Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Đổi mới và văn nghệ, văn nghệ và đổi mới


        Khi nêu vấn đề này, trước hết có câu hỏi cần trả lời: đó là trong khi cần đổi mới toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực, vậy văn nghệ có cần phải đổi mới không? và văn nghệ đổi mới thế nào? Chắc chắn không có ai nói rằng văn nghệ không cần đổi mới. Có điều văn nghệ cần đổi mới thì văn nghệ trước đây có những gì yếu kém và sai trái, có những gì lạc hậu lỗi thời? Chỉ có vạch rõ được những điều đó, ta mới có thể có sự đổi mới. 

Muốn tìm được những điều đó, ta phải tìm ở nhiều khâu:
        - Trước hết ở khâu bản thân văn nghệ sĩ, những chủ thể sáng tạo, là lực lượng sáng tác,
       - Tiếp theo là phải xem xét những tác phẩm đã có đánh giá chung được tình trạng hay là trình độ chất lượng các tác phẩm. Phải xem xét từ trình độ nội dung tư tưởng, đến trình độ nghệ thuật, phải có quan niệm chính xác về chất lượng nghệ thuật, để có căn cứ và tiêu chuẩn đánh giá,
        - Lại cần phải xem tình trạng phân phối và phổ biến các tác phẩm trên các mặt xuất bản, biểu diễn, triển lãm, tiêu thụ các giá trị nghệ thuật từ quan điểm, quan niệm cho đến các cơ chế tổ chức và kinh tế tài chính,
        - Sau nữa phải xem xét đến sự chuyển biến của công chúng, những thị hiếu lạc hậu, tầm thường, những nhu cầu mới, tâm lý mới, thị hiếu mới. Phải có sự đối chiếu mọi hoạt động sáng tác và phân phối nghệ thuật với những nhu cầu chính đáng và thị hiếu phát triển của công chúng, phân tích được chỗ phù hợp và chưa phù hợp. Có như thế mới thấy chỗ cần đổi mới,
        - Cuối cùng, bao trùm lên cả là xem đến sự lãnh đạo và quản lý của các cơ quan có trách nhiệm của Đảng và Nhà nước. Mặt này cũng phải biết “nhìn thẳng vào sự thật”, chỉ ra được những chỗ “lỗi thời” và “bất cập” mới có thể biết đường mà đổi mới. Có nhiều sự việc và hiện tượng có thể có những điều không vừa ý. Có người cho rằng do khuyết điểm này khác của lãnh đạo, do người này, cấp này hoặc người khác, cấp khác. Thực ra có những ý kiến nhận xét chê bai nghe ra có vẻ sát sao, nhưng nếu có hỏi những người có lời chê đó xem có ý kiến gì khắc phục không, thì chắc chắn rằng họ cũng chưa có. Hơn nữa, nếu có, mời ngay những người đó gánh vác những trách nhiệm thực sự thì họ không dám nhận làm, hoặc nếu nhận làm, có khi lại làm cho tình hình còn tệ hại hơn. Phải nói rằng với đặc điểm cách mạng của xã hội ta, rất nhiều lĩnh vực ta “chưa biết” làm, trình độ của ta “bất cập”. Vì vậy, Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra yêu cầu “nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý” là đã chỉ ra một chân lý, đã vạch ra một phương hướng của sự đổi mới rất quan trọng.
* * *
         Tuy ở trên kia nói đến bốn, năm mặt, bốn năm khâu cần đổi mới, nhưng mỗi mặt, mỗi khâu đều có quan hệ đến các khâu khác. Và tất cả các yêu cầu “đổi mới” trong các khâu cần phải tập trung vào một phương hướng cần thiết và duy nhất: “Nâng cao chất lượng của hoạt động nghệ thuật”. Những yêu cầu đổi mới của mỗi khâu có thể khác nhau ít nhiều, nhưng có rất nhiều yêu cầu phải vừa là yêu cầu chung của nhiều khâu, vừa ở một khâu có tác động đến nhiều khâu khác.
         Ví dụ các tác phẩm nghệ thuật cần phải hướng tới một lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp, những tác phẩm đó lại phải mang đến niềm vui cho công chúng, tức là thoả mãn nhu cầu giải trí của công chúng. Như vậy, đồng thời phải yêu cầu các nghệ sĩ sáng tác nâng cao được trình độ sáng tạo của mình, có đủ cảm hứng và năng lực tạo ra được những tác phẩm có giá trị cao. Đồng thời cũng yêu cầu công chúng phải được nâng cao thị hiếu thẩm mỹ, biết hưởng ứng náo nhiệt và thưởng thức sâu sắc những tác phẩm có giá trị cao một cách nghiêm túc. Thông thường công chúng với những nhu cầu và thị hiếu của mình có thể chi phối nghệ thuật; ngược lại, nghệ thuật có thể nâng cao công chúng, tác động tốt đẹp vào tâm hồn, tình cảm công chúng. Nhưng một thứ nghệ thuật nào đó cũng có thể tác động xấu vào tâm hồn, tình cảm của công chúng, làm hại công chúng, hạ thấp công chúng. Đi đôi với tất cả những điều vừa nói, quan trọng hơn cả là các lực lượng lãnh đạo xã hội cần phải hiểu biết tất cả những điều đó và có những chủ trương, chính sách cụ thể tác động vào lực lượng sáng tác và tác động vào công chúng, để thực hiện được việc xây dựng xã hội, xây dựng con người ngày càng tốt đẹp, tạo ra cho lịch sử, cho xã hội những giá trị văn hoá cao đẹp và lâu dài.
          Vì vậy ta thử bàn đến những yêu cầu đổi mới văn nghệ ở tất cả các khâu, có thể có những yêu cầu chung nhất của tất cả các khâu:
          Trước hết và quan trọng nhất có lẽ phải là những quan điểm và quan niệm về bản chất của văn nghệ, về chức năng xã hội của văn nghệ và từ đó quan niệm về vai trò của văn nghệ. Phải khắc phục những quan niệm đơn giản, thiếu sót, phiến diện. Đó là quan niệm chỉ coi văn nghệ là chuyện phù phiếm mua vui, là cái gì có cũng được, không có cũng được, hoặc là cái gì chỉ cần đến khi đời sống vật chất đã no đủ. Đó là quan niệm coi văn nghệ chỉ là một thứ công cụ hoặc vũ khí, phương tiện để phục vụ mọi nhiệm vụ công tác khác trong cuộc sống và chỉ cần khi có các nhiệm vụ công tác phải hoàn thành. Vì vậy nên nhiều khi các cơ quan quản lý, các cấp lãnh đạo và cả xã hội thường đối xử với văn nghệ như đối xử với một cái gì đó phù phiếm, ít cần thiết như đối với một công cụ, một phương tiện. Thậm chí bản thân người văn nghệ sĩ nhiều lúc cũng cảm thấy mình có vai trò thấp kém trong xã hội, mình chỉ làm những việc mua vui và phục vụ các nhiệm vụ khác. Điều quan trọng là bây giờ phải quan niệm về vai trò văn nghệ đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đúng, văn nghệ trong nhiều trường hợp đã là và vẫn sẽ là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Nhưng văn nghệ không phải chỉ có thế. Văn nghệ có đời sống sâu sắc hơn, cao rộng hơn, đó là đời sống tinh thần của toàn xã hội, đó là những giá trị tinh thần của cả nhân loại tích luỹ từ nhiều đời, đó là sự sáng tạo tinh thần mạnh mẽ của con người. Văn nghệ luôn tạo ra những giá trị tinh thần mới vừa cao đẹp, vừa lâu dài trong cuộc sống con người. Và chính vì thế, văn nghệ là sự xây dựng, sự nuôi dưỡng tâm hồn con người, bản lĩnh và nhân cách con người, là một mặt quan trọng của quá trình sáng tạo ra con người ngày càng tốt đẹp hơn. Phải đối xử với văn nghệ như là đối xử với mặt đời sống tinh thần của xã hội, đối xử với những lực lượng sáng tạo tinh thần mạnh mẽ, với những thứ món ăn và thuốc bổ tinh thần để hoàn thiện con người. Người sáng tạo cần tự thấy vai trò của mình. Người quản lý, người phân phối thấy rõ vai trò của văn nghệ. Xã hội đối xử với văn nghệ cho đúng với vai trò vốn có của nó trong lịch sử, trên thế giới và đặc biệt trong thế giới xã hội chủ nghĩa chúng ta đang xây đắp và hoàn thiện. Then chốt hơn cả là lực lượng lãnh đạo phải là lực lượng hiểu biết điều này một cách sâu sắc và chính xác thì mới tác động toàn diện vào các mặt đổi mới của văn nghệ được. Quan niệm về bản chất và vai trò văn nghệ là quan niệm quan trọng đầu tiên, nhưng không phải là tất cả. Còn phải quan niệm cho rõ hơn, đầy đủ hơn về những đặc thù của lĩnh vực hoạt động văn nghệ. Đặc thù quan trọng nhất của văn nghệ là đặc thù tình cảm. Những sáng tạo phải có sức mạnh tình cảm, có sự nhạy bén về tình cảm, có sức cảm thụ thế giới và con người bằng những cảm hứng sâu sắc và độc đáo. Những tác phẩm nghệ thuật tác động vào con người cũng tác động nhiều nhất về mặt tình cảm, vì thế nó vừa mạnh, vừa sâu, vừa toàn diện, vừa vững bền. Đối xử với văn nghệ là đối xử với tình cảm. Người làm văn nghệ phải được bồi dưỡng và nâng cao tình cảm. Người đến với văn nghệ là đến với tình cảm. Một đặc thù khác là đặc thù sáng tạo, chỉ có sáng tạo mới được coi là nghệ thuật, sáng tạo phải mới mẻ, phải độc đáo, phải đa dạng. Nghệ thuật không thừa nhận sự bắt chước, sự lặp lại, sự sao chép, sự áp đặt, sự làm thuê. Vì vậy lao động sáng tạo là lao động đặc thù, là thứ lao động không phải bất cứ ai muốn làm cũng được. Lao động nghệ thuật là lao động của tài năng, của năng khiếu và sự rèn luyện công phu. Năng khiếu và rèn luyện là hai mặt không thể thiếu của tài năng nghệ thuật. Do đó tài năng là hiếm và quý và sản phẩm của nó cũng hiếm và quý. Đối xử với sản phẩm nghệ thuật tốt đẹp, phải là đối xử với những gì quý và hiếm. Đối xử với lao động nghệ thuật phải là đối xử với một thứ lao động đặc biệt vừa khó, vừa cao, vừa quý.
            Cũng chỉ là có những quan niệm như trên mới có những quan niệm mới mẻ và cơ chế đặc thù của sự quản lý văn nghệ, không thể cào bằng và bình quân, đồng loạt, như các thứ cơ chế khác trong xã hội. Cũng chỉ từ đó, mới có những quan niệm đúng đắn và linh hoạt về các thứ chính sách cụ thể của văn nghệ. Có thể còn phải bàn đến những vấn đề đã cũ nhưng cần có những quan niệm được đổi mới. Ví dụ như các vấn đề tính đảng, tính nhân dân, tính nhân loại, tính nhân đạo, tính giai cấp, tính dân tộc và mối quan hệ giữa các tính đó.
             Và từ đó còn phải bàn thêm các mối quan hệ như quan hệ chính trị và văn nghệ, kinh tế và văn nghệ, kinh tế trong văn nghệ, tính kinh tế của văn nghệ, và tính văn hoá trong các hoạt động kinh tế, phương hướng văn hoá của đất nước và phương hướng kinh tế của đất nước, v.v…
           Đặc biệt còn phải bàn thêm về sự đấu tranh giữa hai con đường trong văn nghệ, đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ, nghĩa là phải đấu tranh ngay trong những quan niệm về bản chất và vai trò văn nghệ, đồng thời còn phải đấu tranh chống những sản phẩm văn nghệ phản cách mạng, phản tiến bộ, phản dân tộc, phản nhân đạo đã và đang thâm nhập vào nhân dân ta bằng nhiều con đường. Cuộc đấu tranh này không thể thắng lợi bằng những phương thức đấu tranh của chính trị, quân sự hay kinh tế. Cuộc đấu tranh này cũng phải giành thắng lợi bằng phương thức đặc thù của văn nghệ. Về văn nghệ, còn có cả cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái chân và cái giả, cái đẹp và cái xấu, … Đó cũng là cuộc đấu tranh nhiều mặt của cả xã hội.
           Chỗ nào cũng cần phải có những suy nghĩ về những quan niệm mới mẻ, quan niệm đúng đắn phù hợp với thời đại, phù hợp với sự phát triển – và như là “đổi mới tư duy” trong văn hoá văn nghệ.
             Đó là trách nhiệm của văn nghệ sĩ, trách nhiệm của trí thức nói chung, trách nhiệm của những cơ quan quản lý văn nghệ, trách nhiệm của toàn xã hội. Nhưng trước hết và cao hơn cả là trách nhiệm của cơ quan lãnh đạo.
            Cho dù trách nhiệm của lực lượng lãnh đạo có ý nghĩa quyết định thì đối với văn nghệ, trách nhiệm chủ yếu vẫn thuộc về chủ thể sáng tạo, các lực lượng văn nghệ. Các lực lượng văn nghệ phải tự nâng mình về mọi mặt từ nhân cách, tâm hồn đến khả năng lao động và phương thức hoạt động để có đầy đủ vốn liếng và năng lực tinh thần trong sáng tạo, phải cung cấp cho xã hội, cho nhân dân những sản phẩm xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ, phải có sức mạnh chinh phục được sự công nhận, sự ngưỡng mộ của nhân dân, là người làm chủ thật sự của sự nghiệp xây dựng con người, xây dựng bộ mặt tinh thần của xã hội, một sự nghiệp cao quý vô cùng.
Đây là một sự nghiệp khó khăn phức tạp và lớn lao. Nhưng với những tư tưởng lớn của Đại hội Đảng lần thứ VI, chúng ta đã có phương hướng rõ ràng, chúng ta có thể vững bước tiến lên!
        
          (Trích Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà Văn, 2012)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét