Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Những vấn đề về điện ảnh, chất lượng nghệ thuật và hiệu quả xã hội


       (Lược ghi bài nói chuyện với những người làm công tác điện ảnh ở Hà Nội, tháng 02-1987)

       … Trước hết, ta cần chú ý đến chung quanh vấn đề gọi là “chính sách xã hội và vai trò con người”. Điều này bây giờ là một vấn đề thú vị và rất lớn để chúng ta đi sâu vào nghiên cứu những tư tưởng của Đảng, những tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức và quản lý xã hội.

Từ trước tới nay, vấn đề xã hội thường nằm trong một quan niệm rất thô sơ và thiếu sót, thậm chí còn có những lệch lạc. Khi nói đến những vấn đề xã hội thường ta chỉ nghĩ đến những việc cứu trợ, cứu tế, phụ cấp, trợ giúp, v.v… Còn những vấn đề xã hội gắn với kinh tế để xây dựng một xã hội mà trong đó xây dựng con người ngày càng phát triển tốt đẹp thì còn ít nói đến. Vấn đề xã hội phải được thể hiện trong các kế hoạch Nhà nước, các chủ trương chính sách, các thái độ đối xử với xã hội. Quan hệ của các vấn đề xã hội với các vấn đề kinh tế lại là sự quan hệ rất mật thiết và nó đòi hỏi phải được thống nhất. Cho nên trong Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ VI có câu : “Cần phải thể hiện sự thống nhất giữa các vấn đề chính sách kinh tế và chính sách xã hội, vì chính sách xã hội là chính sách đối với con người, với từng tập thể con người, với từng cộng đồng con người”. Những chính sách này cũng nhằm mang lại hạnh phúc cho con người, nâng cao từng bước con người đi tới phát triển toàn diện. Chính sách xã hội có ý nghĩa là xây dựng con người, chăm sóc và xây dựng con người.
          Trước đây, trong nhiều lúc, nhiều chỗ, quan niệm về chăm sóc đời sống cho con người được coi như là một cái đuôi, một cái hệ quả của các vấn đề kinh tế. Ta cũng thường nói về sự chăm lo, sự quan tâm, v.v… hàm cái ý ban ơn, làm phúc mà không thấy nhiệm vụ quan trọng nhất, nhiệm vụ chủ yếu của chế độ xã hội chủ nghĩa là chăm sóc đời sống con người.
           Khi nói đến chính sách xã hội, chúng ta phải rời bỏ quan niệm Đảng là người làm phúc, các cán bộ Đảng là những ông phật đứng lên trên dân để ban phát hạnh phúc, ân huệ cho dân. Chính sách xã hội là đường lối chính trị của Đảng, là những chính sách của Đảng, là trách nhiệm của từng người đảng viên làm cho xã hội này ngày càng tốt hơn, tức là những con người trong xã hội này ngày càng tốt hơn.
           Chính sách xã hội là như thế thì không thể nào nằm ngoài các chính sách kinh tế được. Nó phải nằm trong các chính sách kinh tế, phải thống nhất với các chính sách kinh tế.
            Một quan niệm không rõ ràng về vai trò của con người trong xã hội có những tai hại trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế đã đành, tệ hại hơn nó lại còn phá hoại cả đạo đức xã hội chủ nghĩa nữa. Không phải ngẫu nhiên cái quan điểm đầu tiên tôi nêu về văn hoá nghệ thuật là cần đặc biệt chú ý quan điểm về vấn đề chính sách xã hội và vai trò con người. Đây là vấn đề tư tưởng lớn của Đại hội Đảng lần thứ VI ; đồng thời cũng là chuyện con người, là chuyện xây dựng và phát triển con người.
           Trong văn kiện của Đại hội có nêu lên một yêu cầu là nâng cao chất lượng của các hoạt động văn hoá, văn nghệ và các hoạt động đó phải tính đến hiệu quả xã hội. Các hoạt động văn hoá thì thật muôn màu muôn vẻ. Ở đây tôi thấy hoạt động nghệ thuật là hoạt động quan trọng nhất. Vì khi ta bàn về chất lượng cũng như bàn về hiệu quả xã hội thì chủ yếu là bàn về chất lượng của nghệ thuật và hiệu quả xã hội của nghệ thuật. Nâng cao chất lượng của hoạt động văn hoá nghệ thuật là một khẩu hiệu có lâu rồi và chúng ta đã “hô” nhiều rồi. Bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục “hô” và có lẽ cũng bắt đầu khản giọng. Vậy, thế nào là nâng cao chất lượng nghệ thuật và chất lượng nghệ thuật là cái gì, vẫn còn là vấn đề cần phải bàn thêm.
          Quan niệm về chất lượng nghệ thuật còn có nhiều điều chưa đầy đủ và có nhiều điều còn lệch lạc. Nhiều lúc, nhiều chỗ người ta nói đến chất lượng nghệ thuật hình như chỉ thiên về tư tưởng của tác phẩm và coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng của chất lượng. Người ta cũng lấy đó làm tính chất quan trọng nhất để xem xét, đánh giá tác phẩm. Khi đặt vấn đề này cùng với vấn đề hiệu quả xã hội thì nó lại đặt ra nhiều chuyện khác. Thật ra, nội dung tư tưởng của một tác phẩm nếu không có chất lượng nghệ thuật bảo đảm thì cũng không có hiệu quả xã hội mà cũng không thể gọi là chất lượng được. Thậm chí có nhiều lúc nó lại phản tác dụng.
          Mọi tác phẩm gọi là tác phẩm nghệ thuật mà trình độ nghệ thuật quá thấp, không những quá thấp, nó lại còn lố bịch, lại ngớ ngẩn nữa, mà nó lại chứa đựng nội dung tư tưởng cao thì bản thân tác phẩm ấy cũng làm cho những tư tưởng cao này trở nên lố bịch ; không những người ta không tiếp thu được, không có tác động tích cực đối với những người thưởng thức mà ngược lại, còn tác động tiêu cực, làm cho người ta có thể dễ dàng đem chế giễu những tư tưởng cao đẹp định nói trong tác phẩm nghệ thuật lố bịch ấy. Chính điều này là một điều tai hại. Nó tai hại không những trong sự thưởng thức của xã hội, mà nó tai hại ngay cả trong những ý định sáng tác của tác giả. Nếu các tác giả bị gò bó trong quan niệm này thì tuy được trang bị những nội dung tư tưởng rất tốt, rất hay, nhưng khi đem ra trình diễn trước công chúng thì lại trở nên một tác phẩm nghệ thuật xoàng. Như vậy thì ý định của tác giả tốt bao nhiêu đi chăng nữa, cũng đem lại những hiệu quả xấu. Mà những hiệu quả xấu ấy lại tác động trở lại tác giả. Tác giả lại trở nên một tác giả xoàng tuy rằng có trình độ tư tưởng cao. Vì vậy cho nên chất lượng của công tác văn hoá hay chất lượng của nghệ thuật cần phải được xem xét với những quan niệm đầy đủ hơn. Cần phải quan niệm một cách rõ rệt rằng : chất lượng của một tác phẩm phải có cả chất lượng tư tưởng và chất lượng nghệ thuật, chỉ có chất lượng nghệ thuật mới đảm bảo cho chất lượng tư tưởng. Chất lượng nghệ thuật và chất lượng tư tưởng phải trong một thể thống nhất mà những người sáng tác phải hết sức quan tâm đến chất lượng nghệ thuật.
         Đấy là chung quanh vấn đề nghệ thuật, thế nhưng chất lượng nghệ thuật của một tác phẩm thì nằm ở đâu, nhất là tác phẩm điện ảnh và tác phẩm sân khấu ? Nó không nằm trong nội dung tác phẩm hay nội dung văn học của tác phẩm mà nằm trong toàn bộ quá trình xuất hiện của tác phẩm, trong quá trình trình diễn tác phẩm trước công chúng, trong quá trình công chúng tiếp xúc với tác phẩm. Chất lượng tác phẩm (kể cả chất lượng tư tưởng và chất lượng nghệ thuật) nó thường ở trong kịch bản văn học. Và, có một kịch bản văn học để mà diễn đạt nội dung tư tưởng một cách tốt đẹp rồi, chúng ta có thể yên trí. Nhưng thực ra cái quá trình để nó biến kịch bản thành tác phẩm điện ảnh hay sân khấu và tiếp xúc với công chúng, nó còn nhiều yếu tố khác nữa mới quy định được chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Thông thường trong phần này chúng ta quan tâm đến nó chưa đầy đủ bằng lúc quan tâm đến nội dung tư tưởng của tác phẩm. Cho nên, gọi là nâng cao chất lượng nghệ thuật thì phải nâng cao một cách đồng bộ từ nội dung tư tưởng, nội dung văn học của kịch bản đến toàn bộ quá trình sáng tác ra tác phẩm điện ảnh và quá trình tiếp xúc của tác phẩm đối với công chúng.
        Hiện có một hiện tượng, một cái bệnh trong văn hoá cần phải tích cực khắc phục, cần phải phê phán một cách nghiêm túc, đó là cái bệnh tuỳ tiện, dễ dãi và hình thức chủ nghĩa trong nghệ thuật.
       Chúng ta tổ chức một cuộc sinh hoạt nghệ thuật, nhưng ngay trình độ tổ chức, ý thức tổ chức và những yếu tố của buổi sinh hoạt nghệ thuật ấy thường là quá tuỳ tiện, quá dễ dãi. Điều này có một tác hại là nó làm cho hiệu quả các tác phẩm nghệ thuật kém đi, đồng thời, nó lại tạo nên những nếp sống, những thị hiếu không lành mạnh trong công chúng.
       Muốn cho nghệ thuật có hiệu quả xã hội hay nói chung là công tác văn hoá có hiệu quả xã hội thì trước hết những người tạo ra và tổ chức những sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật phải hết sức nghiêm túc, hết sức khắt khe với những yêu cầu nghệ thuật. Điều này với từng nghệ sĩ tôi thấy các đồng chí đều có ý thức đầy đủ. Bởi vì các đồng chí là nghệ sĩ. Nhưng khi đi vào công việc sáng tạo và công việc tổ chức hoạt động, tôi thấy chính các đồng chí lại giảm đi ở trong mình cái cường độ của sự khắt khe ấy. Các đồng chí vẫn bị rơi vào cái tình trạng tuỳ tiện và dễ dãi.
       Vấn đề hiệu quả xã hội của nghệ thuật hay hiệu quả của công tác văn hoá, đều có vấn đề nghệ thuật và có vấn đề công tác văn hoá.
       Như đã nói ở trên, công tác văn hoá bao gồm nhiều mặt hoạt động nhưng trong đó chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là nghệ thuật ; khi đã đề cập đến vấn đề này ta phải quan tâm đến mấy mối quan hệ của hiệu quả xã hội sau đây:
       Trước hết là quan hệ giữa hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Mọi hoạt động nghệ thuật và văn hoá của ta bây giờ phải tính đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là ngành điện ảnh của chúng ta. Ngành điện ảnh Cu-ba có cái tên là Viện công nghiệp và nghệ thuật điện ảnh. Đúng là như thế. Ngành điện ảnh chúng ta vừa là một ngành công nghiệp, vừa là một ngành nghệ thuật, cho nên có vấn đề hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Bất cứ hoạt động văn hoá nghệ thuật nào khác cũng phải tính đến hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế đôi khi nó trùng hợp với hiệu quả xã hội. Đôi khi hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu để ta tính đến hiệu quả xã hội. Thông thường mà nói thì hiệu quả kinh tế là thứ hiệu quả có thể tính toán được, còn hiệu quả xã hội thì là một thứ hiệu quả không tính toán được. Nhưng đôi khi – chú ý là đôi khi chứ không phải là tất cả - có thể đo hiệu quả xã hội bằng hiệu quả kinh tế. Bản thân hiệu quả xã hội không đo được, không có đại lượng gì để đo nó được, chưa ai đặt ra được cái đại lượng này. Nhưng đôi khi phải đo nó bằng cách gián tiếp, bằng cách đo hiệu quả kinh tế, nhưng chỉ đôi khi nó trùng hợp thôi, còn thông thường thì không phải lúc nào nó cũng trùng hợp. Thậm chí, đa số nó không trùng hợp.
        Không những nó không trùng hợp mà có nhiều khi nó còn diễn biến theo cái véc-tơ nghịch. Nghĩa là, có những hoạt động văn hoá hay là những tác phẩm “nghệ thuật” mà hiệu quả kinh tế càng cao thì hiệu quả xã hội càng nguy hiểm. Tôi xin nhắc lại – đôi khi chúng ta mới có thể đo hiệu quả xã hội của nghệ thuật, của văn hoá bằng hiệu quả kinh tế, còn đa số thì không thể đo như vậy được. Đa số trường hợp lại có thể diễn ra là hiệu quả kinh tế nghịch với hiệu quả của xã hội.
       Tất cả các hoạt động văn hoá nghệ thuật phải lấy hiệu quả xã hội làm chính và hiệu quả kinh tế phải phục tùng, phục vụ cho hiệu quả xã hội. Ta không thể nói một cách thô sơ như trước đây, rằng lãi chính của ta là lãi tinh thần và ta phải thu các lãi tinh thần ấy bằng bất cứ giá nào. Lối nói đó là ấu trĩ, thô sơ mà bây giờ ta phải nói là hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Mà hiệu quả kinh tế, trong đó lại có hai mặt. Một mặt thể hiện ở doanh thu, một mặt ở sự chi tiêu hợp lý, sử dụng các thiết bị sẵn có trong tay một cách hợp lý, đó chính là hiệu quả kinh tế. Nhưng hiệu quả kinh tế phải phục tùng hiệu quả xã hội, phục vụ hiệu quả xã hội. Khi ta cần chi tiêu như thế nào để bảo đảm một hiệu quả xã hội lớn, hay hiệu quả nghệ thuật lớn thì ta không vì tiết kiệm mà lại coi thường hiệu quả nghệ thuật cần có. Cho nên hiệu quả kinh tế phải phục tùng, phục vụ hiệu quả xã hội.
       Tôi nghĩ, hiệu quả xã hội của nghệ thuật là sự tác động của nghệ thuật vào xã hội, vào từng con người, mà sự tác động này là tác động về mặt tinh thần, tác động tâm lý, tác động tư tưởng và tác động tình cảm.
        Bây giờ tôi nói thêm một ít xung quanh vấn đề vai trò và chức năng của nghệ thuật.
       Lần này được Đại hội Đảng ghi vào văn kiện quan trọng quan niệm về vai trò và chức năng nghệ thuật một cách rõ ràng, đó là một quan niệm hết sức tiến bộ. Tinh thần khẳng định trong nghị quyết lần này phù hợp, gần gũi hơn với những kết quả nghiên cứu về vấn đề này của thế giới. Ở đây, trong điều kiện cụ thể của chúng ta, ta cần nhấn mạnh một khía cạnh là - hoạt động nghệ thuật không thể là hoạt động tiêu phí, nó không làm phí tổn vô ích của cải xã hội, mà thực ra nó là hoạt động sản xuất, bởi nó tạo nên nhiều sản phẩm làm giàu đẹp thêm cho xã hội ; cái tạo nên này không phải nó chỉ làm giàu mà cái quan trọng là nó làm đẹp. Và đó là chức năng thực sự và cao quý của nghệ thuật.
       Những câu văn ghi trong các Báo cáo chính trị của Đảng ta ở Đại hội Đảng lần này đã thể hiện tinh thần ấy, không nói lại những chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ mà nói là phải bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho con người, bồi dưỡng bản lĩnh, nhân cách cho con người. Hiểu chức năng nghệ thuật như thế có lẽ đúng hơn.
      … Bây giờ nói sang chuyện đổi mới.
      Trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật và hoạt động nghệ thuật của chúng ta có phải đổi mới không? Và đổi mới thế nào? Đổi mới cái gì? Đây là vấn đề không dễ trả lời và chúng ta phải làm việc với nhau nhiều mới rõ ra được. Chúng ta cũng làm nhiều tổng kết rồi.
       Trong lĩnh vực này muốn đổi mới thì phải tổng kết và chỉ rõ ra một số bệnh trong hoạt động của nó, tức là chỉ ra những bệnh, chẩn đoán bệnh ấy cho thật nghiêm khắc, chúng ta mới mong đổi mới được, ví dụ: bệnh hình thức trong hoạt động văn hoá, văn nghệ của chúng ta chẳng hạn. Mà bệnh hình thức này nó bao gồm chứng tâng bốc nhau, chứng thành tích chủ nghĩa, có phải không? Vậy nếu có thật cái bệnh này thì cần phải mổ xẻ, phân tích nghiêm khắc nó, mới có thể đưa hoạt động văn hoá, văn nghệ đổi mới được.
      Các đồng chí ở trong giới làm sao nhìn lại, ít nhất là mười năm vừa qua, xem điện ảnh chúng ta nhiễm cái bệnh gì. Tôi chắc là nó có bệnh. Còn bệnh gì, nặng, nhẹ bao nhiêu thì chưa biết. Phải tìm cho ra cái bệnh ấy thì mới nói chuyện đổi mới.
      Có bệnh gì và chẩn đoán bệnh là chuyện của các đồng chí. Phải có phương pháp lý luận của vấn đề đổi mới, phải tìm ra được bệnh, chẩn đoán trúng bệnh và kịch liệt trị chữa bệnh mới đổi mới được.
      Tìm ra xem thời gian này trong nghệ thuật xuất hiện bệnh gì, đó là tiền đề cho sự đổi mới, đổi mới một cách có hiệu quả. Chứ không phải đổi mới là tìm cái gì kỳ quái từ trước chưa từng có và chúng ta cho là cái mới và đổi theo “cái mới” đó.
      Xin chúc các đồng chí khoẻ, lập nhiều thành tích.

      (Trích Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà Văn, 2012) 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét