Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Đổi mới và dân chủ hoá


Xoay quanh việc đổi mới tư duy hiện nay có xuất hiện một số quan niệm lệch lạc. Có những người mượn “đổi mới tư duy” làm câu mở đầu để “trịnh trọng” khai mạc các hội nghị, giống như một thời nhiều người đã từng mượn câu “phát huy quyền làm chủ tập thể …” để vào đề câu chuyện ; biến đổi mới tư duy thành một thứ khẩu hiệu sáo rỗng, không có nội dung cụ thể. 


Một số người khác còn tuỳ tiện gán cho “đổi mới” những kết quả chẳng có gì liên quan đến nó; có những việc đã bắt đầu từ lâu, nay có kết quả lại quy cho “đổi mới”, làm như “đổi mới” là một phép thuật vạn năng. Điều đáng quan tâm ở đây là không được biến “đổi mới” thành một thứ “mốt” hay một “nhãn hiệu” dán lên các hoạt động xã hội, để rồi có người núp sau đó mà thực hiện các ý đồ thực chất là bảo thủ, trì trệ. Cũng không đúng khi chỉ nghĩ “đổi mới” là thay đổi tý chút, là thay đổi trật tự một chương trình nghị sự, v.v…
“Đổi mới tư duy” hiện nay là yêu cầu cấp bách của cách mạng, là đòi hỏi của quy luật phát triển của xã hội. Đại hội Đảng vừa qua đã đề ra những nhiệm vụ mới, đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có cách suy nghĩ mới, cách nhìn mới và phong cách làm việc mới để thực hiện thành công các nhiệm vụ đó.
Tư duy hiện nay phải được phát triển ở giai đoạn cao của quá trình nhận thức. Các suy luận, xét đoán phải dựa trên các dữ kiện có chọn lọc để đạt tới những kết luận và phán đoán chính xác. Tư duy phải vượt qua giai đoạn cảm tính thường chỉ dựa trên những sự việc rời rạc, vụn vặt và những kinh nghiệm cảm tính cá nhân. Lối tư duy cảm tính là một nét đặc trưng của con người ở thời đại tiền công nghiệp. Đổi mới tư duy chính là quá trình khắc phục những thiếu sót của lối tư duy cũ đó, xây dựng và phát triển tư duy lý tính, nhằm phát huy sức mạnh của trừu tượng khoa học, nắm bắt được bản chất của sự vật và hiện tượng, khám phá ra các quy luật vận động và phát triển của chúng. Đổi mới tư duy, do vậy, cũng phải đổi mới cách nghĩ. Cách nghĩ cũ là cách nghĩ chủ quan, duy ý chí, không xuất phát từ thực tế khách quan, bất chấp quy luật khách quan. Đó là cách nghĩ tủn mủn và trước mắt, là kiểu tư duy kinh nghiệm cảm tính của người nông dân cá thể vốn quen suy nghĩ chỉ trên thửa ruộng và mảnh vườn nhỏ hẹp của mình.
Trong Báo cáo chính trị Đại hội VI, có nói rõ:
“Muốn đổi mới tư duy, Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin”.
“Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy”.
Báo cáo còn nhấn mạnh : “Mỗi chúng ta, từ người lãnh đạo đến đảng viên thường, dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng cần kiểm tra lại nhận thức của mình, sớm lĩnh hội được những quan niệm mới, kiên quyết gạt bỏ những quan niệm sai lầm”.
Như vậy, đổi mới không phải là đi tìm cái gì “không cũ”, mà là phải đi tìm cái đúng. Muốn tìm được cái đúng, phải thấy rõ cái sai, phải tự phê bình và phê bình thật sự nghiêm khắc. Và điều đó chỉ có thể được làm tốt trên cơ sở thực hiện dân chủ hoá đúng đắn và đầy đủ.
Điều đầu tiên ở đây là, phải chỉnh đốn lại một số quan niệm, khái niệm trong các lĩnh vực chính trị - xã hội. Có những quan niệm ghi trên văn bản thì rất đúng, nhưng khi vận dụng trong thực tế lại bị sai lệch đi qua cách hiểu của người thực hiện. Ví dụ, quan niệm lấy dân làm gốc. Một số cán bộ trong thực tế hoạt động của mình đã coi dân là gốc và gốc là ở dưới, còn cán bộ là cành và ngồi lên trên cành đó mà ban phát ân huệ, hay như, nói đến vai trò con người, ai cũng thừa nhận là quan trọng, nhưng khi bàn tính và giải quyết trên thực tế các công việc lại đặt các yếu tố nhân, tài, vật lực ngang nhau, xem nhân lực ngang hàng với vật lực, không tính đến sức mạnh năng động chủ quan của con người. Ấy là chưa nói tới những trường hợp nhân lực còn bị đặt thấp hơn đáng kể so với vật lực và nhất là với tài lực. Một số người không chịu học tập, nghĩ sâu, suy kỹ, nên nhận thức hời hợt, phiến diện ngay về cả những khái niệm thông thường chẳng hạn như nói chủ nghĩa xã hội là nghĩ ngay đến sự phân phối bình quân, nói sản xuất lớn là nghĩ đến những nhà máy đồ sộ, những công trường rộng lớn mà ít quan tâm đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, v.v…
Có những quan niệm trước đây đã đứng trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, nay không thể đứng vững được nữa, đã lỗi thời. Vấn đề không đơn giản chỉ là phân tích cái gì là cũ, cái gì là mới, mà phải soát xét lại nội dung các khái niệm chính trị - xã hội thường dùng, phê phán thẳng thắn những mặt sai trong cách hiểu của mỗi người. Phải triệt để phê phán những quan niệm sai lầm và cũ kỹ, đồng thời xác định đúng đắn nội dung khoa học và cách mạng của những khái niệm và quan niệm cần thiết.
Với cách đặt vấn đề như vậy, ở đây, trong bài này, chúng tôi muốn tập trung đề cập tới những quan niệm, những cách hiểu chung quanh bốn bài học đã được nêu lên tại Đại hội Đảng mà mỗi người chúng ta cần quán triệt và áp dụng thật tốt trong toàn bộ hoạt động xã hội của mình.
1. Bài học lấy dân làm gốc :
Ông cha ta xưa kia đã có nhiều ý kiến rất hay về nhân dân, về lòng dân, sức dân. Lâu nay, chúng ta cũng đã quen dùng nhiều hợp từ : quan điểm quần chúng, đường lối quần chúng, phục vụ nhân dân, quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Có điều do ít quan tâm đến ý nghĩa của chúng, nên các thuật ngữ này nhiều khi trở nên mòn sáo. Nhất là các từ “nhân dân”, “phục vụ” thì thường bị lạm dụng quá nhiều : “hiệu sách nhân dân”, “nhà hát nhân dân”, “cửa hàng phục vụ ăn uống”, “phục vụ nước sôi hai đồng một lít”. Tưởng như chỉ cần gắn chữ “nhân dân” hoặc “phục vụ” vào công việc của mình đang làm là có thể yên tâm về tính chất tốt đẹp, xã hội chủ nghĩa trong công việc đó.
Có thể nói, mỗi cán bộ ta đều biết rằng bất cứ hoạt động nào của mình trong chủ nghĩa xã hội cũng đều phải vì dân và cho dân cả. Thế nhưng trên thực tế, trong bối cảnh Đảng cầm quyền, điều đó trong không ít trường hợp lại bị hiểu rất sai lệch là: cán bộ là cấp trên của dân, có nghĩa vụ “ban ơn”, “làm phúc” cho dân. Nhiều người có chức quyền làm việc gì cũng tưởng rằng “mình hết lòng vì dân”, và do vậy có thể ngủ yên trên cái trách nhiệm “vì dân” của mình ! Thực ra, để có quan niệm đúng về “dân làm gốc” thì phải đứng về phía nhân dân mà suy nghĩ và hành động theo phương châm “vì dân” và “cho dân”. Dân nói ở đây hiển nhiên là nhân dân lao động, bao gồm: công nhân, nông dân, trí thức và cán bộ nhân viên Nhà nước.
Mỗi người lãnh đạo cần ý thức sâu sắc rằng, mọi của cải và tài năng đều là sản phẩm của dân và do dân mà có. Người lãnh đạo phải là người biết tập hợp, tổng hợp, tổ chức và sử dụng những sản phẩm ấy sao cho đạt được hiệu quả xã hội cao, tức là có ích nhất cho dân. Đó là ý nghĩa thực chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của quyền làm chủ tập thể và cũng là ý nghĩa hàng đầu của câu “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”.
Phải phê phán và khắc phục mọi biểu hiện của tư tưởng “ban ơn”, “làm phúc” cho dân, đứng ở bên trên mà lo việc “vì dân”, mà ban phát ân huệ cho cấp dưới. Việc sử dụng các từ “quan tâm”, “chăm sóc” phải được chấn chỉnh sao cho đúng lúc, đúng chỗ, tránh dùng tràn lan và giả dối. Những thành tựu của một hoạt động nào đó có được là do công sức lao động của nhiều người, do sức lao động ấy được tổ chức và điều hành tốt, chứ không phải là do sự quan tâm hoặc “chăm sóc” của một “đấng” nào đó ở trên!
Bác Hồ và nhiều lãnh tụ ta có lòng thương dân cao cả. Đó là điều rất quý. Song thật là không nên khi bất cứ cán bộ lãnh đạo nào cũng có thể tự ví mình như lãnh tụ để tuỳ tiện ban phát cho dân những “quan tâm” cùng “chăm sóc”.
Người cán bộ “vì dân” là người phải thường xuyên gần gũi nhân dân, hiểu biết tâm tư, nguyện vọng và nhu cầu của từng con người trong nhân dân, phải thực sự tôn trọng nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là mục tiêu quan trọng hàng đầu mỗi khi tiến hành các nhiệm vụ của cách mạng. Xưa kia các bậc đại trí từng kêu gọi nhà vua nên thương dân, khoan dân, nới sức dân, chăm lo cho dân, song điều đó đã diễn ra trên nguyên tắc vua là bề trên tuyệt đối, là con trời, là cha mẹ của dân. Còn nay nếu chúng ta cũng “vì dân” theo kiểu như vậy thì quả là ngược lại với phẩm chất cộng sản của người đảng viên, cán bộ và trở thành “quan cách mạng”. Đấy là điểm khác nhau cơ bản giữa tinh thần “dân vi bản” của thời đại phong kiến với tư tưởng “lấy dân làm gốc” của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày nay.
2. Bài học tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Có thể nói, nêu lên bài học này, về thực chất, Đảng ta đòi hỏi mỗi cán bộ phải nhạy bén và nhạy bén hơn với thực tiễn nhất là thực tiễn cách mạng nước ta đang diễn ra cực kỳ sinh động và phong phú, phải theo dõi để nắm bất cứ các quy luật khác nhau và dựa vào đó mà tổ chức hành động. Nói gọn lại, cán bộ ta phải có tư duy khoa học. Sự hiểu biết nông cạn và những quan niệm thiếu chính xác đã chi phối nhiều mặt công tác của chúng ta. Nói về chủ nghĩa xã hội mà lại nghĩ đến chủ nghĩa bình quân, còn nói về thời kỳ quá độ thì tưởng rằng đó là một xã hội không còn bóc lột, không có mâu thuẫn đối kháng, mọi quan hệ xã hội đều tốt đẹp, theo kiểu người với người là bạn, ngược lại, có ý kiến lại cho là một thời kỳ phức tạp còn có đấu tranh gay go, phải “đấu tranh giai cấp”, và cái gì và ở đâu cũng phải “đấu tranh giai cấp”. Trong xây dựng kinh tế thì duy ý chí, nôn nóng, muốn xây dựng nhanh và có kết quả ngay, kết cục là do thiếu điều tra, nghiên cứu, không nắm vững quy luật khách quan, nên không những không vận dụng tốt được quy luật mà còn gây ra phản tác dụng.
Trong lãnh đạo sản xuất, chẳng hạn, chúng ta đã từng say sưa tung ra những khẩu hiệu mang đầy tính chất cổ vũ tốt đẹp như “nghiêng đồng đổ nước ra sông”, “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” … nhưng cũng không ít khẩu hiệu mang đầy tính chủ quan duy ý chí. Sau một thời gian theo dõi, thấy khẩu hiệu hành động chưa đem lại kết quả mong muốn, khi ấy người lãnh đạo nên thêm các từ, như “quyết tâm”, “triệt để”, “ra sức”, “khẩn trương”, … vào các khẩu hiệu cũ, tưởng làm như thế là đổi mới được hoạt động và gia tăng nổi sức mạnh. Những tình hình tương tự như vậy trên các lĩnh vực khác nhau không những không đưa lại được kết quả mong muốn, mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân.
Để đổi mới tư duy, phải biết phân tích tình hình một cách sâu sắc, tôn trọng các sự thật phổ biến trong đời sống thường ngày, tìm hiểu thấu đáo những nhu cầu, nguyện vọng sâu xa của nhân dân, hết sức tránh lối truy chụp và áp đặt chủ quan trong đánh giá. Do vậy đổi mới tư duy gắn bó chặt chẽ với dân chủ hoá. Cần thực hiện dân chủ hoá thật sự trong việc xác định các chủ trương, chính sách, bỏ lối làm hình thức chủ nghĩa, ưa thích tán tụng ưu điểm, thành tích, trên khen ngợi dưới, dưới tâng bốc trên, không dám lật ngửa vấn đề để nhìn thẳng tìm ra sự thật.
Trong công tác tổ chức cán bộ lại càng nhất thiết phải tôn trọng sự gắn bó của đổi mới tư duy với dân chủ hoá. Khi đánh giá cán bộ, không nên xem xét theo lối cộng trừ ưu điểm và khuyết điểm, cần nhìn nhận cán bộ như một con người sinh thể xã hội mang trong mình những giá trị văn hoá lịch sử phong phú và đa dạng. Đồng thời phải chú ý lắng nghe đầy đủ ý kiến của quần chúng, rồi tổng hợp và phân tích để tìm ra những nhân tố cốt lõi. Phải khắc phục quan niệm thô thiển về tập trung dân chủ, coi dân chủ chẳng qua chỉ là tổ chức hỏi ý kiến quần chúng qua loa hoặc tổ chức thăm dò dư luận có chủ định trước theo kiểu “mớm cung” cho người được hỏi, còn tập trung là dành quyền để cấp trên quyết định, hoặc như kiểu gò ép, áp đặt trong bầu cử. Cần hiểu rằng tập trung dân chủ thực chất có nghĩa là những quyết định của tổ chức, của cơ quan, của lãnh đạo phải phản ánh được trí tuệ và nguyện vọng của nhân dân, của tập thể, nhờ đó có được sức mạnh của sự nhất trí giữa cơ quan lãnh đạo và quần chúng, tránh được tình trạng những quyết định của cấp trên xa rời ý kiến và nguyện vọng của cấp dưới, hoặc tệ hơn nữa là ngược lại với ý kiến và nguyện vọng của cấp dưới hay của nhân dân.
Cần tổ chức tốt việc nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc và sâu sắc về sự lãnh đạo dân chủ hoá, về chế độ tập trung dân chủ trong quản lý và điều hành công việc.
Phải biết tin và đồng thời biết thuyết phục quần chúng, khắc phục triệt để thói coi thường trình độ và ý kiến của quần chúng. Cần đề cao cảnh giác cách mạng, nhưng không nên vì thế mà “trông gà hoá cuốc”, quy kết tràn lan, chỗ nào cũng thấy địch, dẫn đến những hậu quả tai hại đôi khi không lường nổi.
Tóm lại, để có tư duy khoa học, phải tạo ra bầu không khí thật sự dân chủ trong mọi sinh hoạt chính trị xã hội. Người lãnh đạo cần có thái độ cởi mở và vui vẻ thấy mình được nâng lên, được giàu thêm khi nghe những ý kiến khác với ý kiến của mình. Người lãnh đạo phải tự đánh giá đúng bản lĩnh và nhân cách của mình, không thể lấy chức vụ, cấp bậc che đậy những thiếu sót của mình hoặc tiến hành những quyết đoán tuỳ tiện. Điều cốt lõi để thực hiện đổi mới chính là dân chủ hoá.
3. Bài học kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại
Trước hết cần xem xét truyền thống dân tộc một cách khoa học, xác định những mặt tích cực và tiêu cực trong các truyền thống đó. Cần khắc phục các quan điểm dân tộc hẹp hòi, tự mãn và tự ti dân tộc, tôn thờ truyền thống một cách mù quáng và cố chấp. Mặt khác cần thấy rõ tính chất phong phú, hiện đại của các giá trị văn hoá – tinh thần xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã tìm thấy trong truyền thống của dân tộc không ít những giá trị tinh thần tốt đẹp, cần được phát huy, xét từ góc độ lợi ích của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chữ thời đại cũng cần được hiểu một cách toàn diện. Nội dung của nó không phải chỉ bao hàm các mặt chính trị, kinh tế, mà còn cần tính đến một nội dung quan trọng là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang phát triển cực kỳ mạnh mẽ. Những thành tựu mới trong tự động hoá, điều khiển học, tin học, xã hội học, văn hoá học, kinh tế học, tâm lý học, khoa học quản lý, … cần được nhanh chóng vận dụng trong công tác lãnh đạo. Cũng không nên chỉ thấy ý nghĩa thời đại ở các khoa học tự nhiên và ở sự phát triển của kỹ thuật, mà phải thấy cả những thành tựu trong khoa học xã hội, trước hết ở các nước thuộc cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, cũng cần quan tâm đến những thành tựu khoa học xã hội nảy sinh từ các nước không xã hội chủ nghĩa, những thành tựu ấy có thể góp phần hoàn thiện nền khoa học của chủ nghĩa xã hội.
Với cách hiểu thời đại như trên, cần coi trọng việc tổ chức thông tin khoa học, phải cởi mở trong việc tiếp nhận thông tin. Phải biết quý trọng và khai thác chất xám của dân tộc, đồng thời mở rộng cửa đón nhận mọi tinh hoa của nhân loại.
Phải tạo ra bước ngoặt trong việc học tập và vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lê-nin với yêu cầu là nâng cao sức hấp dẫn của việc giảng dạy môn học này. Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục khi học tập, nghiên cứu thông qua tranh luận, so sánh, đối chiếu, đưa lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin ra cọ xát mạnh mẽ và rộng rãi với các lý thuyết khác và với cuộc sống thực tiễn sinh động. Phải khắc phục lối học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ bằng cách trích dẫn và răn dạy.
4. Bài học xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ hiện tại
Về bài học này đã có nhiều đồng chí phát biểu, ở đây chỉ xin đề cập đến đôi điểm. Trước hết, trong quan niệm về đảng viên, nên đặt vấn đề bản lĩnh và nhân cách đảng viên hơn là quy vào đức và tài, hoặc phẩm chất năng lực. Bản lĩnh và nhân cách đảng viên cũng không nên quy thành những tiêu chuẩn cứng nhắc. Phải hiểu các tiêu chuẩn đảng viên ghi trong điều lệ một cách toàn diện và biện chứng, vừa khoa học vừa thực tế. Cần quan tâm đến hiệu quả và chất lượng của sinh hoạt đảng, làm cho sinh hoạt đảng có ý nghĩa thiết thực và sâu sắc, chứ không phải chỉ thảo luận những vấn đề thuộc phạm vi sinh hoạt.
Trong công tác lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, cần xây dựng chế độ làm việc có kế hoạch cụ thể, thực sự dân chủ khi đề ra các chủ trương công tác và quyết định công việc theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Cần quan tâm xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ và khoa học, trên cơ sở của tư tưởng “lấy dân làm gốc” và thật sự tôn trọng quy luật khách quan.
* * *
Tóm lại, để đổi mới tư duy trước hết phải chấn chỉnh lại hàng hoạt khái niệm chính trị - xã hội, làm cho chúng có nội dung cụ thể và chính xác. Quá trình đổi mới tư duy và quá trình làm cho tư duy của chúng ta bắt kịp và có thể dự đoán được sự phát triển của hiện thực khách quan đang diễn ra sinh động trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Đổi mới gắn liền với dân chủ hoá, dân chủ hoá là điều kiện để thực hiện đổi mới và đổi mới giúp cho quá trình dân chủ hoá ngày càng sâu sắc hơn. Có thể xem đây là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá phẩm chất cách mạng của người đảng viên cộng sản trong giai đoạn hiện nay.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đảng lần thứ VI có đoạn viết: “Đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước là việc cấp bách, đồng thời là việc thường xuyên, lâu dài. Tính bảo thủ, sức ì của những quan niệm cũ là trở ngại không nhỏ, nhất là những quan niệm ấy lại gắn chặt với những người mang nặng chủ nghĩa cá nhân và đầu óc thủ cựu. Cần tạo những điều kiện xã hội thuận lợi cho quá trình đổi mới tư duy: bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là trong sinh hoạt đảng, trong nghiên cứu khoa học, tinh thần tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lý, hệ thống thông tin chính xác, phê bình và tự phê bình được tiến hành một cách thường xuyên và nghiêm túc, v.v… Điều quan trọng là coi trọng công tác lý luận nhằm cung cấp nội dung khoa học cho việc đổi mới tư duy” (Tạp chí Cộng sản số 1/1987, số đặc biệt về Đại hội VI của Đảng, trang 79).
Có thể nói đổi mới và dân chủ hoá là hai mặt gắn bó biện chứng của quá trình vận động cách mạng đang diễn ra sôi nổi và rộng khắp trên đất nước ta hiện nay.

(Trích Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà Văn, 2012) 

1 nhận xét: