhận và bảo trợ cho các Hội sáng tạo, cần xác định rõ hơn nữa vai trò các Hội trong các hoạt động xã hội. Cần có cơ chế tài chính cho các Hội độc lập về tài chính, có Quỹ hội lớn để có đủ điều kiện phát triển hoạt động, tạo điều kiện cho các Hội có đủ sức chịu trách nhiệm giải quyết các công việc của mình ngày một tốt đẹp.
 * * *
Trình độ lãnh đạo phải thể hiện ở lý luận, ở tổ chức, ở con người, ở chế độ làm việc, ở cơ chế, ở chính sách. Cần có phương hướng giải quyết đồng bộ các vấn đề trên, ta mới tạo được bước ngoặt có ý nghĩa trong sự nghiệp phát triển văn hoá, văn nghệ nói riêng và sự nghiệp phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung.

(Trích Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà văn, 2012)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét